| Chủ đề phía trước :: Chủ đề kế tiếp |
| Tác giả |
Nội dung bài viết |
hungmgmi Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tham gia từ: 20 Jun 2005 Bài viết: 2757 Đến từ: hanoi
|
Gửi: 09-Jun-2007 4:51 pm Tiêu đề: Re: Những nhà khoa học vĩ đại của Nga
|
|
|
Năm 1969, D.I.Medeleev xuất hiện trên tem bưu chính Liên xô nhân kỷ niệm 100 năm phát minh Định luật tuần hoàn:
Năm 1984, Liên xô phát hành đồng 1 rúp có dập nổi chân dung nhà hóa học vĩ đại nhân kỷ niệm 150 năm ngày sinh của ông:
 _________________ hungmgmi@nuocnga.net |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
phuongnn Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tham gia từ: 02 May 2005 Bài viết: 1349 Đến từ: Hà Nội
|
Gửi: 09-Jun-2007 9:11 pm Tiêu đề: Re: Những nhà khoa học vĩ đại của Nga
|
|
|
| Nina viết: |
| Thay mặt BBT trang chủ, Nina nhiệt liệt hoan nghênh chủ đề này của bạn Belaya Zima, và cũng xin phép bạn đưa những bài viết này lên trang chủ - tất nhiên là có "biên tập chính tả" một chút nhé. |
Với những bài mà Bê-lai-a Zi-ma có biên tập lại, tổng hợp từ nhiều nguổn khác nhau, bạn nên "bịa" ra cho một "bút danh" hay bí danh hoạt động gì đó, cũng không cần ký tên thâạ đâu, mà tên thật cũng có sao đâu đúng không bạn?  _________________ Trong mỗi người đều có một mặt trời... |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
Belaya Zima Kvas Nga - Квас


Tham gia từ: 05 Jun 2007 Bài viết: 665 Đến từ: Hà Nội
|
Gửi: 09-Jun-2007 9:50 pm Tiêu đề: Re: Những nhà khoa học vĩ đại của Nga
|
|
|
| phuongnn viết: |
Với những bài mà Bê-lai-a Zi-ma có biên tập lại, tổng hợp từ nhiều nguổn khác nhau, bạn nên "bịa" ra cho một "bút danh" hay bí danh hoạt động gì đó, cũng không cần ký tên thâạ đâu, mà tên thật cũng có sao đâu đúng không bạn?  |
Cái này đâu làm thế được ạ . Công sức đều là của các cô chú viết những cuốn sách mà Zima đọc nên không thể đề tên khác được. Zima chỉ tổng hợp, thêm chỗ nọ bớt chỗ kia một chút xíu vì cảm thấy như thế sẽ hay hơn thôi ạ. Zima hiểu được vấn đề bản quyền. Ghi tên khác làm gì chứ , các bác nào viết sách biết được rồi lại tranh luận thì vô cùng mệt mỏi. Tên tác giả là ai không quan trọng bằng việc những thông tin này sẽ giúp ích được cho những ai yêu thích các nhà khoa học Nga. Điều đó mới là mục đích chính cho những bài post của Zima. _________________ Một bài ca giờ này tôi hát
Một đất nước gắn bó thân thương
 |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
phuongnn Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tham gia từ: 02 May 2005 Bài viết: 1349 Đến từ: Hà Nội
|
Gửi: 10-Jun-2007 8:00 am Tiêu đề: Re: Những nhà khoa học vĩ đại của Nga
|
|
|
| Belaya Zima viết: |
| ...Zima hiểu được vấn đề bản quyền... |
Hì hì, yên tâm bạn ạ, mình cũng chuyên môn về bản quyền tác giả đây mà.
| Belaya Zima viết: |
| Zima chỉ tổng hợp, thêm chỗ nọ bớt chỗ kia một chút xíu vì cảm thấy như thế sẽ hay hơn thôi ạ... |
Thế là biên tập lại rồi còn gì... trong trường hợp đó người biên tập hoàn toàn có quyền đứng tên là người biên tập, tổng hợp, có trích nguồn đàng hoàng, tử tế. Nếu đưa lên Internet phục vụ cộng đồng, không cần phải trả bản quyền mà. Mình cứ làm vậy là không hề vi phạm, ngược lại lại làm tăng giá trị của tài liệu.
Mà thôi, cái "bút danh" Bê-lai-a Di-ma cũng hay đấy chứ nhỉ? _________________ Trong mỗi người đều có một mặt trời... |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
Belaya Zima Kvas Nga - Квас


Tham gia từ: 05 Jun 2007 Bài viết: 665 Đến từ: Hà Nội
|
Gửi: 10-Jun-2007 12:23 pm Tiêu đề: Re: Những nhà khoa học vĩ đại của Nga
|
|
|
@ phuongnn: Hình như bác phuongnn cũng là một trong số các thành viên của NNN tham gia giải quyết vụ việc bản quyền về các bài viết của thành viên NNN bị trộm bởi một số biên tập trang web của Bộ VHTT thì phải . Tranh thủ ngày nghỉ nên Zima đã đọc hết những cái gì có thể đọc ở NNN ngoại trừ box post tiếng Nga vì Zima chẳng biết chữ tiếng Nga nào ạ _________________ Một bài ca giờ này tôi hát
Một đất nước gắn bó thân thương
 |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
nguyenthuhanh82 Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 43 Tham gia từ: 25 May 2005 Bài viết: 458 Đến từ: Hà Nội
|
Gửi: 10-Jun-2007 8:48 pm Tiêu đề: Những nhà khoa học vĩ đại của Nga
|
|
|
1. Menđêlêep (1834-1907)
Đơmitơri Ivanôvitsơ Menđêlêep (Dmitri Ivanovitch Menđeleiev) nhà hóa học Nga, giáo sư trường đại học Tổng hợp Pêtecxbua, tác giả bảng phân hạng tuần hoàn những nguyên tố hóa học. Năm 20 tuổi, Menđêlêep đã phát minh ra lý thuyết động hình. Lí thuyết này có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển hóa học hiện đại. Năm 35 tuổi, ông phát minh ra định luật tuần hoàn, định luật về sự liên hệ bên trong giữa các nguyên tố hóa học mà hiện nay chúng ta đều biết. Khi phát minh ra định luật tuần hoàn, người ta mới chỉ biết có 64 nguyên tố. Song Menđêlêep đã đoán trước thêm 20 nguyên tố khác. Theo sự hướng dẫn của định luật tuần hoàn, các nhà bác học thế giới tìm thêm nhiều nguyên tố khác. Ngày nay người ta đã điền thêm ô thứ 105 của bảng tuần hoàn. Menđêlêep còn viết nhiều tác phẩm về hóa học trong đó có cuốn Nguyên lí hóa học nổi tiếng. Ông là hội viên của trên 50 hội và Viện hàn lâm khoa học ở châu Âu. Ông còn tham gia nghiên cứu nhiều lĩnh vực khác nữa. Năm 1887, ông dùng kinh khí cầu, khảo sát nhật thực và tăng cao khí quyển. Ông say mê hội họa, được bầu làm viện sĩ viện hàn lâm mỹ thuật Nga. Menđêlêep là một nhà khoa học lỗi lạc chính trực, không khuất phục trước cường quyền. Tháng 3/1890, khi phong trào sinh viên chống đối luật lệ phản động của chính quyền Nga hoàng sôi sục trong các trường đại học ở thủ đô Pêtecxbua, ông đã nhận giúp sinh viên đưa bản kiến nghị lên chính phủ. Viên Hiệu trưởng khiển trách, ông liền đưa đơn từ chức. Menđêlêep làm việc suốt đời với tinh thần say mê. Một ngày trước khi mất, ông bị cảm nặng, nhưng vẫn làm việc. Ông mất năm 73 tuổi.
http://www.binhthuan.gov.vn/KHTT/Vanhoa/0001/0002/NV06B.htm
2. nhà hóa học Nga Konxtantin Xigizmundovits Kirgof (1764- 1833)
I. ÐẠM VÀ CHẾ ÐỘ ĂN UỐNG
Ở thế kỷ XIX, những thành tựu của các nhà hóa học hữu cơ là sự tuyên chiến chủ yếu đối với sinh lực luận. Dựa vào phân tử Protit, những người sinh lực luận mưu đồ lập phòng tuyến chống lại sự tấn công mãnh liệt ấy. Và hầu như cho đến cuối thể kỷ XIX họ đã bảo vệ lập trường của mình một cách có hiệu quả .
