NuocNga.Net

Page Loading... please wait!



This page still doesn't show? Click here
 
Trang chủTrang chủ    Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Danh sách thành viênDanh sách thành viên   Nhóm làm việcNhóm làm việc Ban quản trịBan quản trị   Đăng kýĐăng ký 
 Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắnTin nhắn   Đăng nhậpĐăng nhập 
HỒ SƠ THẾ CHIẾN THỨ HAI - 1941
Tới trang trước  1, 2, 3  tiếp
 
Gửi bài mới   Trả lời cho chủ đề   printer-friendly view    NuocNga.Net -> Hồ sơ chiến tranh thế giới
Chủ đề phía trước :: Chủ đề kế tiếp  
Tác giả Nội dung bài viết
nthach1
Thịt nướng Nga - Шашлык
Thịt nướng Nga - Шашлык



Tham gia từ: 12 Dec 2006
Bài viết: 265

GửiGửi: 28-May-2007 11:25 am    Tiêu đề:  Re: HỒ SƠ THẾ CHIẾN THỨ HAI - 1941
Trả lời kèm trích dẫn

Các cuộc chiến trên thành phố Leningrad 1941

I. Cuộc phòng thủ đảo Hanko (22.06.41-02.12.41)

Cuộc phòng thủ trên bán đảo Hanko 22/6/1941-12/1941, là trận chiến do hạm đội Baltic của Xô Viết thực hiện với mục đích để phòng vệ cho vịnh Phần Lan và ngăn chặn sự tấn công vào Leningrad, Một căn cứ lực lượng đồn trú hải quân (27 ngàn binh sĩ), pháo phòng không và chống ven biển (35 khẩu 305 ly). các phi đội (20 máy bay), 7 chiến hạm, 16 tàu phụ trợ. Sau khi Tallin thất thủ, bộ tư lệnh tối cao Xô Viết đã quyết định di chuyển từ ngày 23/10/1941 đến 5/12/1941 toàn bộ 22 ngàn binh sĩ từ bán đảo Hanko và tất cả vũ khí, khí tài đến Leningrad.

http://lenbat.narod.ru
Trở về đầu trang
nthach1 is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn
[ IP : Logged ]
nthach1
Thịt nướng Nga - Шашлык
Thịt nướng Nga - Шашлык



Tham gia từ: 12 Dec 2006
Bài viết: 265

GửiGửi: 05-Jun-2007 3:01 pm    Tiêu đề:  Re: HỒ SƠ THẾ CHIẾN THỨ HAI - 1941
Trả lời kèm trích dẫn

Các cuộc chiến trên thành phố Leningrad 1941

II. Trận đánh với Phần Lan.


22/6/1941, khi quân Đức tấn công Liên Xô, Phần Lan tuyên bố trung lập, nhưng Nga vẫn thực hiện các cuộc không kích vào các tàu chiến của Phần Lan. Lãnh thổ của Phần Lan bị ném bom tại căn cứ Hanko và một vài địa điểm trên biên giới Nga - Phần Lan. Trong thời gian này, một số các hoạt động quân sự khác như: quân Đức và tàu chiến Phần Lan đánh thủy lôi vào vịnh Phần Lan, Máy bay Đức không kích xuống đảo Hanko.
Bất chấp các sự chuẩn bị của lực lượng quân đội tại Phần Lan. Vào ngày 25/6/1941, 480 máy bay Xô Viết vẫn tiến hành oanh tạc xuống các thành phố và các sân bay của Phần Lan. Quyết định của phiên họp quốc hội vào buổi chiều cùng ngày, các nghị sĩ đã công khai tuyên bố rằng: Liên Xô xẽ bắt đầu triển khai các cuộc tấn công như trong (cuộc chiến Mùa đông), tất cả bang giao quân sự với Đức sẽ bị bãi bỏ.
Bắt đầu cuộc chiến, bốn sư đoàn lính Đức đã đổ bộ vào Lapland. Hai sư đoàn hành quân từ phía bắc Norway đến khu vực Petsamo , một từ phía bắc Norway đóng tại Salla và một đổ bộ theo đường biển từ Đức vào Salla. Ngoài ra, sư đoàn 163 chuyển quân bẳng tàu hỏa từ Oslo qua Thụy Điển vào Honko,
Với sự gia tăng của lực lượng quân đội Phần Lan lên đến 16 sư đoàn. Ban tham mưu được đặt tại Mikkeli. Tập đoàn quân mạnh nhất của Phần Lan (7sư đoàn) đã xắp sếp thành đội quân "Karelian" tại khu vực Yonsu, Binh lính Đức tại Lapland được chuyển đến Rovaniemi. Quân đoàn 3 Phần Lan ở Kuusamo chuyển dưới quyền chỉ huy của quân đội Đức.
Không phụ thuộc vào quân đội Phần Lan, một quân đoàn Đức do tướng Dietl chỉ huy, có nhiệm vụ bắt đầu hành quân đóng giữ tại vùng kinh tế quan trọng Petsamo thuộc lãnh thổ Phần Lan và phòng vệ nó khỏi các cuộc tấn công của nước Nga. Khi đó ông ta cũng chiếm được Murmansk nhưng nó chỉ là một hải cảng của Nga ở Arctic Ocean
Đồng thời, sáu sân bay của Phần Lan (Helsinki, To utti, Tikkakoski, Rovaniemi, Kemiyarvi, Petsamo) đã được phi đội không quân số 5 Đức trưng dụng. Các lực lượng hải quân Đức quá rệu rão đành phải quay về căn cứ, còn các lực lượng không quân chỉ kiểm soát trên bầu trời Lapland.
Ngày 22/6, Quân đoàn của tướng Đức -Dietl tiến đến biên giới Norway – Phần Lan và chiếm giữ khu vực Pechenga mà không gặp một sự kháng trả nào của quân Nga. Trước khi cuộc đánh chiếm Murmansks bắt đầu, một vài lực lượng của Phần Lan cũng ra tham chiến.

Bộ phận quân lực chính của Phần Lan được tổ chức lại thành một sư đoàn. Số còn lại do SS nắm giữ, có nhiệm vụ chiếm giữ Salla và tiến đến Kandalaksha để chia cắt tuyến đường sắt Murmansk. Cả hai quân đoàn Đức đều thuộc về quân đội "Norway" và chịu sự chỉ huy của đại tá tham mưu Von Fal'kengorst. Các lực lượng cơ bản của quân đội Phần Lan tập trung thành hai quân đoàn đóng tại phía đông nam Phần Lan với mục đích quay sang tấn công các vị trí trọng yếu của nước Nga trong mùa xuân 1940, phối hợp tác chiến với quân đoàn phía Bắc của Đức để tiến đánh cả hai mặt trên vùng hồ Ladoga.
Quân đội của Đức và Phần Lan bắt đầu hành quân từ lãnh thổ Phần Lan không cùng một thời điểm. Ngày 29/6, quân đoàn súng trường tiến quân rất nhanh từ phía bắc, chỉ sau vài ngày đã đi được 30-40Km. Nhưng khi đó đội quân này đã gặp sự kháng cự rất mạnh mẽ của quân đội Xô Viết và phải chuyến quân qua các vùng lãnh nguyên hoang vắng đầy sỏi đá nên quân Đức đã gần như kiệt sức. Do vậy cuộc tấn công của quân đoàn Dietle buộc phải dừng lại cách khá xa với sông Zapadnaya Litsa. Quân đội Nga trong lúc này đã đổ bộ và tấn công vào phía sau quân địch,

Quân đồng minh Anh cũng tham chiến trợ giúp: Các phi cơ của họ bắt đầu cất cánh từ các hàng không mẫu hạm, oanh tạc xuống Petsamo và các điểm trọng yếu chuyên tiếp tế của quân đội Đức tại cảng Kirkenes.
Ngày 8/9 quân đoàn của Dietl lại mở một cuộc tấn công mới và tiến đến sông Zapadnaya Litsa, nhưng đến được Murmansk vẫn còn 50 Km đường chim bay. Trận chiến dai dẳng đã nhanh chóng phát triển rộng khắp tất cả các mặt trận, nó đòi hỏi một áp lực tối đa cho các lực lượng tiền duyên, nó không cho phép quân đoàn súng trường của Đức có đủ thời gian để củng cố lại lực lượng. Hơn nữa nó cần có một nguồn tiếp tế to lớn cho quân Đức mới chỉ tại bắc Phần Lan. Với nhiều lý do như vậy Murmansk không bị chiếm đóng trong thời gian chiến tranh.
Ngày 1/7/1941 Quân đoàn 36 của Đức( Sư đoàn SS Nord thứ 169 và sư đoàn thứ 6 Phần Lan) bắt đầu tấn công vào khu vực Salla và có ý định đánh phá tuyến đường sắt Murmansk. Quân đoàn 3 cắt ngang biên giới tại Uhtua. Quân đoàn 36 của Đức cũng gặp những trở ngại không nhỏ với sự cố gắng vượt qua trận chiến tại Salla. Quân Đức bắt đầu tấn công tại đây phải triến khai đội hình qua một khu rừng rộng lớn với rất nhiều hồ nước và đầm lầy. Do vậy các khu vực này trở thành một vành đai phòng thủ rất lý tưởng và nó bắt buộc quân Đức cần phải tìm cách tránh né hoặc phải vòng sang hướng khác trong cuộc hành binh, rất không thuận tiện và làm hao tổn rất nhiều thời gian của quân Đức hòng bẻ gãy các cuộc kháng trả của Hồng quân Liên Xô. Sư đoàn SS Nord đã thực hiện một cuộc công kích ngay trên các vị trí của mặt trận Xô Viết tại Salla trong khi đó sư đoàn bộ binh 169 cùng tấn công bên sườn phía bắc của chúng, sư đoàn số 6 Phần Lan đã tiến sâu vào phía sau sư đoàn súng trường số 122 của Xô Viết tại Allakurtti từ sườn phía nam. Ngày 5/7/1941 quân Đức đóng trại tại Salla. Trung đoàn bộ binh số 14 Phần Lan được cử sang trợ giúp. 7/7/1941 quân Đức chiếm giữ Salla và gần như đã kiệt sức. Sư đoàn số 14 đánh chiếm Repola và Omelia, Đức đã điều động sư đoàn SS Nord vào quân đoàn số 36, sư đoàn số 169 và sư đoàn số 6 Phần Lan đánh phá tuyến đường sắt Murmansk tại một thị trấn Kem trên bờ vùng biển Trắng (White Sea). Sư đoàn số 122 Hồng quân Liên Xô và các lực lượng khác đã chống trả quyết liệt trong các trận đánh tại Salla và Kairala. Tuy nhiên, thời gian trong các trận chiến dữ dội diễn ra một cách rất chậm chạp, nhưng đến cuối tháng tám quân Đức đã chiếm giữ được đường biên cũ của Nga – Phần Lan và tiến sâu thêm 40 Km nữa vào Kandalaksha, khi đó cuộc tấn công của quân Đức và Phần Lan mới chấm dứt. Quân Đức dừng cuộc tấn công tại sông Verma và đóng giữ tại đây đến tận tháng 10/1944



Tình hình của quân đoàn Phần Lan tại Louhy không lấy gì làm sáng sủa. Với sự giáng trả kiên cường của Hồng quân, nên chúng không thể tiến thêm được vào thành phố Uhta. Kestenga trở thành vị trí trọng yếu nơi mà quân Đức và Phần Lan cố gắng để đánh chiếm hòng phá hủy tuyến đường sắt Murmansk, ở đây không phải là địa điểm chính để cắt tuyến đường sắt, nhưng nó thuận tiện để đánh chiếm hơn. Trận chiến dù sao cũng bị đình trệ sau khi quân đoàn 3 thực hiện công kích vào tháng 7-8/1941 (Đội quân J của Phần Lan và sư đoàn SS Nord của Đức), binh lính địch rất kiệt sức và không thể tiến thêm được nữa.
Ngày 30/6/1941, Mannerheim (thống soái Phần Lan) thành lập một tập đoàn quân mang tên "Karelian" để tổ chức tấn công vào phía bắc Karelia. Tập đoàn quân này gồm hai quân đoàn, (QĐ 6 và QĐ 7) và đội quân O gồm có 5 sư đoàn, một lữ đoàn Jaeger cùng một lữ đoàn kỵ binh. Ngoài ra còn có một sư đoàn số 163 quân dự bị của Đức cũng biên chế vào tập đoàn quân này. Các lực lượng chính của quân đội Phần Lan có ý định tiến đến hai bên bờ hồ Ladoga đi thẳng hướng phía bắc của vùng hồ này, tiến quân đến hồ Onega, sau đó triến khai đội hình ở giữa hai vùng hồ tại sông Svir và tại ranh giới này chúng sẽ tổ chức tấn công tổng lực vào Leningrad.
Ngày 10/7/1941 Tập đoàn quân "Karelian" bắt đầu triển khai một cuộc tấn công đầu tiên với quy mô lớn, với ý đồ chọc thủng phòng tuyến tại Korpiselka và bẻ gãy hàng rào phòng thủ của Hồng quân Liên Xô tại phía bắc hồ Ladoga. Korpiselka đã từng là phòng tuyến đầu tiên bị sư đoàn số 5 thuộc quân đoàn số 6 Đức phá vỡ trong cuộc chiến vào mùa hè năm 1941. Sau trận chiến dữ dội ngày 21/7, quân Phần Lan đã chọc thủng cánh phải của Salmy tại phía đông bờ hồ Ladoga, ngày hôm sau biên giới cũ Nga – Phần Lan bị chiếm giữ. Ngày 26/7, Petrozavodsk tại phía tây bờ hồ Onega cũng thất thủ.
Quân đội Nga vẫn tiếp tục bền bỉ giữ vững tình thế ở phía sau quân Phần Lan tại Suoyarve và phòng ngự vững cánh phải hồ Yanisyarve. Ngày 8/8/1941, quân đoàn số 1 (các sư đoàn số 2, số 7, số 19) đã tổ chức đánh phá vòng vây của Hồng quân Liên Xô tại hồ Ladoga. Ngày 15/8/1941, sư đoàn số 7 Phần Lan đánh chiếm thị trấn Sortavala, hai sư đoàn số 168, 198 của Hồng quân Liên Xô bên trong thị trấn phải rút lui vào hạ tuần tháng 8/1941 sau khi đã chiến đấu rất mãnh liệt trên các vùng bờ hồ Ladoga. Họ phải di quân trên các xà lan chở qua hồ để vào Leningrad và bỏ lại tất cả các trang thiết bị, khí tài hạng nặng ở lại.
Quân đội Nga đã chiến đấu rất mãnh liệt trên eo đất Karelian, phòng ngự các cuộc tấn công vào Leningrad. Ngày 29/8/1941, sư đoàn bộ binh số 18 và số 12 Phần Lan tấn công vào phía sau hàng phòng thủ của Hồng quân, hai sư đoàn Xô Viết divisions (số 43 và số 123) bị thất bại nặng nề cùng tất cả các laọi vũ khí hạng nặng đều rơi vào tay quân địch. Cuối tháng 8/1941 quân Phần Lan chiếm giữ toàn bộ khu vực.
Ngày 4/9/1941 quân đội Phần Lan tiếp tục đánh chiếm từ phía nam. Chiếm giữ thành phố Beloostrov. Ngày 5/9, thành phố Olonets thất thủ, trong hai ngày quân Phần Lan đã đến được sông Svir. Ngày 12/9 chúng chiếm được Podporogye.
Phần Lan có tham vọng kiểm soát toàn bộ các khu vực trước khi tiến đến hàng phòng thủ tại phía đông Kareliya đẻ đóng chặt đường biên phía đông. Sau cuộc tấn công của quân Phần Lan tại mùa hè và mùa thu năm 1941, bộ tư lệnh tối cao Phần Lan đã cố gắng giảm bớt hợp tác với quân đội Đức, do đó các cuộc chiến giữa Phần Lan và Liên Xô là một cuộc chiến rất riêng biệt. Về phía Phần Lan trong cuộc đàm phán tại Mikkeli ngày 4/9/1941 đã công khai tuyên bố không đồng ý với mục đích đánh chiếm Leningrad.
Các cuộc tấn công của Đức giảm bớt đã gây ra không ít ngạc nhiên trên mặt trận Karelian. Ngày 4/9 khi quân Đức tiến đến gần phía nam Leningrad đã bắt đầu tràn đến sông Svir và chiếm giữ được nó trong 3 ngày tại khu vực Lodeynoye. Chúng hy vọng sẽ sớm sát nhập với các lực lượng khác của quân Đức sẽ từ hướng đông tràn vào phía nam vùng hồ Ladoga. Thay vì thế, ngày 26/9 bộ tư lênh Đức đã gửi cho quân Phần Lan một yêu cầu khẩn cấp tiếp tục gây sức ép vào quân đội Nga trên khu vực sông Svir, Quân Phần Lan chiếm giữ Petrozavodsk ngày 1/10, ngày 4/10 quân đội Phần Lan sau khi tấn công dữ dội vào sư đoàn số 141 Xô Viết và đã thành lập các vị trí phòng thủ giữa vùng hồ Ladoga và hồ Onega phía trước sông Svir.



Gần Salla (nam Phần Lan) - quân Phần Lan

Trên mặt trận Murmansk


http://lenbat.narod.ru


Chỉnh sửa lần cuối bởi nthach1 vào lúc 09-Aug-2007 12:23 pm, trong tổng số 1 lần chỉnh sửa
Trở về đầu trang
nthach1 is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn
[ IP : Logged ]
nthach1
Thịt nướng Nga - Шашлык
Thịt nướng Nga - Шашлык



Tham gia từ: 12 Dec 2006
Bài viết: 265

GửiGửi: 06-Jun-2007 10:10 am    Tiêu đề:  Re: HỒ SƠ THẾ CHIẾN THỨ HAI - 1941
Trả lời kèm trích dẫn