Phân tử protit hết sức thu hút các nhà hóa sinh học. Lần đầu tiên nhà sinh lý học Pháp là Francois Magendie (1783 -- 1855) đã chứng minh ý nghĩa to lớn của proti trong đời sống của các sinh vật. Sau chiến tranh Napoleon, đời sống của các dân tộc rất khốn khổ, trữ lượng lương thực thực phẩm không đủ. Chính phủ của các nước đã thành lập những ủy ban dưới sự lãnh đạo của Magendie để nghiên cứu vấn đề: khả năng tạo ra thức ăn có đủ chất dinh dưỡng như Jelatin từ những chất gì rẻ tiền và có thể dể kiếm. Trong những thí nghiệm của mình, Magendie (1816) đã nuôi chó bằng thức ăn không có protit (chỉ cho ăn đường, dầu ôliu và nước), kết quả là chó đã chết vì đói chất. Ông đã phát hiện ra chó không đủ kalo cần thiết và thiếu đạm - thành phần không thể thiếu được của thức ăn. Sau đó người ta cũng biết rằng không phải tất cả Protit đều có lợi như nhau: nếu chỉ có Jelatin trong khẩu phần thức ăn thì thế naò chó cũng sẽ chết. Những công trình đó đặt cơ sở cho môn dinh dưỡng học hiện đại - khoa học về dinh dưỡng và tác động của dinh dưỡng đối với cơ thể sinh vật.
Khác với Gluxit và lipit, protit có nitơ (đạm). Vì thế các nhà bác học tập trung chú ý đến nitơ như là một phần không thể thiếu được đối với sinh vật. Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, khi nghiên cứu nhu cầu ni tơ của thực vật, nhà hóa học Pháp Jean Baptit Bukxengô (1802 -- 1887) đã tìm ra một số thực vật, ví dụ: cây họ Ðậu, chẳng những phát triển mạnh trên đất không chứa đạm mà còn tăng rõ rệt hàm lượng đạm trong cơ thể của chúng. Bukxengô cho rằng thực vật lấy đạm từ không khí. Hiện nay chúng ta biết rằng không phải chính thực vật hấp thu đạm từ không khí mà do các vi khuẩn cố định đạm sống trong những nốt sần ở rễ cây. Bằng những thí nghiệm sau này Bukxengô đã chứng minh động vật không thể hấp thu được đạm từ không khí mà chúng chỉ thu nhận đạm từ thức ăn. Sau khi làm chính xác những nghiên cứu của Magendie mang đặc tính định tính hơn là định lượng, Bukxengô đã tính toán hàm lượng đạm trong thức ăn và chứng minh sự phụ thuộc tỉ lệ thuận giữa tốc độ sinh trưởng của sinh vật với số lượng đạm đã được đồng hóa. Ông kết luận: thức ăn quý nhất là loại giàu đạm nhất. Nhưng với hàm lượng đạm bằng nhau thì một số thức ăn này có hiệu quả cao hơn loại thức ăn khác đối với sinh trưởng. Từ đó ta rút ra kết luận duy nhất có thể được: trong quan hệ dinh dưỡng, giá trị đạm phụ thuộc từng loại thức ăn khác nhau. Cho đến cuối thế kỷ này, nguyên nhân của sự sai khác đó vẫn chưa sáng tỏ. Ðến năm 1844, Bukxengô xác định một cách đơn thuần kinh nghiệm giá trị tương đối của thức ăn khác nhau phụ thuộc vào hàm lượng Protit.
Sau đó 10 năm, nhà bác học Ðức Liebig (1803 -- 1873) đã tiếp tục nghiên cứu của Bukxengô. Ông đã nghiên cứu tỉ mỉ học thuyết về giá trị toàn diện của thức ăn. Liebig là người đứng về phía duy vật và xuất phát từ lập trường đó ông đi đến việc giải quyết các vấn đề kinh tế nông nghiệp. Ông cho rằng sự nghèo dần muối khoáng là nguyên nhân giảm sút độ phì của đất đã được tiêu thụ trong một số năm. Ðể sinh trưởng thực vật cần phải hấp thụ một lượng nhỏ Natri, Kali, Canxi, phospho cần thiết lấy từ những chất hòa tan của đất. Từ xưa người ta đã biết bón phân để giữ độ màu mỡ của đất. Nhưng Liebig không đánh giá sự bón phân là thêm một lực sống nào đó, mà ông cho rằng phân chỉ bù cho đất những chất vô cơ đã bị mất đi. Thế thì tại sao lại không bón cho đất những chất khoáng tinh khiết và như thế sẽ tránh được mùi hôi thối?
Liebig là người đầu tiên sử dụng rộng rãi bón phân khoáng trong nông nghiệp. Lúc đầu ông bị thất bại bởi vì ông dựa quá nhiều vào tài liệu của Bukxengô nhưng khi ông đã hiểu rằng phần lớn thực vật nhận đạm từ những hợp chất chứa nitơ hòa tan (dạng nitrat) của đất, và ông đưa những chất đó vào hợp chất của mình, lúc đó ông đã thu được loại phân bón hữu hiệu. Như vậy, Bukxengô và Liebiglà những người sáng lập ra môn nông hóa học.
II. PHƯƠNG PHÁP ÐO NHIỆT
Là nhà duy vật kiên định, Liebig cho rằng gluxit và lipit là chất đốt đối với cơ thể. Ðó là một bước tiến rõ rệt so với Lavoisier đã sống cách đó nửa thế kỷ. Nếu Lavoisier chỉ nói về carbon, hydro, thì bây giờ người ta có thể nói về các hợp chất chuyên hóa hơn đó là Gluxit, lipit cấu tạo từ carbon và hydro (cộng với oxy).
Dĩ nhiên, quan điểm của Liebig đã kích thích các nhà bàc học khác muốn xác định nhiệt lượng mà cơ thể tiếp nhận có bằng nhiệt lượng tỏa ra khi đốt gluxit, lipit ở ngoài cơ thể hay không. Những thí nghiệm thô sơ của Lavoisier đã trả lời khẳng định về vấn đề đó. Nhưng sự cải tiến đáng kể kỹ thuật đo đạc đã đòi hỏi phải kiểm tra lại các dẫn liệu.vào những năm 60 của thế kỷ XIX, Becterlle đã dùng nhiệt lượng kế để xác định nhiệt lượng tỏa ra khi đốt. Người ta trộn lẫn chất đốt với oxy trong một cái buồng kín và làm nổ hổn hợp ấy bằng điện. Buồng kín đặt trong chậu nước. Lượng nhiệt tỏa ra được xác định bằng sự tăng nhiệt độ của nước.