Các cuộc chiến trên thành phố Leningrad 1941
III. Bảo vệ đảo Moonzun (07.09.41-22.10.41)
Trận đánh này của lực lượng quân đội và hải quân Xô Viết với mục đích ngăn chặn các hành động quấy nhiễu của các hạm đội Đức tại Riga và vùng vịnh Phần Lan.
Đảo Moonzun rất có sức hấp dẫn về vị trí địa lý chiến lược vô cùng thuận tiện cho nên đã thu hút sự chú ý của quân Đức. Nó bao bọc lối vào các vùng vịnh của Riga và Phần Lan, vùng biển có thể tiếp giáp được với các trung tâm công nghệ, chính trị lớn nhất phía tây bắc Liên Xô đến Leningrad, Tallin, Riga. Nếu không kiếm soát được hòn đảo này, hải quân Đức không thể trợ giúp cho quân đội của họ đổ bộ trong các chiến dịch tấn công ở Pribaltic. Mặt khác, những hòn đảo đó là vị trí chiến lược quan trọng của Liên Xô trên vùng biến Baltic. Các lực lượng của hạm đội Baltic bố trí trên đảo có thể kiểm soát tình hình chiến sự khá cao, ngoài ra nó cũng là một phần phía nam của chính trường vùng biển Baltic.
Trong thời điểm quan trọng của các trận đánh trên các đảo, binh sĩ trong các đơn vị đồn trú của quân đội Xô Viết lên đến 23.663 người. Đóng trên đảo Sarema và trấn giữ Muhu, một lữ đoàn súng trường độc lập, một tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn súng trường Estonia, hai tuyến phòng thủ ( 18.615 người). Các đảo Hiuma và Vormsi được trấn giữ bởi hai tiểu đoàn súng trường và hai tuyến phòng thủ (5048 người)
Để phòng thủ, trên các đảo có trang bị 142 đại bác, pháo phòng không và pháo đối đất, 60 súng cối, 795 khẩu súng máy. Pháo ven biển gồm có 17 khẩu đội (chỉ có 54 khẩu từ 100 đến 180 ly)., Ngoài ra còn có 8 tàu phóng ngư lôi và 12 máy bay chiến đấu luôn túc trực để đề phòng các cuộc đột kích từ đường biển vào.
Thượng tuần tháng 9, quân Đức bắt đầu chuẩn bị các lực lượng trên không, trên biển và trên mặt đất cho chiến dịch đánh chiếm đảo, ngoài ra còn có các phương tiện để nhằm đột kích bằng đường biển vào đảo (Hơn 350 tàu thuyền các loại gồm: 26 phà tập kích, 182 tàu công kích, 140 thuyền). Binh lính tiến quân bằng đường bộ gồm có ba sư đoàn bộ binh, hai sư đoàn trong số đó sẽ trực tiếp tiến thẳng lên đảo, sư đoàn thứ ba sẽ chiếm giữ vùng bờ biển.
Cánh quân Đức đột kích bằng đường biển đổ bộ và trợ giúp trên bờ biển tập trung tại các cảng Libava, Riga và Pyarnu. Ngoài ra, trong thời điểm đột kích bằng đường biển (Chiến dịch “Gió bấc”), các tàu chiến của Phần Lan cũng được tăng cường kể cả hai chiến hạm phòng duyên.
Ngày 8/9, sau nhiều đợt pháo binh bắn phá dữ dội, quân Đức bắt đầu đổ bộ lên đảo Vormsi. Đơn vị đồn trú trên đảo gồm hai đại đội trang bị không đầy đủ và được tăng cường thêm quân tiếp viện từ đảo Hiuma, trong ba ngày đã kiên cường chống lại quân địch đông gấp bội, chỉ sau khi các cơ hội phòng thủ không thể trụ thêm được nữa, các chiến sĩ Hồng quân mới rút khỏi đảo Hiuma.
Sau khi đã đánh chiếm đảo Vorms và đảo Kessulide nơi mà chỉ có 16 chiến sĩ Hồng quân trấn giữ, quân Đức tiếp tục đổ bộ lên đảo Muhu. Trong các ngày 11-13/9, pháo binh và máy bay Đức liên tục gây sức ép lên các tuyến phòng thủ. Ngày 13/9 chúng đột kích vào vịnh Lyu. Các tàu phóng lôi, pháo đối biển và máy bay chiến đấu của Liên Xô đã công phá dữ dội ép buộc quân Đức phải nhanh chóng rút khỏi phía tây của vịnh Lyu. Vì vậy ba tàu vận tải của Đức bị đánh chìm tại đây.
Sáng hôm sau, quân Đức lại đổ bộ lên hai vị trí tại đảo Muhu. Đơn vị đồn trú trên đảo gồm hai tiểu đoàn súng trường thuộc trung đoàn súng trường số 79 và hai đại đội trang bị không đầy đủ đã giáng trả quyết liệt và kết quả một trong hai vị trí hoàn toàn bị phá hủy,
Cuộc chiến trên đảo Muhu đã ba ngày trôi qua và đến ngày 17/9, tình hình trên đảo Sarema đã lắng dịu
Quân Đức bắt đầu tấn công phá hủy đập ngăn nước và xuyên qua một eo biển. Chúng huy động một lực lượng mạnh hơn để đẩy dạt Hồng quân sang một bên và tiến thẳng đến phía nam bán đảo Kubassare, đến tận 23/9 vẫn diễn ra các cuộc đọ súng dai dẳng. Liên tiếp trong 6 ngày chiến đấu, quân đội Xô Viết đã suy yếu rất đáng kể. Cũng ngày 23/9 quân Đức rút quân lên tuyến phòng thủ Salme. Tại ranh giới này lực lượng Xô Viết giữ vững cho đến ngày 30/9 và sau đó rút lui về một vị trí trên bán đảo Syerve, nơi đây là ranh giới cuối cùng của tuyến phòng thủ trên đảo Sarema, tại đây quân đội Xô Viết cũng chỉ trụ lại được đến ngày 5/10/1941. 1500 binh sĩ cùng vũ khí và một số quân trang, đạn dược không đáng kể rời khỏi bán đảo và rút quân lên đảo Hiuma.
Ngày 12/10, quân Đức với sự trợ giúp của pháo binh và không quân, chúng đã đổ bộ ồ ạt lên đảo Hiuma.
Ngày 13/10, theo lệnh của bộ tư lệnh tối cao Xô Viết toàn bộ các lực lượng đồn trú tại đảo Hiuma được phép rút quân về đảo Hanko. Xế chiều hôm sau cuộc sơ tán bắt đầu, đến ngày 22/10 chỉ có 570 binh sĩ thoát ra được, các binh sĩ còn lại tiếp tục chiến đấu rất oanh liệt và toàn bộ đã anh dũng hy sinh
Trong cuộc chiến trên quần đảo Moozun, Hồng quân Liên Xô phối hợp với hải quân, pháo phòng duyên và không quân đã tiêu diệt hơn 26 ngàn lính Đức, hơn 20 tàu chiến và 41 máy bay địch.
http://lenbat.narod.ru


Chỉnh sửa lần cuối bởi nthach1 vào lúc 06-Jun-2007 11:37 am, trong tổng số 1 lần chỉnh sửa
Trở về đầu trang
nthach1 is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn
[ IP : Logged ]
nthach1
Thịt nướng Nga - Шашлык
Thịt nướng Nga - Шашлык



Tham gia từ: 12 Dec 2006
Bài viết: 265

GửiGửi: 06-Jun-2007 11:35 am    Tiêu đề:  Re: HỒ SƠ THẾ CHIẾN THỨ HAI - 1941
Trả lời kèm trích dẫn

Các cuộc chiến trên thành phố Leningrad 1941
IV Tuyến phòng thủ Tallin
Tuyến phòng thủ Tallin 5-28.8.41, phòng tuyến kiên cường của thủ đô Estonia và là một căn cứ hải quân chính trong thời gian WW II. Ngày 5/8, quân Đức tiến gần đến Tallin, ngày 8/8 chúng đến bờ biển của vịnh Phần Lan thuộc phía đông thành phố. Trong lúc này, một quân đoàn súng trường số 10 Xô Viết đang trấn giữ để bảo vệ thành phố, trong đó có một lữ đoàn súng trường độc lập và nhiều tiểu đoàn các lực lượng khác. Họ được yểm trợ bởi các tàu chiến, pháo phòng duyên, và hải phi cơ. Tallin chưa chuẩn bị được trước các công sự chiến đấu cùng với ba tuyến phòng thủ vẫn chưa thể sẵn sàng ứng chiến. Để đánh chiếm thành phố và MNB, quân Đức đã huy động đến 60 ngàn lính và ngày 20/8 chúng bắt đầu tiến hành công kích. Quân đội Xô Viết dưới sức ép của một lực lượng quân địch đông gấp bội nên đã phải rút về tuyến phòng thủ chính. Ngày 27/8 bất chấp sự kháng cự mãnh liệt của Hồng quân Liên Xô, quân Đức đã bẻ gãy tuyến phòng thủ và tiến đánh vào thành phố, các trận giao tranh trên đường phố đã xảy ra rất ác liệt. Thực hiện theo quyết định của bộ tư lệnh Xô Viết tối cao, lực lượng hải quân nhận lệnh di chuyển binh sĩ và tổng bộ hải quân tại thành phố Kronstadt và Leningrad. Dưới sự yểm trợ của pháo phòng duyên, các lực lượng bắt đầu xuống tàu, ngày 28/8 đã có 20,5 ngàn binh sĩ đến Tallin
http://lenbat.narod.ru
Trở về đầu trang
nthach1 is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn
[ IP : Logged ]
nthach1
Thịt nướng Nga - Шашлык
Thịt nướng Nga - Шашлык



Tham gia từ: 12 Dec 2006
Bài viết: 265

GửiGửi: 07-Jun-2007 1:49 pm    Tiêu đề:  Re: HỒ SƠ THẾ CHIẾN THỨ HAI - 1941
Trả lời kèm trích dẫn

Các cuộc chiến trên thành phố Leningrad 1941
V. Chiến dịch phòng thủ Tikhvin (16.10.41-18.11.41)
Mặc dù tình hình vô cùng nặng trọng, ý định phòng thủ Leningrad không chỉ chống lại các cuộc công kích của kẻ thù mà còn cần bảo vệ thành phố không thể rơi vào tay quân địch. Khi đó quân Đức muốn siết chặt vòng vây xung quanh thành phố từ hướng đông nam, kết hợp với lực lượng quân Phần Lan đến dánh chiếm phía đông Ladoga.
Để thực hiện ý đồ này, Đức đã ném vào trận chiến ba quân đoàn. Trực tiếp tiếp sức còn có quân Phần Lan được tập hợp thành quân đoàn cơ giới số 39 (hai sư đoàn tăng số 8 và số 12, hai sư đoàn môtô số 18 và 20. Tổng cộng hơn 65 ngàn binh lính và khoảng 450 xe tăng). Đội quân này được hỗ trợ bởi lực lượng không quân. Đồng thời còn có quân đoàn số 39, ba sư đoàn quân của quân đoàn số 1 bắt đầu tấn công vào hai phía trên sông Volkhov tại phương diện Volhovsroy và quân đoàn số 38 tại phương diện Malaya Vishera. Tại khu vực Gruzino chúng đã phá vỡ mặt trận của Hồng quân và các lực lượng trên sông Volkhov. Thượng tuần tháng 11, xe tăng Đức đã tiến đến ngoại ô Tikhvin. Tikhvin thất thủ - có nghĩa là tuyến đường sắt cuối cùng để cung cấp tiếp viện cho thành phố Leningrad đến phía đông nam bờ hồ Ladoga đã bị mất,