Ðể xác định lượng nhiệt sản sinh trong cơ thể cần phải làm một nhiệt lượng kế có kích thước đủ lớn đề có thể đặt sinh vật vào đó. Có thể tính lượng gluxit và lipit mà cơ thể đốt cháy theo lượng khí carbonic mà sinh vật giải phóng ra ngoài, và theo lượng oxy cần thiết cho cơ thể. Lượng nhiệt do cơ thể tỏa ra được xác định bằng cách đo nhiệt độ của lớp nước bao quanh nhiệt lượng kế. Lượng nhiệt ấy so sánh với lượng nhiệt mà cơ thể thu được khi đốt khối gluxit và lipit tương đương ở ngoài cơ thể.
Nhà sinh lý học Ðức là Car Fôit (1831 - 1908) học trò của Libic, cùng với nhà vệ sinh học người Ðức là Mar Petencofe (1818 - 1901) đã chế tạo ra máy đo nhiệt lượng lớn có thể đặt động vật thậm chí đặt cả người vào trong đó. Những kết quả thực nghiệm của họ đã xác nhận rằng mô động vật không có những nguồn năng lượng nào khác ngoài những nguồn năng lượng đã có trong thế giới vô sinh.
Học trò của Foit là Mar Rubne(1854 - 1932) đã tiếp tục nghiên cứu và bằng thực nghiệm đã chứng minh được rằng định luật bảo toàn năng lượng có thể áp dụng được với cơ thể sống. Khi so sánh lượng nitơ có trong nước tiểu và lượng nitơ có trong thức ăn cung cấp cho những động vật ấy trước khi thí nghiệm, khi ông chứng minh (1884) rằng gluxit và lipit không thể là nguyên liệu duy nhất nhập vào cơ thể. Những phân tử protit sau khi tách khỏi phần có chứa nitơ cũng có thể dùng như chất đốt. Khi coi protit như là một nguồn năng lượng do thức ăn sản ra trong cơ thể bằng năng lượng thu được khi đốt những thức ăn đó ở ngoài cơ thể (tính cả số năng lượng chứa trong nước tiểu và phân ).
Như vậy, định luật bảo toàn năng lượng đúng với cả thế giới vô cơ lẫn thế giới hữu cơ. Sự khám phá ra định luật ấy đã giáng một đòn chí mạng vào những quan điểm sinh lực luận.
Những phương pháp định lượng mới đã được áp dụng ngay trong y học. Nhà sinh lý học người Ðức là Adonf Magnut Levi (1865 -- 1855) đã xác định mức trao đổi năng lượng ở người (nhịp điệu trao đổi chất cơ bản). Magnut Levi đã tìm ra ở đây những sự biến đổi đáng kể trao đổi chất cơ bản khi có bệnh liên quan đến tuyến giáp trạng. Từ đó phép đo trao đổi chất cơ bản đã trở thành phương pháp quan trọng để chẩn đoán bệnh.
III. SỰ LÊN MEN
Những thành tựu của phương pháp đo nhiệt ở nửa sau của thế kỷ XIX, tuy vậy, đã không đụng chạm tới bản thân những cơ sở của sinh lực luận. Hòn đá và con người đứng trên đó đều là vật chất. Nhưng ở giữa hai dạng vật chất ấy là một ranh giới không thể vượt qua được đã ngăn cách vật chất hữu cơ. Khi ranh giới đó có thể xóa bỏ thì những nhà sinh lực luận lại túm ngay lấy protit. Ngoài ra, sau khi thừa nhận sinh vật có thể sử dụng năng lượng của giới vô sinh thì họ tin rằng những phương pháp sử dụng năng lượng ấy khác nhau tận gốc rễ.
Chẳng hạn sự cháy xảy ra ngoài cơ thể kèm theo việc tỏa ra một khối lượng lớn nhiệt và ánh sáng; quá trình ấy xảy ra rất nhanh. Khi đốt cháy thức ăn trong cơ thể thì khối lượng nhiệt tỏa ra không lớn lắm và không phát ra ánh sáng. Bình thường, nhiệt độ cơ thể khoảng 3608, sự cháy xảy ra rất chậm và được điều chỉnh hoàn hảo. Khi nhà hóa học muốn làm lại trong phòng thí nghiệm phản ứng đặc trưng của mô sống thì họ buộc phải có các biện pháp tác động mạnh - nhiệt độ cao, dòng điện, thuốc thử mạnh - mà mô sống không cần dùng.
Sự sai khác chủ yếu giữa vật chất sống và vật chất không sống, phải chăng chính là ở chỗ này? Liebig cho rằng điều đó không đúng như vậy, và để dẫn chứng, ông đã nêu ví dụ về sự lên men. Từ thời kỳ tiền sử, loài người đã biết ép nước quả và ngâm hạt để làm rượu vang và bia. Loài người đã dùng men rượu hoặc nấm men (như mọi người thường gọi) làm bột nở. Bột mì nở và xốp, trong đó hình thành các bọt khí. Ruột bánh mì sẽ mềm và ngon.
Các chất hữu cơ đã tham gia vào quá trình này. Ðường hay là tinh bột được biến thành rượu, cái đó giống những phản ứng xảy ra trong mô sống. Nhưng khi lên men thì không cần có những chất tác dụng mạnh hoặc những biện pháp khác. Sự lên men xảy ra ở nhiệt độ trong phòng, với nhịp điệu bình thường, chậm chạp. Liebig đã thấy một quá trình hóa học đơn thuần xảy ra trong quá trình lên men. Không có một lực sống nào tham gia vào quá trình ấy và ông khẳng định quá trình giống như sự chuyển hóa trong cơ thể sống, nhưng nó xảy ra không có chất sống tham gia.
Cần lưu ý rằng, ngay từ thời Leewenhoek, người ta đã biết nấm men bao gồm những hạt hình cầu nhỏ bé không có dấu hiệu của sự sống. Vào những năm 1836 và 1837 các nhà sinh học, trong đó Schwann, đã thấy quá trình nảy chồi ở nấm men thành những hạt cầu nhỏ bé mới là dấu hiệu biểu hiện rõ rệt của sự sống. Các nhà sinh học nói nhiều về những tế bào nấm men, nhưng Liebig đã bác bỏ những nhận định đó.
Nhà bác học Pháp là Louis Pasteur (1822 -- 1895) đã bảo vệ bản chất sống của nấm men. Năm 1856 những người Pháp nấu rượu vang đã mời ông làm cố vấn. Rượu vang và bia bảo quản lâu thường bị chua và gây thiệt hại hàng triệu đồng. Các nhà hóa học có thể giúp đỡ được gì không?
Pasteur đã phát hiện ra quy luật khá lý thú là rượu vang và bia được bảo quản tốt có chứa những tế bào nấm men tròn, nhỏ. Còn nếu chất nước đó bị chua thì những tế bào nấm men bị kéo dài ra. Như vậy có hai loại nấm men: loại tạo thành rượu và loại làm rượu chua dần. Ðun nóng nhẹ sẽ giết chết các tế bào nấm men và làm ngừng quá trình gây chua. Nếu làm đúng lúc sau khi đã hình thành rượu nhưng chưa bắt đầu có sự gây chua thì có thể bảo quản được rượu vang. Thực tiễn đã xác nhận những kết luận của Pasteur là đúng. Khi nghiên cứu quá trình này, Pasteur đã làm sáng tỏ hai mặt của vấn đề. Thứ nhất: các tế bào nấm men là những cơ thể sống, vì chỉ khi đun nóng nhẹ là có thể thủ tiêu khả năng lên men; tế bào vẫn còn lại không bị phá hủy, nhưng trong chúng sự sống đã bị hủy diệt. Thứ hai: chỉ có những tế bào nấm men sống mới gây ra sự lên men. Cuộc tranh luận giữa Pasteur và Libic đã kết thúc, Pasteur và phái sinh lực luận đã toàn thắng.