Xô Viết quân số 4 không thể chặn được các đợt tấn công của quân Đức. Ngày 8/11, quân Đức chiếm đóng thành phố Tikhvin và nhanh chóng tiến đến phía đông. Các bộ phận của các sư đoàn quân Xô Viết đã rút lui đến phía bắc: Số 44 dọc theo đường Tikhvin - Lodeynoe Pole, số 191 đến phía đông con đường. Các bộ phận của sư đoàn số 44 vào thời điểm đó chỉ còn 700 binh sĩ, sư đoàn súng trường số 191 cũng đã tổn thất nặng nề, họ chỉ còn khoảng 1000 binh sĩ, tuy không có sự chỉ huy tổng thể, họ vẫn chiến đấu như những bộ phận độc lập.
Tình thế tại phương diện phía đông ở Tikhvin cũng không lấy gì sáng sủa hơn, chẳng khác gì phía bắc của nó. Những sư đoàn không đủ sức chiến đấu đã dần rút lui do sức ép dữ dội của xe tăng Đức. Các trận chiến đã tiến sâu thêm 2 Km vào phía đông của Astracha. Ở đây đang trấn giữ gồm sư đoàn súng trường số 44 (khoảng 300 binh sĩ), trung đoàn số 48 có khoảng 1000 binh sĩ và trung đoàn súng trường số 305 (khoảng 200 binh sĩ). Đó là tổng số binh sĩ của quân đội Xô Viết đang sẵn sàng chiến đấu tại phương diện Vologda. Ở đó còn có sư đoàn súng trường số 65 và hai tiểu đoàn xe tăng, họ vừa đặt chân tới Bolshoy Bor.
Kế hoạch phản công của quân đội Xô Viết bao gồm sự liên kết lực lượng quân dự bị với các sư đoàn súng trường số 44 và số 191 chiến đấu với sư đoàn tăng số 12 của Đức. Vai trò chính trong trận chiến đè nặng lên lữ đoàn tăng số 46, họ đã từng có kinh nghiệm chiến đấu trong địa hình vùng rừng rậm.
Kế hoạch đã đến sớm hơn dự kiến trong sáng ngày 11/11. Quân đôi số 7 lữ đoàn tăng số 46 và trung đoàn súng trường số 106 cùng tương tác với các sư đoàn súng trường số 191 và số 44 đã tấn công và loại bỏ quân Đức trên 12-13 Km,

Tình thế tại phía đông Tikhvin đã đổi thay có phần sáng sủa hơn. Tướng Ivanov đã sát nhập các 44-th rd, 48-th rr, 305-th rr và 60-th td thành một quân đoàn chiến đấu trên phương diện này. Họ sẽ từ sự phòng ngự chuyển sang thế tấn công trong những trận đánh mang đặc tính cực kỳ mãnh liệt. Trong khi đó quân địch vẫn bám trụ trên từng căn nhà, từng căn chuồng ngựa. Đến thời điểm này đội quân của tướng Ivanov, được tăng cường thêm sư đoàn súng trường số 191 và hai tiểu đoàn tăng đến tới cách Tikhvin 5-6 Km và đóng quân tại hướng đông bắc ngoại ô thành phố Pagolda. Như vậy quân đội Xô Viết tấn công địch trên cả hai phương diện, quân Đức buộc phải chuyển sang phòng thủ, nếu tiếp tục ở thế tấn công chúng không còn đủ lực lượng, nhưng do có ý định vây hãm thành phố Leningrag nên bằng mọi giá chúng vẫn sẽ cố thủ tại Tikhvin.
Để giải phóng khu vực Tikhvin trong thời gian này là ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nó là vấn đề mang tính mệnh của Leningrad và cũng là điểm then chốt trên mặt trận Leningrad. Trong hoàn cảnh này bắt buộc quân đội Xô Viết cần phải chuẩn bị để lập tức quét sạch quân địch trên tuyến đường sắt cung cấp tiếp viện cho thành phố Leningrad.
Cánh tả quân đoàn của tướng Ivanov, sư đoàn số 65 đã trải rộng ra hướng đông nam gần Tikhvin. Sư đoàn này có nhiệm vụ rất nặng nề là phải kiểm soát được toàn bộ thành phố. Sư đoàn kỵ binh số 27 và sư đoàn tăng số 60 đã chuyển sang quân đoàn của Pavlovich. Các sư đoàn vệ binh số 4, số 93 và một trung đoàn tăng của sư đoàn tăng số 60, đã hợp thành "Đoàn chiến đấu phía nam". Quân Đức cũng sớm nhận thấy sự tăng cường củng cố lực lượng của quân đội Xô Viết, nên chúng cũng ráo riết chuẩn bị lực lượng.
Ngày 20/10, sư đoàn bộ binh số 61 của Đức vội vã từ Pháp đáp thẳng vào khu vực Tikhvin, nhưng sư đoàn này khi đến Tikhvin rất muộn mà rất mỏi mệt, tuy nhiên tại Tikhvin, Đức đã tập hợp được 5 sư đoàn.
Lực lượng của quân đội Xô Viết cũng được gia tăng. Quân đội được bổ xung thêm một sư đoàn súng trường số 65 và hai tiểu đoàn xe tăng. Nếu nói về lực lượng bộ binh, pháo binh, súng cối thì quân đội Xô Viết có phần vượt trội hơn so với quân Đức, nhưng về lực lượng tăng thì kém hơn rất nhiều. Tuy quân đội Xô Viết có nhỉnh hơn địch đôi chút về pháo binh và súng cối nhưng lại thiếu về đạn dược. Tại các kho đạn dự trữ chỉ cung cấp đủ cho cuộc chiến hàng ngày trung bình 6-3 viên đạn cho súng cối 120 ly, súng 122 ly và 8-20 viên cho súng cối 32 ly. Điều quan trọng cuối cùng là hàng phòng thủ của quân Đức, trong thời gian chiến sự tại phía bắc và phía đông Tikhvin trước đây, quân Đức đã có thời gian củng cố rất vững trong thành phố.
Nhưng tình hình rất căng thẳng trong thành phố Leningrad và yêu cầu của bộ tư lệnh Xô Viêt tối cao là giải phóng Tikhvin càng sớm càng tốt. Do vậy, lực lượng quân đội Xô Viết số 4 bắt đầu tấn công, không còn thời gian để đợi chờ tiếp nhận các quân dụng cần thiết và quân tiếp viện thêm được nữa.
http://lenbat.narod.ru
Trở về đầu trang
nthach1 is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn
[ IP : Logged ]
nthach1
Thịt nướng Nga - Шашлык
Thịt nướng Nga - Шашлык



Tham gia từ: 12 Dec 2006
Bài viết: 265

GửiGửi: 11-Jun-2007 10:00 am    Tiêu đề:  Re: HỒ SƠ THẾ CHIẾN THỨ HAI - 1941
Trả lời kèm trích dẫn

Các cuộc chiến trên thành phố Leningrad 1941
VI. Chiến dịch tấn công Tikhvin (10.11.41-30.12.41)
Với mục đích đánh chặn, liên kết nhóm Tikhvin với phía sau của nó, bộ chỉ huy quân đội Xô Viết đã quyết định. Đội quân (Phía bắc) do tướng Ivanov chỉ huy có nhiệm vụ: kiểm soát cánh phải tại mặt phía nam khống chế toàn bộ đường cao tốc và tuyến đường sắt Tikhvin – Volkhov, chặn đường rút của quân Đức tại phía tây. Hỗ trợ bên sườn phải cho đội quân (Phía bắc), đội quân "Pavlovich" có nhiệm vụ cắt ngang tuyến đường sắt Tikhvin – Budogosh và đánh chặn đường rút của quân Đức tại hướng tây nam, do đó cả hai cánh quân sẽ từ hai phía bắc và nam chặn tất cả các phương tiện liên lạc của quân Đức, phá vỡ vòng vây xung quanh thành phố và giải phóng Tikhvin.
Sư đoàn súng trường số 65 xâm nhập vào thành phố từ hướng tây nam. Đội quân (Phía nam), do tướng Yakovlev chỉ huy có nhiệm vụ tiến thẳng vào phương diện chính tại Budogosh với mục đích cắt toàn bộ liên lạc và đường rút lui của quân Đức ở gần Tikhvin. Đồng thời với sự tấn công của của quân đoàn số 4, các lực lượng của mặt trận "Leningrad" tràn qua sông Volkhov để tấn công vào quân địch tại phương diện Kirishi, xúc tiến cho quân đoàn số 4 chiếm lĩn trận địa trên Tikhvin. Bên cạnh đó phía bên trái quân đoàn số 52 đã sẵn sàng đợi lệnh chiến đấu.
Ngày 19 tháng 11 cuộc tấn công của quân đoàn số 4 đã dần triển khai. Sáng ngày 5/12, quân đoàn số 4 ổn định lại đội hình và tăng cường củng cố thêm lực lượng, một lần nữa lại tổ chức tấn công. Quân đoàn (Phía bắc) đã chiếm được hữu ngạn sông Tikhvinka. Các cuộc tấn công của Hồng quân trên mặt trận phía đông và phía nam vào thành phố đang triển khai rất tốt đẹp.
Kết quả của ngày 8/12, sư đoàn súng trường số 65 và 191 đã phá vỡ tuyến phòng thủ của quân Đức và tiến vào Tikhvin. Tối ngày 9/12, cuộc tấn công quyết định bắt đầu, hai sư đoàn số 191 từ hướng bắc và sư đoàn số 65 từ hướng nam cùng một lúc triển khai lực lượng tấn công và được sự hỗ trợ bởi pháo binh. Không thể chống đỡ nổi các đợt tấn công như vũ bão của quân đội Xô Viết, quân Đức bắt đầu rút chạy. Vào đêm ngày 9/12/1941 hai sư đoàn số 191 và 65 của quân đội Xo Viết đã tấn công ồ ạt vào thành phố.
Mọi chiến sự trên phương diện Budogosh đã triển khai thành công rực rỡ, với sư đoàn súng trường số 65 và sư đoàn kỵ binh số 27 đã truy đuổi kẻ thù bền bỉ làm cho sư đoàn súng trường số 4 của Đức tan rã hoàn toàn tại Sitomli và đã chế ngự được con đường trên Budogosh, đưa quân Đức vào vòng vây. Quân Đức một số rút chạy vào rừng phía tây nam một số đầu hàng và chúng đã vứt bỏ lại các khí tài, vũ khí, thương binh…
Cuộc chiến đấu với quân thù trên hữu ngạn sông Volkhov cũng đã chấm dứt. Ngày 21/12 lực lượng trên cánh tả của quân đội đã giải phóng thành phố Budogosh và ngày 27/12 đã tiến đến sông Volkhov trên phương diện Kirishi. Do đó, tất cả vùng lãnh thổ và tuyến đường sắt Tihkvin-Volchov đã được quân đội Xô Viết làm chủ. Cuộc tấn công của quân Đức với chủ tâm đánh chặn con đường cuối cùng nối liền giữa Leningrad với tổ quốc và bóp ngẹt dự định phòng thủ của Leningrad bằng sự phong tỏa nguồn thực phẩm đã bị bẻ gãy. Các sư đoàn quân Đức đã bị đẩy lùi về ranh giới ban đầu.
http://lenbat.narod.ru


Chỉnh sửa lần cuối bởi nthach1 vào lúc 14-Jun-2007 9:27 am, trong tổng số 1 lần chỉnh sửa
Trở về đầu trang
nthach1 is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn
[ IP : Logged ]
nthach1
Thịt nướng Nga - Шашлык
Thịt nướng Nga - Шашлык



Tham gia từ: 12 Dec 2006
Bài viết: 265

GửiGửi: 12-Jun-2007 4:21 pm    Tiêu đề:  Re: HỒ SƠ THẾ CHIẾN THỨ HAI - 1941
Trả lời kèm trích dẫn

Trận đánh tại Minsk

Trận đánh tại Białystok-Minsk là một cuộc chiến biên giới giai đoạn mở màn trong chiến dịch Barbarossa của cuộc xâm lược nước Nga do Đức tiến hành năm 1941.
Đội quân vũ trang Wehrmacht tràn ra khỏi Balan cùng với quân đoàn chính diện dưới sự chỉ huy của thống chế Fedor von Bock dọc theo trục Minsk - Smolensk tiến thẳng đến Moscow. Cái gọi là: Mũi pháo đài Bialystok, mặt trận phía tây Xô Viết đổi tên lại là Quân khu đặc biệt phía tây, được phòng vệ bởi các quân đoàn số 3, số 4, số 10 nằm dọc theo tuyến biên giới dưới sự chỉ huy của tướng Dmitry Pavlov, quân đoàn số 13 lúc đầu chỉ là một sở chỉ huy và chưa được bố trí lực lượng. Hồng quân được bố trí lực lượng tại Belarussia với kế hoạch phản kháng lại các cuộc tấn công của quân Đức, chế ngự địch đang chiếm đóng tại Balan
Khi quân Đức bắt đầu tấn công, tất cả các đường dậy liên lạc và các sân bay tại mặt trận phía tây bị quân Đức phá hủy hoàn toàn. Đội quân số 9 và số 4 của quân đoàn chính diện Đức xuyên qua phía bắc và phía nam đường biên giới của mũi pháo đài Bialystok. Ngày 23/6, quân đoàn số 10 Hồng quân Liên Xô tổ chức phản công theo kế hoạch đã dự định, nhưng bị thất bại. Ngày 24/6, tướng Pavlov ra lệnh cho tướng Boldin chịu trách nhiệm chỉ huy các quân đoàn cơ giới số 6, số 11 và quân đoàn kỵ binh số 6 tiếp tục tổ chức phản công theo hướng Grodno để phá vỡ vòng vây của địch cho lực lượng Hồng quân ở gần Bialystok. Cuộc phản công này bị tổn thất nặng nề, tuy nhiên một số đợn vị đã thoát ra được vòng vây và tiến đến Minsk. Chiều ngày 25/6 quân đoàn thiết giáp số 47 của Đức đã cắt đôi giữa Slonim và Volkovysk. Tướng Pavlov ra lệnh cho tất cả binh sĩ rút lui về mũi pháo đài phía sau sông Shchara tại Slonim để tránh vòng vây của quân địch. Các mũi quân chính không thể bẻ gãy được thế tiên công của quân Đức nên cũng phải rút, do cuộc rút lui nên đã mở ra hướng phía nam cho quân Đức tấn công vào Minsk.
Ngày 27/6 đội quân thiết giáp số 2 và số 3 đã liên kết tiến đánh phía bắc và phía nam gần Minsk. Ngày 28/6 quân đoàn số 4 và số 9 tập hợp tại phía đông Bialystok chia cắt lực lượng Hồng quân làm hai nhóm biệt lập: Một phần lớn tại Bialystok gồm quân đoàn số 9 và phần nhỏ còn lại tại Novogrudok gồm các quân đoàn số 3 và số 13. Sau 17 ngày, mặt trận phía tây Xô Viết đã tổn thất 420.000 binh sĩ trong tổng số 625.000 người. Ngày 29/6. Minsk thủ phủ của Belarussia bị thất thủ. Cuộc phản công tiếp theo của quân đoàn hành quân hàng không số 4 và quân đoàn cơ giới số 20 của Hồng quân cũng bị thất bại. Ngày 30/6 đội quân này hoàn toàn bị tan vỡ. Trong đó, các quân đoàn số 3, số 10, số 13 và một phần của quân đoàn Xô Viết số 4 cũng bị địch làm tê liệt gần như toàn bộ, số binh sĩ còn lại của quân đoàn Xô Viết số 4 quay lại phía đông theo hướng sông Berezina.
Sau cuộc chiến giành phần thắng, lực lượng vũ trang Đức (Wehrmacht) đã nhanh chóng tiến đánh Smolensk,
Chỉ huy mặt trận, tướng Pavlov và một số sĩ quan khác lập tức bị triệu tập về Moscow và bị cáo buộc là có chủ ý phá hoại tuyến phòng ngự, tránh né không giao chiến với quân địch và bị hành quyết, cùng với gia quyến bị quản thúc về tội phản bội tổ quốc (họ đã được phục hồi danh dự vào năm 1956) theo lệnh số NKVD - 00486 :(Operational Order of People's Commissar of Internal Affairs of the USSR by August 15, 1937 # 00486, Оперативный приказ народного комиссара внутренних дел СССР № 00486)
http://www.answers.com

Tù binh chiến tranh Xô Viết tại Bialystok

Białystok năm 1941

Minsk sau thế chiến thứ hai

Bọn Đức hành quyết nữ chiến sĩ 17 tuổi Masha Bruskina và các du kích khác tại Minsk tháng 10/1941

Quân thiết giáp của Đức tại Minsk (1941).


Chỉnh sửa lần cuối bởi nthach1 vào lúc 03-Jul-2007 10:46 am, trong tổng số 2 lần chỉnh sửa
Trở về đầu trang
nthach1 is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn
[ IP : Logged ]
nthach1
Thịt nướng Nga - Шашлык
Thịt nướng Nga - Шашлык



Tham gia từ: 12 Dec 2006
Bài viết: 265

GửiGửi: 14-Jun-2007 9:05 am    Tiêu đề:  Re: HỒ SƠ THẾ CHIẾN THỨ HAI - 1941
Trả lời kèm trích dẫn

Trận đánh đầu tiên tại Kharkov
Là một phần của chiến dịch Barbarossa. Quân đoàn phía nam của Đức đổ bộ thẳng vào thành phố Kharkov của Liên Xô (nay là Kharkiv, Ukraine) vào ngày 20/10/1941. Tại trong thành phố, một quân đoàn Nga đã thành lập một vành đai phòng thủ. Trong thời gian này, toàn bộ các công xưởng, xí nghiệpđã được tháo dỡ và xây dựng lại xa hơn nữa về phía đông. Ngày 21/10, tất cả các trang thiết bị của các công xưởng đượcbốc xếp lên các chuyến tảu hỏa để di chuyển. Cũng trong ngày hôm đó, quân Đức đã đánh phá 7 dặm tuyến đường sắt. Quân đoàn số 6 và số 7 của Đức tấn công các vị trí quân sự của Nga vào ngày 24/10 và kiểm soát toàn bộ thành phố cũng trong ngay hôm đó.
http://www.answers.com


Chỉnh sửa lần cuối bởi nthach1 vào lúc 14-Jun-2007 9:29 am, trong tổng số 1 lần chỉnh sửa
Trở về đầu trang
nthach1 is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn
[ IP : Logged ]
nthach1
Thịt nướng Nga - Шашлык
Thịt nướng Nga - Шашлык



Tham gia từ: 12 Dec 2006
Bài viết: 265

GửiGửi: 14-Jun-2007 9:23 am    Tiêu đề:  Re: HỒ SƠ THẾ CHIẾN THỨ HAI - 1941
Trả lời kèm trích dẫn