Tiếp đó Pasteur đã tiến hành một thí nghiệm nổi tiếng của mình về vấn đề tự sinh - một đề tài củng cố chỗ đứng của phái sinh lực luận ngay từ thời Spanllanzani. Những người cầm đầu tôn giáo, dĩ nhiên, nhiệt liệt chào mừng sự phủ nhận học thuyết tự sinh bởi vì họ chấp nhận sự sống sinh ra trên trái đất là do Thượng đế. Cũng như những nhà duy vật ở giữa thế kỷ XIX đã nhiệt tình ủng hộ quan điểm tự sinh, Spanllanzani đã chứng minh rằng nếu khử trùng nước canh thịt và để cách ly không nhiễm bẩn thì trong số đó sẽ không có bất cứ một dạng sống nào xuất hiện. Trên cở sở này rút ra kết luận nhiệt đã hủy diệt bất cứ sự sống ban đầu nào ở trong bình bịt kín không khí
Pasteur đặt thí nghiệm (1860) để cho không khí thường không hâm nóng vẫn tiếp xúc được với nước canh thịt được đun sôi và khử trùng trong phòng. Nước canh thịt đựng trong bìng cổ cong chữ S, không khí không hâm nóng có thể tự do vào trong bình, còn những chất bẩn rơi vào phần đáy uốn cong của cổ hình chữ S và không rơi được vào bình. Trong điều kiện đó, những sinh vật trong nước canh thịt không sinh sản, nhưng nếu bỏ cổ bình thì các chất sẽ rơi vào bình và sẽ bẩn rất nhanh. Như vậy không còn câu hỏi về không khí đun nóng hoặc không đun nóng, về sự sống khởi đầu đã bị diệt hoặc không bị tiêu diệt. Thực chất của vấn đề là ở chỗ bụi rơi vào nước canh thịt kèm theo những vi khuẩn lơ lửng trong không khí, chúng sinh sản và sinh trưởng trong nước canh thịt.
Vào những năm thứ 50 của thế kỷ XIX, thầy thuốc người Ðức là Rudolf Virchow (1821 - 1902), được công nhận là người sáng lập ra môn giải phẫu bệnh lý hiện nay-- khoa học về sự biến đổi mô do bệnh, ông tiếp tục nghiên cứu những mô bị bệnh và chứng minh rằng học thuyết tế bào có thể áp dụng được với các mô bị bệnh cũng như mô của cơ thể khỏe mạnh. Những tế bào của mô bị bệnh sinh ra từ các tế bào bình thường của mô khỏe mạnh. Ở đây người ta không quan sát thấy sự phá hủy tính kế thừa, chẳng hạn như sự xuất hiện những tế bào bất bình thường từ một khởi nguyên còn chưa biết. Năm 1855, Virchow đã trình bày luận điểm chủ yếu trong học thuyết tế bào của mình: Mọi tế bào đều sinh ra từ tế bào bằng cách phân chia.
Như vậy Virchow và Pasteur đã chứng minh hoàn toàn rõ ràng rằng mỗi tế bào, coi như một sinh vật độc lập hoặc một bộ phận của sinh vật đa bào, sinh ra từ tế bào đã có trước đó. Chưa bao giờ sinh vật lại được phân biệt với giới vô sinh một cách minh bạch và triệt để đến như vậy. Chưa bao giờ chỗ đứng của sinh lực luận lại tỏ ra vững vàng như lúc này.
IV. ENZIM
Nếu trong cơ thể sống diễn ra những biến đổi hóa học không thể thực hiện được trong thiên nhiên vô sinh, thì chúng cần có sự hỗ trợ của những biện pháp vật chất nào đó ( ở thế kỷ XIX người ta đã khó có thể dựa vào lực lượng siêu nhiên). Bản chất của những biện pháp vật chất ấy dần dần được làm sáng tỏ.
Ngay ở thế kỷ XIX, các nhà hóa học phát hiện thấy đôi khi có thể làm tăng tốc độ phản ứng bằng cách cho các chất khác nhau vào phản ứng; những chất này rõ ràng không tham gia vào phản ứng. Ở đầu thế kỷ XIX người ta đặc biệt chú ý tới vấn đề này. Năm 1811, nhà hóa học Nga là Konxtantin Xigizmundovits Kirgof (1764 -- 1833) chứng minh rằng tinh bột bị đun sôi với axit bị phân hủy thành đường đơn giản -- glucoza; quá trình này không diễn ra nếu có axit. Axit, có lẽ không tham gia phản ứng và không bị mất đi trong quá trình tinh bột bị thủy phân.
Năm 1817, nhà bác học người Anh Hămfri Ðevi (1778 -- 1829) đã phát hiện ra khả năng của hơi rượu và ete tự oxy hóa trên bạch kim ở nhiệt độ trong phòng. Bạch kim tất nhiên sẽ không tham gia vào phản ứng.
Những ví dụ này và những ví dụ khác đã làm Berzelius chú ý và ông gọi hiện tượng tăng nhanh tốc độ của những chất mà kết thúc phản ứng vẫn tồn tại và không đổi là hiện tượng xúc tác ( 1835 ) ( từ tiếng Hylạp: katalysis - hòa tan, phân hủy); và có lẽ hiện tượng ấy đúng với quá trình phân thủy tinh bột do axit xúc tác.
Thông thường, chỉ khi nào bị đun đến nhiệt độ cao thì hơi rượu mới bị bốc cháy trong không khí. Khi có bạch kim làm xúc tác thì phản ứng cháy ấy xảy ra không đòi hỏi phải đun nóng trước. Có lẽ các quá trình hóa học ở trong mô sống diễn ra trong điều kiện rất nhẹ nhàng, vì trong mô có nhiều chất xúc tác khác nhau mà người ta không thấy nó ở thiên nhiên vô sinh.
Thật vậy, năm 1833, trước công trình của Berzelius, nhà hóa học Pháp là Anxen Pain (1795 -- 1871) đã chiết rút được từ mầm đại mạch chất có thể phân hủy tinh bột thành đường, thậm chí còn nhanh hơn dùng axit; ông gọi chất ấy là Ditaza. Diataza và các chất tương tự khác được gọi là men (enzim) vì sự biến tinh bột thành đường là một trong những giai đoạn đầu của sự lên men hạt.
Sau đó chả bao lâu, người ta đã phân lập được enzim ngay từ những cơ thể động vật. Men của dịch dạ dày là một trong các loại men biết đầu tiên. Ngay Reomua đã khẳng định rằng sự tiêu hóa thức ăn là quá trình hóa học. Năm 1821, thầy thuốc người Anh là William Broune (1785 - 1850) đã lấy được axit chlohydric từ dịch dạ dày. Axit chlohydric là một chất vô cơ đơn thuần, vì thế tách được axit này là một việc mà các nhà hóa học không ngờ tới. Năm 1836, Schwann một trong những người sáng lập ra học thuyết tế bào, đã tinh chế được dịch dạ dày không có chứa axit chlohydric có hiệu lực phân hủy thịt cao hơn nhiều so với axit. Schwann gọi chất đó là Pepsin (từ tiếng Hylạp là Pepsis -- tiêu hóa ) -- một loại men thật sự.