Uman 7/1941-8/8/1941 một thất bại

Trận đánh tại Uman 7/1941-8/8/1941 là một trận đánh trên mặt trận phía đông của thế chiến thứ hai vào mùa hè năm 1941. Cuộc chiến đã xảy ra tại phía tây Ukraina giữa quân đoàn phía nam của Đức được chỉ huy bởi tướng Gerd von Rundstedt với lực lượng quân đội Xô Viết trên phương diện quân tây nam, được chỉ huy bởi thống soái Semyon Budyonny, bao gồm cả lực lượng mặt trận tây nam Xô Viết dưới sự chỉ huy của đại tướng Mikhail Kirponos và lực lượng mặt trận phía nam Xô Viết dưới sự chỉ huy của tướng quân đội Ivan Tyulenev.
Trong những tuần đầu tiên của chiến dịch Barbarossa, tập đoàn quân phía nam của Đức đã nhanh chóng tiến thẳng đến phía đông , đánh chiếm Lvov, Tarnopol , Vinnitsa và làm mất hiệu lực 4 quân đoàn cơ giới của Hồng quân do tướng Kirponos chỉ huy trong một trận phản công. Vấn đề này đã diễn ra một trận giao chiến giữa các lực lượng xe tăng của hai bên. Lực lượng xe tăng của Xô Viết đông đảo hơn so với quân Đức, nhưng trong các cuộc giao chiến thì họ lại tỏ ra kém hiệu quả. Lực lượng quân Xô Viết cố gắng bẻ gãy dường hành quân của đội hình Đức, nhưng họ lại đánh cả hướng nam và bắc tại khu vực Dubno. Nhày 29/6/1941, quân Đức tạm dừng cuộc tiến, nhưng các lực lượng của quân đội Xô Viết cũng đã kiệt sức nên đành ra lệnh rút quân.
Ngày 10/7/1941, Thống soái Budyonny nhận lệnh tổng chỉ huy toàn bộ lực lượng trong chiến dịch trên phương diện phía tây nam, kết hợp tác chiến giữa các mặt trận tây nam và mặt trận phía nam. Budyonny chỉ huy 1.5 triệu binh sĩ ở hai vùng rộng lớn tại Uman và Kiev. Ông đã dành thế chủ động để mở màn ba cuộc tấn công sâu vào lãnh thổ Ukraina. Tướng Đức Ewald von Kleist của đội quân thiết giáp số 1 đánh bạt vào một mũi nhọn tấn công giữa hai cánh quân Xô Viết tại nam Kiev và bắc Uman, chiếm giữ được thành phố Berdichev ngày 15/7/1941 và thành phố Kazatin ngày 16/7/1941. Tướng Kazatin Karl-Heinrich von Stülpnagel chỉ huy tập đoàn quân số 17 Đức tiến thẳng đến phía nam Uman và tướng Ritter von Schobert chỉ huy tập đoàn quân số 11 Đức tiến đến từ hướng bắc biên giới Romania (Schobert bị chết ngày 11/9/1941 khi chiếc máy bay của ông ta hạ cánh xuống một bãi mìn)
STAVKA và chỉ huy của mặt trận phía nam đã sai lầm khi tính rằng quân Đức sẽ có ý định vượt qua sông Dnieper giữa Kiev và Cherkassy để tiếp tục tiến đánh Donbass cũng như đánh giá thấp mối hiểm nguy của quân Đức đang bao vây các quân đoàn Xô Viết số 6 và số 12. Ngày 28/7/1941, một mệnh lệnh của tổng chỉ huy mặt trận đã ban ra cho các lưc lượng tại mặt trận phía nam và mặt trận tây nam huy động lực lượng để đánh chặn quân Đức tại sông Dnieper và chỉ rút lui các lực lượng tại phương diện phía đông ra khỏi trận chiến. Kết quả, thời cơ rút lui của phương diện quân phía đông nam để tránh hiểm nguy trong vòng vây địch đã thất bại.
Ngày 2/8/1941, vòng vây đã bị thắt chặt bởi đội quân thiết giáp số 1 và quân đoàn bộ binh số 17 của Đức. Vòng vây lại tiếp tục được tăng cường siết chặt hơn nữa vào ngày hôm sau, do sư đoàn quân thiết giáp số 16 của Đức kết hợp với quân đoàn cơ giới Hungary (hay còn gọi là Gyorshadtest) tiến hành phong tỏa. Ngày 8/8/1941, mọi sự kháng trả của quân đội Xô Viết hầu như dừng lại. Hai mươi sư đoàn của quân đoàn Xô Viết số 6 và tập đoàn quân Xô Viết số 12 gần như tan vỡ. Theo như tường trình, khoảng 100.000 binh sĩ bị bắt giữ. Trong số tù binh chiến tranh đó có cả các sĩ quan chỉ huy của quân đoàn Xô Viết số 6 và tập đoàn quân Xô Viết số 12, bốn chỉ huy quân đoàn và mười một chỉ huy sư đoàn.
Tổng cộng quân đội Xô Viết bị tổn thất trong chiến dịch này rất khó để ước đoán. Nhưng cũng có thể tạm đưa ra một con số gần đúng là: 200.000 người bị chết và bị thương, 100.000 người bị bắt bắt giữ.
http://www.answers.com

Uman 1941

Lính Đức đi trinh sat trước trận đấu. Gần Uman- Ukraina, 8/1941

Uman- August 1941

Các khẩu pháo bỏ lại trong cuộc chiến. hầu như của dơn vị pháo binh quân đoàn số 12 Ukraina, vùng lân cận của Uman. 8/1941


Chỉnh sửa lần cuối bởi nthach1 vào lúc 03-Jul-2007 10:40 am, trong tổng số 1 lần chỉnh sửa
Trở về đầu trang
nthach1 is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn
[ IP : Logged ]
nthach1
Thịt nướng Nga - Шашлык
Thịt nướng Nga - Шашлык



Tham gia từ: 12 Dec 2006
Bài viết: 265

GửiGửi: 14-Jun-2007 3:53 pm    Tiêu đề:  Re: HỒ SƠ THẾ CHIẾN THỨ HAI - 1941
Trả lời kèm trích dẫn

Trận chiến Brody
Trận chiến tại Brody là một trận đánh lớn giữa tập đoàn quân thiết giáp số 1 của Đức với 5 quân đoàn cơ giới Xô Viết tại Ukraina. Đây là một trong những trận đánh dữ dội nhất trong giai đoạn mở màn của chiến dịch Barbarossa.
Tập đoàn quân đoàn phía nam của Đức được triển khai lực lượng tại phía nam Balan và Romania, dưới sự chỉ huy của thống chế Gerd von Rundstedt. Tập đoàn quân đoàn này có các quân đoàn số 6 và số 17 tại Balan và quân đoàn số 11 đóng tại Romany. Lực lượng cơ giới của nó có một quân đoàn thiết giáp số 1 dưới sự chỉ huy của tướng Paul Ludwig Ewald von Kleist, lực lượng bộ binh bồm 33 sư đoàn, lực lượng thiết giáp gồm 3 sư đoàn môtô và 5 sư đoàn bọc thép. Hỗ trợ cho quân Đức còn có một số lực lượng khác của Romany, Italy và Slovakia.
Để chống trả quân Đức, tại phía nam có lực lượng mặt trận tây nam của Nga gồm có: Các sư đoàn cận vệ số 5, số 6, số 12, số 26. 27 sư đoàn súng trường và kỵ binh, 12 sư đoàn xe tăng cùng 6 sư đoàn môtô. Thêm một mặt trận Xô Viết ở phía nam cũng được gọi là mặt trận phía nam của Nga, tại đây tập trung các lực lượng quân Xô Viết như: sư đoàn số 9, số 18 cùng 17 sư đoàn súng trường và kỵ binh, 6 sư đoàn xe tăng và 3 sư đoàn môtô
Phía cánh tả tập đoàn quân phía nam của Đức được tung thêm sư đoàn số 6, số 17 và quân đoàn thiết giáp số 1. Bên phía quân đội Xô Viết gồm có quân đoàn số 5, số 6, số 26. Quân đoàn số 6, số 7 của Đức tiến hành tấn công vào vị trí tiếp giáp giữa các quân đoàn số 5, số 6, số 26 của Xô Viết, để cho tập đoàn quân thiết giáp số 1 của Đức dồn một mũi nhọn bọc thép 600 xe tăng của nó tiến xuyên qua quân đoàn số 6 của Xô Viết thẳng tiến vào thị trấn của Brody
Ngày 26/6, năm quân đoàn cơ giới của Xô Viết gồm có: số 4, số 8, số 9, số 15 và số 19 với hơn 1.000 xe ào ạt phản công từ các phía bắc và nam, với mục đích đánh tạt vào sườn tập đoàn thiết giáp số 1 của Đức và cùng chiếm lĩnh trận địa gần thành phố Dubno. Trận đánh các quân đoàn cơ giới của Xô Viết với tập đoàn quân thiết giáp của Đức diễn ra mãnh liệt nhất trong toàn bộ thời kỳ chiến tranh. Trong suốt 4 ngày đêm, quân đội Xô Viết chiến đấu rất mãnh liệt, các biên đội xe tăng và các khẩu đội súng chống tăng của Đức rất khiếp sợ trước loại xe tăng T-34 mới của Xô Viết do các loại súng đạn của chúng hầu như không làm gì được loại xe này.
Tuy nhiên quân đội Xô Viết chưa thật sự triển khai đội hình tăng được một cách tốt nhất hoặc không tập chung hỏa lực thành từng nhóm. Xe tăng Xô Viết thường tác chiến độc lập, do vậy Luftwaffe đã thoải mái tràn khắp trên chiến trường , bẻ gãy đội hình quân Xô Viết và bắn phá loạn xạ vào bất kỳ mục tiêu nào mà chúng gặp. Kết quả, gọng kìm của các lực lượng Xô Viết dự định sẽ chiếm lĩnh trận địa tại Dubno bị thất bại.
http://www.answers.com
Những chiếc tăng T-35 và T-26 của quân đoàn cơ giới số 8 tại Dubno 7/1941


Chỉnh sửa lần cuối bởi nthach1 vào lúc 03-Jul-2007 10:34 am, trong tổng số 1 lần chỉnh sửa
Trở về đầu trang
nthach1 is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn
[ IP : Logged ]
nthach1
Thịt nướng Nga - Шашлык
Thịt nướng Nga - Шашлык



Tham gia từ: 12 Dec 2006
Bài viết: 265

GửiGửi: 03-Jul-2007 10:31 am    Tiêu đề:  Re: HỒ SƠ THẾ CHIẾN THỨ HAI - 1941
Trả lời kèm trích dẫn