Số men này càng được phát hiện nhiều hơn. Và đến nửa sau của thế kỷ XIX người ta đã hoàn toàn hiểu rõ men là chất xúc tác, nếu chỉ nói về các mô sống, nhờ có men mà cơ thể thực hiện được những việc mà người làm thí nghiệm không thực hiện được. Và như thế protit vẫn là cái lá chắn đỡ đòn cho các nhà sinh lực luận, vì có rất nhiều dẫn liệu chứng minh bản chất protit của men (mặc dù trước thế kỷ XX người ta vẫn chưa chứng minh được chính xác). Nhưng chỗ đứng của các nhà sinh lực luận có chỗ yếu: đó là men hoạt động cả ở trong và ngoài tế bào. Men được tách từ dịch dạ dày phân hủy được thức ăn trong ống nghiệm. Có lẽ, nếu tạo ra được những chất tiêu chuẩn của tất cả các men, thì có thể sao lại trong ống nghiệm bất cứ phản ứng nào, xảy ra trong cơ thể sống, không có sự can thiệp của sinh vật, vì bản thân men ít nhất là các men đã được nghiên cứu) không phải là vật sống. Ngoài ra men cũng chịu tác động bởi các quy luật chi phối các chất xúc tác vô cơ, ví dụ: axit hoặc bạch kim.
Các nhà sinh lực luận buộc phải công nhận là men của dịch dạ dày tiếp tục hoạt động ở bên ngoài tế bào; bởi vì dịch dạ dày có thể rót vào trong ống nghiệm. Nhưng họ nói rằng có cả những men chỉ thể hiện hoạt tính khi ở trong tế bào. Những men này không nằm trong sự hiểu biết thông thái của các nhà hóa học. Những nhà sinh lực luận chia men ra làm hai nhóm: nhóm men vô cơ ( như pepsin ) có thể tách khỏi tế bào sống và vẫn giữ được tác dụng xúc tác ở ngoài tế bào và nhóm hữu cơ như họ đã giả định, không có tác dụng xúc tác khi tách khỏi hoạt động sống của tế bào sống.
Vào năm 1878, nhà sinh lý học người Ðức là Vinhem Cune (1737 -- 1900) đã đề nghị gọi nhóm men vô cơ là enzim từ tiếng Hylạp : en - ở trong, zyme -- nấm men); còn nhóm men hữu cơ vẫn giữ tên là men (fecmen).
Năm 1897, những công trình của nhà hóa học người Ðức Le Edua Bucne (1860 - 1917), đã bất ngờ làm sứt mẻ quan điểm của những nhà sinh lực luận. Sau khi phá hủy khối nấm men và lọc, Bucne đã lấy được dịch nấm men tự do tách khỏi các tế bào sống và để cho dịch này không bị nhiễm khuẩn, ông thêm vào dịch một dung dịch đường đậm đặc. Bucne đoán trước là dịch này không có khả năng lên men. Nhưng ông vô cùng ngạc nhiên khi thấy đường dần dần bị lên men. Ông đặt hết thí nghiệm này đến thí nghiệm khác, bằng cách giết hết những tế bào nấm men song kết quả vẫn là một: các tế bào nấm men chết đã làm cho đường lên men tốt như tế bào sống vậy.
Ðến cuối thế kỷ XIX, người ta hoàn toàn biết rõ tất cả các men hữu cơ đều là các chất chết. Những men được tách khỏi tế bào hoạt động rất có hiệu lực trong ống nghiệm. Người ta dùng tên enzim cho tất cả các loại men, sau khi công nhận rằng không có những chất hóa học đặc biệt nào có thể biểu hiện hoạt tính của mình chỉ khi có mặt một lực sống nào đó ở trong tế bào.
Lời tuyên bố dứt khoát của Pasteur cho rằng sự lên men không thể thực hiện được nếu thiếu các cơ thể sống chỉ áp dụng được đối với các quá trình diễn ra trong tự nhiên. Loài người đã biết nuôi tế bào nấm men một cách nhân tạo, đã biết giữ các men có trong tế bào nấm men không bị đụng chạm tới sau khi đã phá hủy và làm chết các tế bào đó -- hiện nay sự lên men đã có thể tiến hành ngoài cơ thể sống. Hơn lúc nào hết, lúc này sinh lực luận đã bị nếm đòn thất bại nặng nề nhất, nhưng sự thất bại hoàn toàn của sinh lực luận vẫn chưa tới. Người ta còn nhiều điều cần phải biết về phân tử Protit -- nếu ở chỗ nào đấy, người ta lại phát hiện được sự biểu hiện của lực sống thì sao? Ðặc biệt, chừng nào mà người ta vẫn chưa đánh đổ một lời tuyên bố của Pasteur (và Virchow) - về sự xuất hiện của tế bào từ tế bào, -- thì loài người vẫn chưa thể nói là đã nắm được bản chất của sự sống. Thế là, dù sao các nhà sinh lực luận đã mất mảnh đất của họ. Một số nhà sinh vật vẫn tiếp tục nói một cách mơ hồ, về những biểu hiện của lực sống nào đó (thậm chí cho đến tận bây giờ người ta vẫn còn nói về vấn đề đó). Mọi người đều thừa nhận rằng sự sống chịu tác động bởi những quy luật điều khiển giới vô sinh, rằng không có những vấn đề trong sinh học mà người ta không thể thực hiện được trong điều kiện phòng thí nghiệm và không có một quá trình sống nào lại không thể không họa lại được ngoài cơ thể sống. Quan điểm duy vật trở thành quan điểm thống trị.
http://www.ctu.edu.vn/coursewares/supham/luocsusinhhoc/chuong8.htm _________________ tui là băng giá - ko ai làm tui tan chảy được đâu |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
Belaya Zima Kvas Nga - Квас


Tham gia từ: 05 Jun 2007 Bài viết: 665 Đến từ: Hà Nội
|
Gửi: 12-Jun-2007 10:12 pm Tiêu đề: Re: Những nhà khoa học vĩ đại của Nga
|
|
|
Ivan Petrovich Pavlov(1849-1936) - Nhà sinh vật học kiệt xuất nhất thế giới
Ivan Paplop là nhà tâm lý học người Nga. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông thi vào Trường Đại Học Petécbua, học khoa học tự nhiên, ông đã giành được học vị thạc sỹ khoa học tự nhiên rồi tiến sỹ y học, sau đó ông nghiên cứu sinh học. Vì có thành tựu to lớn trong lĩnh vực sinh lý học tiêu hoá, tháng 10 năm 1904, ông đã được tặng giải thưởng Nobel, ông là nhà sinh lý học đầu tiên được nhận giải thưởng này. Học thuyết về hoạt động thần kinh cao cấp của ông có già trị vô cùng quan trọng đối với nghiên cứu y học, tâm lý học.
Paplop là nhà sinh lý học, nghiên cứu và phát hiện của ông mang ý nghĩa toàn cầu. Ngay từ khi còn nhỏ, ông đã có hứng thú và lòng yêu mến đối với khoa học. Lúc còn nhỏ, Paplop sống ở một thị trấn nhỏ ở miền trung nước Nga, cha ông là mục sư, gia đình tương đối đông con. Do thu nhập thấp nên cuộc sống tương đối khó khăn. Cha Paplop là người rất nghiêm khắc đối với con cái, ông tự dạy các con học nghề mộc, dạy các con trồng rau, trồng hoa. Ngay khi còn nhỏ Paplop đã phải giúp cha mẹ lo liệu việc nhà. Khi đó , ông là một đứa trẻ có óc tưởng tượng, giỏi quan sát, làm việc gì cũng tỏ ra có nghị lực và bền bỉ.Paplop cũng là đứa trẻ có tính kiên nhẫn trong mọi việc. Có một lần cha sai hai anh em ra vườn đào hố trồng cây. Hai anh em đào rất vất vả, cả hai anh em mồ hôi ướt đầm, cha cậu ra nhìn thầy liền chau mày nói:" Các con đào sai vị trí rồi, phải đào lại hết". Em trai nghe vậy vô cùng nản lòng liền ngồi phục xuống đẩt, không muốn đào nữa. Paplop không phàn nàn gì , cầm mai lên đào theo cha. Em trai thấy vậy cũng đành đứng dậy đào theo. Cha ông lặng lẽ nhìn hai anh em, một lúc sau cười vui vẻ nói với hai anh em " Được rồi, các con không phải đào nữa". Thì ra chíng người cha muốn luyện cho các con tính kiên nhẫn. Đức tính kiên nhẫn của Paplop đã giúp ông rất nhiều để ông có được những thí nghiệm thành công sau này.