Trận đánh Tại Kiev

Trận đánh tại Kiev là một trận bao vây khổng lồ trên đất Ukraina trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Đến ngày nay nó vẫn được đề cập đến như là một trận đánh vây lớn nhất trong lịch sử. Trận đánh bắt đầu từ trung tuần tháng 8 đến 26/9/1941 và nó là một phần trong chiến dịch Barbarossa của quân Đức. Trong lịch sử quân đội của Xô Viết đây là một cuộc chiến đấu được coi như là một "Chiến dịch phòng thủ Kiev" – " Киевская оборонительная операция". Trong thời gian từ 7/7 – 26/9 gần như toàn bộ Hồng quân Liên Xô trên chiến trường Tây nam của Xô Viết đã giao tranh quyết liệt với vòng vây của quân Đức, 665.000 người bị bắt giữ làm tù binh. Trong trận chiến này, quân Đức đã vây kín tại Kiev không một kẽ hở, tuy nhiên chỉ có một số nhỏ binh sĩ Hồng quân thoát được ra ngoài trước khi quân Đức khép chặt vòng vây, bao gồm cả nguyên soái Budyonny, nguyên soái Timoshenko và chính ủy Khrushchev. Tuy nhiên, một sự thất bại chưa từng thấy đã xảy ra với Hồng quân tại đây nó nặng trọng hơn cả tấn thảm kịch đã xảy tại Minsk từ tháng 6 đến tháng7/1941. Ngày 1/9/1941 trên mặt trận tây nam, gồm 752-760.000 binh sĩ (850.000 cả quân dự bị và bộ phận hậu cần), 3.642 súng và pháo binh, 167 máy bay chiến đấu. Kế tiếp theo cuộc bao vây gồm 452,700 binh lính, 2,642 súng, pháo binh và 64 xe tăng, ngày 2/10 có 15.000 binh lính thoát khỏi vòng vây. Toàn bộ trên chiến trường tây nam có 700.544 bị thương vong bao gồm có 616.304 người bị chết, bị bắt giữ hoặc mất tích trong thời gian một tháng dài chiến trận trên đất Kiev. Theo kết quả đó, 4 quân đoàn Xô Viết (số 5, số 37, số 26 và số 21) gồm có sư đoàn 43 hầu như bị tổn thất toàn bộ.
Cuối tháng tám, bộ tư lệnh tối cao của Đức (OKH) đã phải có sự lựa chọn: Hoặc tiếp tục tiến quân thẳng đến Moscow, hoặc triệt tiêu lực lượng quân đội Xô Viết tại hướng nam. Bởi do quân đoàn phía Nam của Đức hiện đang thiếu lực lượng để dàn trải ra các mặt trận, một phần lớn lực lượng của quân đoàn chính diện Đức lại cần phải đi thực hiện nhiệm vụ khác. Sau cuộc bàn cãi trong nội bộ OKH, phần chính của đội thiết giáp số 2 (Panzergruppe 2) và lực lượng quân đội số 2 đã được tách ra khỏi quân đoàn chính diện của Đức để chuyển đến phía nam bao vây quân đội Xô Viết và sẽ liên kết với quân đoàn phía Nam tại phía đông Kiev
Các đội quân thiết giáp của Đức được xúc tiến nhanh chóng để hình thành thế trận bao vây với ý đồ đánh úp quân đội Xô Viết của nguyên soái Budyonny. Cuộc bao vây quân đội Xô Viết đã được tiến hành vào ngày 16/9 khi hai cánh quân của Đức giữa đội quân thiết giáp số 1 do Kliest chỉ huy và quân đoàn số 24 do Guderian chỉ huy đã gặp nhau tại Lokhvitsa, 120 dặm phía sau Kiev.
Sau đó, vòng vây đã được bịt kín. Về phía quân đội Nga, những sự choáng váng đã bộc lộ. Họ hầu như không còn khả năng để bẻ gãy được vòng vây của quân địch. Quân đoàn số 17 và quân đoàn số 6 thuộc tập đoàn quân phía Nam của Đức cũng như quân đoàn số 2 thuộc tập đoàn quân chính diện Đức sau đó đã được thêm sự trợ giúp của lực thiết giáp nên càng siết chặt vòng vây hơn nữa. Cuộc bao vây quân đội Nga tại Kiev ngày càng quyết liệt. Một trận chiến tấn công dữ dội của quân đội Xô Viết đã bị thất bại bởi pháo binh, xe tăng và máy bay địch cũng tham chiến. Ngày 19/9, Kiev đã có rất nhiều người bị thiệt mạng nhưng cuộc chiến đấu vẫn tiếp diễn không lúc nào ngưng nghỉ. Sau nhiều ngày giao tranh và bị nhiều tổn thất, ngày 26/9 Kiev thất thủ, quân Đức đã bắt giữ khoảng hơn 600.000 binh sĩ Hồng quân làm tù binh.
http://en.wikipedia.org
Trở về đầu trang
nthach1 is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn
[ IP : Logged ]
nthach1
Thịt nướng Nga - Шашлык
Thịt nướng Nga - Шашлык



Tham gia từ: 12 Dec 2006
Bài viết: 265

GửiGửi: 04-Jul-2007 9:58 am    Tiêu đề:  Re: HỒ SƠ THẾ CHIẾN THỨ HAI - 1941
Trả lời kèm trích dẫn

Rostov na Donu
Trận đánh tại Rostov (1941) là một cuộc chiến trên mặt phía Đông của Thế chiến thứ II, cuộc chiến đấu này đã bao trùm toàn bộ khu vực Rostov trên sông Đông giữa lực lượng Hồng quân của mặt trận phía Nam - Xô Viết do tướng Yakov Timofeyevich Cherevichenko chỉ huy với tập đoàn quân phía Nam của Đức dưới sự chỉ huy của tướng Gerd von Rundstedt.
Sau khi đã giành phần thắng tại mặt trận Kiev trong tháng 9/1941, tập đoàn quân phía Nam của Đức từ phía sông Dnieper đã thúc quân xuống vùng bờ biển Azov. Quân đoàn số 6 của Đức do Walther von Reichenau chỉ huy tiến đánh Kharkov. Quân đoàn số 17 do Carl-Heinrich von Stülpnagel chỉ huy hành quân xuyên qua thành phố Poltava nhằm hướng Voroshilovgrad để tiến quân. Quân đoàn số 11 do Erich von Manstein chỉ huy tiến vào Crimea và cũng đã giành được kiểm soát toàn bộ vùng bán đảo này. Ewald von Kleist chỉ huy quân đoàn thiết giáp số 1 từ Kiev lao xuống bao vây Hồng quân Xô Viết tại Melitopol trong tháng 10/1941, chúng càn quét khắp khu vực phía đông vùng bờ biển Azov hướng về Rostov khu hạ nguồn sông Đông và cửa ngõ Caucasus.
Ngày 21/11 quân Đức đánh chiếm Rostov. Tuy nhiên các tuyến quân của Đức đã bị trải rộng ra khắp các mặt trận và chính Kleist đã phải cảnh báo rằng cánh quân phía sườn trái của ông ta rất dễ bị Hồng quân tấn công do lực lượng tăng thiết giáp ở đây sẽ chẳng làm được trò trống gì trong thời tiết của một mùa đông lạnh buốt này. Ngày 27/11 quân đoàn số 37 của Hồng quân Liên Xô dưới sự chỉ huy của trung tướng Anton Ivanovich Lopatin đã tổ chức phản công vào một mũi nhọn phía bắc thuộc quân đoàn thiết giáp số 1 của Đức, bắt buộc chúng phải rút chạy ra khỏi thành phố. Adolf Hitler lên tiếng phản đối cuộc rút chạy này. Khi đó Von Rundstedt đã bất tuân mệnh lệnh, do đó ông ta đã bị Hitler lập tức cách chức. Nhưng dù sao cuộc rút chạy của quân Đức cũng không thể tránh khỏi, quân đoàn thiết giáp số 1 của Đức cuối cùng cũng phải tháo chạy về phía sông Mius tại Taganrog. Đây cũng là cuộc chạy trốn đáng kể nhất của quân Đức trong thời kỳ chiến tranh.
http://www.answers.com


Trở về đầu trang
nthach1 is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn
[ IP : Logged ]
nthach1
Thịt nướng Nga - Шашлык
Thịt nướng Nga - Шашлык



Tham gia từ: 12 Dec 2006
Bài viết: 265

GửiGửi: 05-Jul-2007 8:03 am    Tiêu đề:  Re: HỒ SƠ THẾ CHIẾN THỨ HAI - 1941
Trả lời kèm trích dẫn

Trở về đầu trang
nthach1 is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn
[ IP : Logged ]
nthach1
Thịt nướng Nga - Шашлык
Thịt nướng Nga - Шашлык



Tham gia từ: 12 Dec 2006
Bài viết: 265

GửiGửi: 15-Aug-2007 11:51 am    Tiêu đề:  Re: HỒ SƠ THẾ CHIẾN THỨ HAI - 1941
Trả lời kèm trích dẫn