Paplop rất ham đọc sách. Trong nhà ông có rất nhiều sách tiến bộ. Năm 13 tuổi, ông đã đọc rất nhiều tác phẩm nổi tiếng. Về sau, Paplop dần dần có hứng thú với sách giáo khoa về sinh lý, đối với một số hiện tượng sinh vật học và các thí nghiệm nhỏ đọc được trong sách ông cảm thấy đặc biệt thú vị và mới mẻ. Ông khao khát đọc được nhiều hơn nữa những thể loại sách này. Khi học ở trường Thần học, Paplop luôn là học sinh ngoan, xuất sắc. Nhưng ông không thích học thần học, ông đến Petecbua để vào trường đại học sinh lý học là ngành mà ông hứng thú nhất. Cha Paplop biết suy nghĩ của con, nhưng ông không phản đối. Cha của ông nói:" Con đã chọn đường đi cho mình thì đừng sợ khó khăn gian khổ, hãy kiên trì đường đi của mình". Paplop nghe lời cha, một mình đến Petecbua bắt đàu học sinh lý học.
Paplop có đề tài nghiên cứu về vấn đề tiết dịch vị. Chúng ta đều biết khi người ta ăn vào dạy dày, sẽ tiết ra một lượng lớn dịch vị để giúp tiêu hóa thức ăn. Paplop tiến hành thí nghiệm đối với chó, ông muốn biết đại não truyền mệnh lệnh cho dạ dày như thế nào. Có một hôm Paplop và người trợ lý của ông tiến hành thí nghiệm tiết dịch vị đối với chú chó già đã đựơc thuần dưỡng nhiều năm. Con chó này đã sống ở phòng thí nghiệm rất nhiều năm, nó quen tất cả các nhân viên làm thí nghiệm ở đây. Chú chó này đứng trên bục thí nghiệm, từng giọt dịch vị chảy ra và được đưa vào một cái khay thông qua một ống dẫn. Phòng thí nghiệm im phăng phắc đến mức nghe được cả tiếng thở nhẹ. Thời gian chầm chậm trôi. Đã một giờ trôi qua, nhân viên làm thí nghiệm vừa quan sát , vừa ghi chép. Dịch vị của chú chó tiết ra bình thường, mỗi phút khoảng 25 giọt. Bỗng nhiên ngoài cửavọng vào tiếng bước chân của một nhân viên nuôi chó, rồi người nhân viên này bê thức ăn của chú chó đi qua của phòng thí nghiệm, bước chân xa dần rồi mất hẳn. Nhân viên làm thí nghiệm lúc đó phát hiện ra rằng dịch vị chú chó tiết ra tăng lên nhiều, mỗi phút khoảng 100 giọt. Hiện tượng này chưa từng xảy ra. Họ mời Paplop đến để báo cáo với ông hiện tượng kỳ lạ này. Paplop nghe xong rất ngạc nhiên , ông cẩn thận quan sát phòng thí nghiệm những cũng không phát hiện ra điều gì. Ông đắm chìm trong suy nghĩ.
Những nhân viên nói với Paplop rằng họ phát hiện cứ khi nào nhân viên nuôi chó đi qua là dịch vị của chú chó tiết ra lại tăng lên. Ông bảo anh nhân viên nuôi chó đi lại khoảng 15 phút trong 3 lần. Kết quả vẫn thấy vậy. Bây giờ ông có thể đưa ra kết luận "Bước chân của nhân viên nuôi chó làm cho dịch vị của chó đột nhiên tăng lên nhiều". Paplop nghĩ :" tiếng bước chân của nhân viên nuôi chó làm cho dịch vị của chó tiết ra tăng lên. Tiếng bước chân cho chú chó biết thức ăn sắp được đưa tới, thông quan thần kinh đại não ra mệnh lệnh làm cho dạ dày tiết ra dịch vị". Từ phát hiện này, Paplop nghĩ đến bất kỳ một loại tín hịêu nào như tiếng chuông, ánh sáng, còi, nước chảy v.v... Chri cần gắn liền với sự xuất hiện của thức ăn trong một thời gian liên tục nào đó thì chắc chắn nó sẽ có hịêu quả.
Ông lặp lại thí nghiệm này nhiều lần. Nhưng thí nghiệm này chỉ có tác dụng với những chú chó đã ở lâu trong phòng thí nghiệm. Còn với những chú chó mới được nuôi thì không được. Paplop cho rằng đây là loại phản ứng đối với sự kích thích từ bên ngoài.Ông gọi đó là " phản xạ có điều kiện". Sau này Paplop còn đi sâu nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến hoạt động thần kinh.Ông hoàn thành tác phẩm của mình. Vì những thành tựu này, Paplop được nhận giải thưởng Nobel. Paplop biết rằng khoa học là vô hạn,ông phải tiếp tục phấn đấu không mệt mỏi cho nó. Ông đã nói rằng " Khoa học yêu cầu mỗi người phải có tinh thần làm việc hết sức khẩn trương và sịư nhiệt tình to lớn".
Credit: NXB LĐXH _________________ Một bài ca giờ này tôi hát
Một đất nước gắn bó thân thương
 |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
Belaya Zima Kvas Nga - Квас


Tham gia từ: 05 Jun 2007 Bài viết: 665 Đến từ: Hà Nội
|
Gửi: 13-Jun-2007 7:41 pm Tiêu đề: Re: Những nhà khoa học vĩ đại của Nga
|
|
|
Vladimir Arnold
Vladimir Igorevich Arnold (Tiếng Nga: Влади́мир И́горевич Арно́льд, sinh ngày 12 tháng 6, năm 1937 tại Odessa, Liên xô) là một trong những nhà toán học có nhiều cống hiến nhất trên thế giới. Trong lúc ông nổi tiếng với định lý Kolmogorov-Arnold-Moser về độ ổn định của hệ thống Hamiltonian, ông đã có nhiều đóng góp quan trọng khác trong nhiều lãnh vực bao gồm học thuyết về hệ thống động lực, Địa hình học, Hình học đại số, Cơ học Cổ điển và Định lý duy nhất suốt hơn 45 năm sau khi ông tìm được đáp án cho bài toán thứ 13 của Hilbert vào năm 1957.
Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Quốc gia Moskva vào năm 1959, ông tiếp tục làm việc tại đó cho đến năm 1986 (ông bắt đầu làm Giáo sư từ năm 1965), và kế đó làm việc tại Viện Toán học Steklov. Ông trở thành Viện sĩ của Viện Hàn lâm Khoa học Liên xô vào năm 1990 (và là Viện Hàn lâm Khoa học Nga từ năm 1991) [1]. Giả định của Arnold dựa vào một số điểm cố định của Hamiltonian symplectomorphism và sự giao nhau Lagrangian là động cơ thúc đẩy quan trọng trong sự phát triển của Tính tương đồng Floer.
Credit: wikipedia.org _________________ Một bài ca giờ này tôi hát
Một đất nước gắn bó thân thương
 |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
Belaya Zima Kvas Nga - Квас


Tham gia từ: 05 Jun 2007 Bài viết: 665 Đến từ: Hà Nội
|
Gửi: 13-Jun-2007 7:47 pm Tiêu đề: Re: Những nhà khoa học vĩ đại của Nga
|
|
|
Andrey Nikolaevich Kolmogorov
"Lý thuyết xác suất như là một ngành của toán học có thể và nên được phát triển từ các tiên đề trong một cách thức chính xác như là Hình học và Đại số."
Andrey Nikolaevich Kolmogorov (tiếng Nga: Андре́й Никола́евич Колмого́ров; 25 tháng 4 năm 1903 – 20 tháng 10 năm 1987) là một nhà toán học Liên Xô đã có nhiều đóng góp lớn trong lý thuyết xác suất và tô pô. Sinh ra trong một gia đình người Nga ở Tambov, Nga, ban đầu của sự nghiệp ông làm về logic, và chuỗi Fourier. Ông cũng làm về chuyển động hỗn loạn, cơ học cổ điển, và tin học. Tuy nhiên, công trình quan trọng nhất của ông là các đóng góp trong lý thuyết xác suất, các biến ngẫu nhiên, và quá trình ngẫu nhiên và đặt chúng lên một nền tảng toán học vững chắc. Một phương trình quan trọng ông phát triển trong các quá trình ngẫu nhiên gọi là phương trình Chapman-Kolmogorov, với sự quan trọng trong ngành này tương tự như là phương trình E = mc^2 trong vật lý.
Kolmogorov làm việc tại Đại học Quốc gia Moscow. Ông nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của Nikolai Luzin, lấy được Ph.D. vào năm 1929. Vào năm 1931 ông trở thành giáo sư tại đại học này. Vào năm 1939 ông nhận danh hiệu Viện sỹ của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Ông là người sáng lập ra lý thuyết độ phức tạp của thuật toán mà thường được nhắc đến đơn thuần là độ phức tạp Kolmogorov. Ông qua đời ở Moscow vào năm 1987.
Credit: wikipedia.org _________________ Một bài ca giờ này tôi hát
Một đất nước gắn bó thân thương
 |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
Belaya Zima Kvas Nga - Квас


Tham gia từ: 05 Jun 2007 Bài viết: 665 Đến từ: Hà Nội
|
Gửi: 13-Jun-2007 7:51 pm Tiêu đề: Re: Những nhà khoa học vĩ đại của Nga
|
|
|
Nikolai Ivanovich Lobachevsky
Nikolai Ivanovich Lobachevsky (1 tháng 12 năm 1792 – 12 tháng 2 năm 1856) là một nhà toán học Nga, người đã có công rất lớn trong việc xây dựng hình học phi Euclide, một bước phát triển mới thoát ra khỏi hình học cổ điển, tạo cơ sở toán học cho lý thuyết tương đối rộng sau này.
Lobachevsky sinh tại Nizhny Novgorod, Nga. Bố là Ivan Maksimovich Lobachevsky, thư ký của một văn phòng luật, mẹ là Praskovia Alexandrovna Lobachevskaya. Cha ông mất năm 1800, sau đó, mẹ & ông rời đến Kazan. Tại đó, ông theo học trường Kazan Gymnasium, tốt nghiệp năm 1807 và sau đó là trường Đại học Kazan. Tại đây, ông được tiếp xúc với Martin Bartels (1769–1833), bạn của Carl Friedrich Gauss. Năm 1811, ông được chứng chỉ vật lý và toán học của trường ĐHTH Kazan. Năm 1814, ông bắt đầu công tác giảng dạy và năm 1822, chính thức trở thành giảng viên trường ĐHTH Kazan. Năm 1818, ông được mời làm viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Kazan. Ông đã từng giữ nhiều chức trách khác nhau của trường cho đến năm 1846.
Nhà toán học Gauss đã mời ông làm viện sĩ nước ngoài Viện Hàn lâm Khoa học Gottingen.
Về đời riêng, ông lấy Varvara Alexivna Moisieva năm 1832 và có với bà bảy người con.
Ông về hưu (hay có thể bị bãi nhiệm) năm 1846, và từ đó sức khỏe của ông giảm một cách nhanh chóng. Cuối cùng, ông bị mù vĩnh viễn, phải đọc cho người khác chép quyển PANGE "OMETRRIE" nổi tiếng trong lịch sử hình học thế giới.
Hình học Lobachevsky là hình học do ông xây dựng lên, từ ý tưởng không công nhận tính thống nhất hệ thống các tiên đề do Euclide xây dựng. Khởi đầu, các nhà toán học đương thời gọi hình học do ông xây dựng lên là hình học ảo, nhưng ngày nay hình học Lobachevsky đã trở nên rất thực được kiểm chứng qua các kết quả nghiên cứu thiên văn vũ trụ, và không gian Lobachevsky đã trở thành không gian thực.
Các tác phẩm: Cơ sở hình học (1930) ,Hình học ảo (1837) ,Cơ sở mới của hình học(1838) ,Khảo cứu mới về lí thuyết đường song song(1840) ,Panego'me'trie .
Credit: wikipedia.org _________________ Một bài ca giờ này tôi hát
Một đất nước gắn bó thân thương
 |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
Belaya Zima Kvas Nga - Квас


Tham gia từ: 05 Jun 2007 Bài viết: 665 Đến từ: Hà Nội
|
Gửi: 13-Jun-2007 7:54 pm Tiêu đề: Re: Những nhà khoa học vĩ đại của Nga
|
|
|
Sergei Lvovich Sobolev
Sergei L'vovich Sobolev (tiếng Nga: Сергей Львович Соболев; 6 tháng 10 năm 1908 – 3 tháng 1 năm 1989) là một nhà toán học người Nga, làm việc trong ngành giải tích và phương trình đạo hàm riêng. Ông được sinh ra ở Sankt-Peterburg, và mất ở Moskva.
Sobolev giới thiệu một số khái niệm bây giờ là cơ sở cho một số lãnh vực khác nhau của toán học. Không gian Sobolev có thể được định nghĩa bằng điều kiện tăng dần của biến đổi Fourier; chúng và các định lý nhúng (embedding theorem) là một chủ đề quan trọng trong giải tích hàm. Hàm số tổng quát (sau này được gọi là phân bố), được giới thiệu bởi Sobolev lần đầu tiên vào năm 1935 cho các nghiệm yếu, và được phát triển thêm bởi Laurent Schwartz; họ định nghĩa lại khái niệm đạo hàm. Cả hai phát triển này phát sinh trực tiếp từ các công trình của ông về phương trình đạo hàm riêng.
Sobolev tốt nghiệp từ Đại học Leningrad vào năm 1929, nơi ông là học sinh của Vladimir Smirnov. Ông làm việc ở Leningrad từ năm 1932, và tại Viện Toán học Steklov tại Moscow từ năm 1934. Ông là người lãnh đạo viện khi nó được sơ tán về Kazan trong Thế chiến thứ 2. Ông là giáo sư tại Đại học Quốc gia Moscow từ năm 1935 đến 1957 và cũng là viện phó của Viện Năng lượng Nguyên tử từ 1943-57.
Vào năm 1956 Sobolev tham gia một nhóm các khoa học gia lỗi lạc trong việc thiết lập hệ thống khoa học và giáo dục ở tầm mức lớn cho phần phía Đông của Liên Xô, kết quả là sự thành lập của Chi nhánh Siberia của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Ông là người thành lập và là viện trưởng đầu tiên của Viện Toán học ở Novosibirsk, sau này mang tên ông, và đóng một vai trò quan trọng trong việc thành lập và phát triển Đại học Quốc gia Novosibirsk.