Cuộc phá vây của chiến hạm Bismarck - 20-27 tháng năm, 1941


Chiến hạm Bismarck của Đức trong thời gian chiến tranh


Mùa xuân năm 1941, trận không chiến tại Anh đã không thể bẻ gãy được ý chí chiến đấu của dân chúng nước Anh. Trận đánh dữ dội trên Đại tây dương hội tụ vào các đội U-boats Kriegsmarine của Đức, chúng tấn công các thương tàu làm tác động dữ dội đến nước Anh và nó cũng ý định làm cho người Anh phải chịu khuất phục. Ngoại trừ một số ngoại lệ, một số tàu chiến chính của Đức không tham gia vào các cuộc đột kích trên Đại tây dương này. Do đó chiến sự đã chuyển sang một trận đột kích của hạm đội Bismarck và chiếc tàu tuần dương hạng nặng Prinz Eugen trong tháng 5/1941.
Bismarck là một chiến hạm hiện đại được bọc thép chắc chắn, nó được trang bị 8 khẩu 15”. Các tuần dương đô đốc Gneisnau và Scharnhorst được biên chế cùng chiến hạm này, nhưng chiếc Gneisnau đã bị hư hỏng vì không kích còn chiếc Scharnhorst thì cần thay thế lại nồi hơi. Tiếp nữa còn có chiếc Tirpitz, nó cùng một kiểu với chiếc Bismarck, chiếc tàu chiến này được biên chế cùng hạm đội nhưng chưa được đưa vào sử dụng. Theo lịch trình cho tháng tư bị chậm lại do chiếc Prinz Eugen cần được tu sửa vì nó vừa bị trúng thủy lôi.
Đô đốc hải quân Đức Gunther Lütjens và các chuyên viên chiến lược của Y không hề biết rằng có một sự hợp tác rất chặt chẽ hiện đang lớn mạnh giữa các lực lượng hải quân Mỹ và Anh. Người Mỹ đã đồng ý mở rộng các hoạt động tuần tra của họ đến phía tây Đại tây dương, họ cũng đã chế tạo mới một loại máy bay tuần tra tầm xa - Catalina cho nước Anh. Những thỏa thuận này cho phép nước Anh tập trung huy động năng lực phòng thủ tại quốc gia của mình. Hơn nữa, chiếc tàu vận tải HMS - Vinh quang vừa mới được trang bị thành tàu chiến, nó đang sẵn sàng được tham chiến. Cơ quan tình báo cũng phát hiện được rằng, các tàu chiến Đức đã nhận được những hải đồ mới và hải cảng của Pháp tại Brest cũng được tân trang để tiếp nhận trợ giúp tàu chiến loại lớn.
Ngày19/5, Lütjens đến từ Đức để hỗ trợ cho Norway. Với nhiều lý do, Lütjens đã không ra lệnh cho Bismarck tiếp nhiên liệu từ tàu chở dầu. trong khi Bismarck đang ẩn nấp tại vịnh Norway, một chiếc máy bay do thám của RAF (không lực Hoàng gia Anh) đã phát hiện ra Bismarck ngày 20-21/5. Phát hiện này đã làm hoang mang cho tất cả lực lượng hải quân Hoàng gia. Bởi nếu như hai tàu chiến địch có thể đánh được vào cửa ngõ của Đại tây dương, chúng sẽ tiến hành tàn phá rất nguy hiểm cho hàng phòng thủ trên biển. Tổng tư lệnh lực lượng hải quân Hoàng gia Anh, đô đốc John Tovey có trong tay một số lượng tàu chiến rất đông đảo nhưng chúng lại được trải rộng trên rất nhiều vị trí. Những vị trí của hải quân Hoàng gia từ Gibraltar đến Iceland đã được báo động để canh phòng tàu chiến.
HMS Norfolk cùng với chiếc tuần dương hạm HMS Suffolk đã được điều đi tuần tra trên eo biển Đan Mạch giữa vùng Greenland và Iceland, ngày 23/5 chúng phát hiện thấy tàu chiến Đức và đã phát tín hiệu cảnh báo về tổng hành dinh đô đốc.
Sáng ngày 24/5, hai chiếc HMS Hood và HMS Prince của xứ Wales đã đến phạm vi thiết lập đội hình tại phía bắc và bắt đầu triển khai hỏa lực vào quân Đức. Chiếc Bismarck và chiếc Prinz Eugen của Đức quay lại bắn trả. Trong vòng 17 phút, chiếc Bismarck đã ba lần bắn trúng vào tàu chiến của Anh. Chiếc HMS Hood nổi giận, giáng trả liên tiếp hai lần hỏa lực trúng đối phương. Chiếc Prince của xứ Wales. Một chiếc tàu chiến mới cũng bị nhiều vết đạn do chiếc Bismarck và Prinz Eugen nã trúng.
Chiếc HMS Hood bị đánh chìm làm cho lực lượng Hải quân Hoàng gia và công chúng Anh nổi giận. Lütjens thấy rằng cuộc chiến sẽ bị thiệt hại giống như cuối trận Đại Tây Dương và Y quyết định đánh thẳng vào Brest để tìm lối thoát cho chiếc Prinz Eugen, trong khi đó chiếc Bismarck cố gắng lẩn trốn sự truy đuổi của các tàu chiến Anh. Lütjens hy vọng rằng, Y sẽ có được sự cứu viện từ căn cứ không quân tại Pháp trước khi các tàu chiến của Anh có thể bắt kịp.
Hải quân Anh lại một lần nữa mất dấu vết của chiếc Bismarck cho đến tận ngày 26/5, một sĩ quan hải quân Hoa kỳ trên chiếc máy bay tuần tiễu Catalina phát hiện ra chiếc Bismarck xuyên qua đám mây, Tovey liền thông báo ngay cho lực lượng hải quân Hoàng gia. Với hai phát thủy lôi, chiếc oanh tạc cơ ngư lôi thuộc hạm đội HMS Ark đã phá hỏng chiếc Bismarck, phát thứ nhất chỉ đánh hỏng nhẹ ở mớn nước gần sống mũi con tàu, nhưng phát thứ hai đã phá hủy nặng nề ở phần đuôi lái của nó.
Lütjens nhận thấy rằng ông ta đang gặp một trở ngại ngiêm trọng. Ông ta không thể điều khiển được con tàu được nữa và mức nhiên liệu dự trữ cho động cơ cũng sắp cạn kiệt. Ông ta cảm thấy hối tiếc vì đã không tiếp thêm nhiên liệu ở Norway.
Ngày 27/5/1941,Tovey tiếp tục giáng thêm hỏa lực vào chiếc Bismarck. Với lợi thế lực lượng và trang bị vũ trang đông đảo hơn, các tàu chiến của Anh đã liên tiếp giáng cho chiếc Bismarck những đòn chí mạng, làm cho nó dường như không thể chống trả. Sau khi bị hơn 400 phát đạn pháo nã trúng, chiếc Bismarck chở thành một chiếc tàu chiến bục nát. Trong khi lực lượng hải quân Hoàng gia đang tiến hành giải cứu thủy thủ đoàn của chiếc Bismarck thì một chiếc tàu ngầm Đức đã nã một phát thủy lôi vào họ làm cuộc giải cứu này bị chấm dứt, do vậy chỉ khoảng vài trăm trong số 2000 thủy thủ đoàn của chiếc Bismarck được giải thoát, Sau sự va chạm này, lính thủy Đức đã phải canh gác để cho đồng đội của họ thoát ra nhưng có một số đã không thể cứu được. Lütjens và ban tham mưu của ông ta đã chìm xuống cùng với chiếc Bismarck.

Chiến hạm Bismarck bị bắn cháy bới các hạm đội hải quân Hoàng gia Anh

Những phát đạn đầu tiên của Quân Anh đã đánh trúng bên mạn chiến hạm Bismarck

Chiếc Bismarck đang bị chìm
http://worldwar2database.com
Trở về đầu trang
nthach1 is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn
[ IP : Logged ]
nthach1
Thịt nướng Nga - Шашлык
Thịt nướng Nga - Шашлык



Tham gia từ: 12 Dec 2006
Bài viết: 265

GửiGửi: 16-Aug-2007 1:40 pm    Tiêu đề:  Re: HỒ SƠ THẾ CHIẾN THỨ HAI - 1941
Trả lời kèm trích dẫn

Crete 27/4 - 31/5/1941





Với thất bại trong cuộc kháng cự của quân đội Hy Lạp trên thềm lục địa cùng với cuộc di tản của lực lượng Anh, chỉ huy lực lượng New Zealand, tướng Bernard C. Freyberg nhận định rằng: Theo logic trên đảo Crete sẽ là mục tiêu kế tiếp. Vị trí địa lý của Crete rất thuận lợi và ba sân bay ở đây nằm giữa khoảng cách ấn tượng của mỏ dầu lửa Rumany, cắt ngang Aegean từ Địa trung hải và có thể làm một căn cứ để nhằm đánh thẳng vào Ý, Bắc phi và Hy lạp
Khoảng 27.000 binh lính các nước (gồm Anh và một số nước thuộc địa khác), hầu như đã mệt mỏi và không được trang bị khí tài hạng nặng, đã đổ bộ lên Crete. Trong đó có 19.000 quân của Hy Lạp và Crete, phần lớn trong số họ chưa được đào tạo và không có trang bị đầy đủ. Ngay sau đó đội quân của Freyberg đã phải chịu những cuộc không kích khốc liệt trong suốt ba tuần lễ. 700 máy bay Đức xuất kích 300 đợt mỗi ngày, bắn phá và ném bom vào bất kỳ một mục tiêu nào tại đây. Do thấy không thể yểm trợ trên không cho Crete được nữa, RAF đã phải rút lui vào ngày 19/5/1941.
Ngay sáng hôm sau, 10.000 lính dù Đức đã đổ bộ trên 3 sân bay và bắt đầu tập hợ để liên kết đội hình. Nhưng hầu hết lớp đầu bị quân lính Anh bị hạ gục. 170 chiếc Ju-52 và hầu như tất cả tàu lượn bị tiêu diệt. 4.000 lính bị chết và 2.600 lính Đức bị thương
Nhưng lính Đức quay lại phản công rất dữ dội. Không thể chống trả các đợt tấn công dữ dội của quân Đức, đến ngày 31/5 tướng Freyberg phải ra tín hiệu cần phải rút lui. Hải quân Anh đã phải rút 18.000 binh lính ra Sfakia, sau đó tiếp tục di chuyển thêm 13.000 binh sĩ nữa. Kết cục, ba tàu tuần dương, sáu tàu khu trục của Anh bị phá hủy, máy bay vận tải của HMS bị thiệt hại nặng nề.

http://worldwar2database.com
Trở về đầu trang
nthach1 is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn
[ IP : Logged ]
Xem các bài viết từ:   
Chủ đề phía trước :: Chủ đề kế tiếp

Gửi bài mới   Trả lời cho chủ đề   printer-friendly view    NuocNga.Net -> Hồ sơ chiến tranh thế giới Thời gian: [GMT + 7 Giờ]
Tới trang trước  1, 2, 3  tiếp
Trang 2 trong tổng số 3 trang

 
Chuyển nhanh tới:  
Bạn không thể gửi chủ đề mới
Bạn không thể trả lời các chủ đề
Bạn không thể sửa đổi bài viết của mình
Bạn không thể xoá bài viết của mình
Bạn không thể tham gia các bình chọn
You cannot attach files in this forum
You cannot download files in this forum

Designed by TekCIZ Co., Ltd
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group