Credit: wikipedia.org _________________ Một bài ca giờ này tôi hát
Một đất nước gắn bó thân thương
 |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
Belaya Zima Kvas Nga - Квас


Tham gia từ: 05 Jun 2007 Bài viết: 665 Đến từ: Hà Nội
|
Gửi: 14-Jun-2007 9:14 pm Tiêu đề: Re: Những nhà khoa học vĩ đại của Nga
|
|
|
Sofia Vasilyevna Kovalevskaya
Sofia Vasilyevna Kovalevskaya - chân dung một nhà khoa học nữ luôn đam mê khoa học, dám đấu tranh và hy sinh vì niềm đam mê, vươn lên chiếm lĩnh những đỉnh cao trong khoa học. Một giải thưởng mang tên bà - Giải thưởng Kovalevskaya, đã được ra đời đầu tiên tại Việt Nam năm 1985. Giải thưởng này sau đó còn được trao cho những nhà khoa học nữ xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên ở các nước Nicaragua, El Salvador, Peru và Nam Phi.
Sofia Kovalevskaya tên đầy đủ là Sofia Vasilyevna Kovalevskaya. Bà là nhà nữ toán học đầu tiên của Nga. Bà đã từng theo học Karl Weierstrass - một nhà toán học nổi tiếng người Đức. Năm 1884, bà được phong giáo sư tại Đại học Stockholm và là người phụ nữ thứ ba của châu Âu được phong hàm giáo sư.
Kovalevskaya sinh ngày 15.1.1850 tại Moscow, Nga. Cha là Vasily Vasilievich Krukovsky (1800-1874), một sỹ quan pháo binh mang hai dòng máu Ba Lan - Nga; mẹ là Elizaveta Fyodorovna Schubert (1820-1879), một phụ nữ người Đức, cháu gái của Theodor Schubert - một nhà toán học, thiên văn học của Viện Hàn lâm Khoa học St. Petersburg.
Toán học đã thực sự cuốn hút Sofia ngay từ nhỏ. Khi mới 11 tuổi, bà đã dán đầy bức tường trong phòng ngủ của mình những bài giảng của Ostrogradsky về phép tính tích phân và vi phân. Việc tự mình nghiên cứu những bài giảng đó chính là sự khởi đầu, đưa bà đến với thế giới toán học sau này. Bà đã viết trong nhật ký của mình: “Tôi không thể hiểu hết ý nghĩa của các khái niệm đó, nhưng dường như chúng đã truyền cho tôi một sự sùng bái toán học - một bộ môn khoa học cao quý, thiêng liêng và đầy bí hiểm, nơi có những con người kỳ diệu với những điều kỳ diệu”.
Cha của Sofia không muốn con gái theo đuổi ngành học này nhưng với sự quyết tâm, lòng đam mê của mình, bà đã mượn bản sao cuốn Đại số học của Bourdeu về nghiên cứu vào ban đêm, khi cả nhà đã đi ngủ. Trước sự đam mê của bà, giáo sư Tyrtov, một người hàng xóm, đã nói với cha của Sofia nên khuyến khích bà học toán. Tuy nhiên, phải mất vài năm sau, bà mới được phép theo học các khoá riêng về toán học.
Để tiếp tục con đường nghiên cứu khoa học của mình, tháng 9.1868, bà kết hôn giả với Vladimir Kovalevski - một nhà cổ sinh vật học trẻ tuổi (ở Nga thời đó, phụ nữ không được học đại học, muốn học đại học phải ra nước ngoài; nhưng muốn có hộ chiếu thì phải là con gái đã có chồng). Cuộc hôn nhân giả này đã gây ra nhiều vấn đề rắc rối cho Sofia với các cuộc tranh cãi triền miên và những hiểu lầm của người chồng.
Năm 1869, Sofia đến Heidelberg (Đức) để học toán và các môn khoa học tự nhiên khác, nhưng các trường đại học ở đây không tiếp nhận các sinh viên nữ. Bà phải nỗ lực thuyết phục để theo học dự thính và bà đã học rất tốt. Ngay lập tức, bà đã thu hút được sự chú ý của các giáo viên với khả năng tiếp nhận toán học một cách phi thường của mình. GS Konigsberger, nhà hoá học lỗi lạc Kirchhoff và các giáo sư khác trong trường đều yêu mến cô học trò xuất sắc của mình.
Năm 1871, theo sự giới thiệu của GS Konigsberger, bà chuyển đến Berlin (Đức) để theo học Weierstrass - thầy của Konigsberger. Nhưng, bất chấp những cố gắng của Weierstrass, Ban giám hiệu đã từ chối cho phép bà tham gia các khoá học. Chính sự khó khăn này lại là một may mắn lớn đối với Sofia khi bà được học riêng với Weierstrass hơn 4 năm. Mùa xuân năm 1874, bà đã công bố 3 bài báo nghiên cứu về khoa học, Weierstrass cho rằng, mỗi bài báo này xứng đáng với học vị tiến sỹ. Đó là các bài báo: Tích phân Abel (Abelian integrals); phương trình đạo hàm riêng (Partial differential equations) và bổ sung, nhận xét về nghiên cứu hình dáng vành sao Thổ - hành tinh thứ 6 của hệ Mặt trời (Saturn’s Rings). Bài báo đầu tiên về tích phân Abel được công bố trong Tạp chí Crelle năm 1875 là một sự đóng góp rất đáng chú ý, chứng tỏ bà đã làm chủ hoàn toàn lý thuyết của Weierstrass.
Tháng 6.1874, Kovalevskaya được nhận bằng tiến sỹ của Đại học Goettingen. Tháng 9.1874, trở về Petersburg, nhưng bà vẫn không có chỗ đứng trong giới khoa học. Có rất nhiều nguyên nhân nhưng vấn đề giới tính vẫn là nguyên nhân gây cản trở lớn nhất. Trong suốt 6 năm sau đó, bà không tiếp tục được công việc nghiên cứu ưa thích của mình. Năm 1878, bà sinh con gái. Năm 1880, bà quay lại Moscow, nhưng một lần nữa, những nỗ lực để làm nghiên cứu khoa học tại các trường đại học lại không thành. Một năm sau, bà rời Moscow tới Berlin, rồi Paris, bắt đầu trở lại các nghiên cứu toán học của mình. Năm 1882, bà bắt đầu nghiên cứu về khúc xạ ánh sáng và viết 3 bài báo về đề tài này.
Mùa xuân năm 1883, Vladimir, người chồng mà Sofia đã ly thân trong 2 năm, đã tự tử. Bà vùi đầu vào công thức toán học nhằm xua đi những cảm giác tội lỗi. Vượt qua những phản đối, cuối cùng bà đã giành được chức vụ giáo sư ngoại ngạch (privat docent) ở Stockholm (Thuỵ Điển). Bà bắt đầu giảng dạy ở đây từ năm 1884 và nửa năm sau, bà được phong quyền giáo sư (extraordinary professorship). Năm 1888, bà hoàn thành xuất sắc công trình “Về sự quay một vật rắn xung quanh một điểm đứng yên” và được giải thưởng của hai Viện Hàn lâm Khoa học: Pháp và Thụy Điển. Đến tháng 6.1889, bà là người phụ nữ đầu tiên được bầu là Viện sỹ Thông tấn của Viện Hàn lâm Khoa học St. Petersburg.
Trong những năm ở Stockholm, bà đã tiến hành nhiều nghiên cứu quan trọng và giảng dạy về những vấn đề mới trong giải tích, trở thành Tổng biên tập Tạp chí Toán học Acta, tham gia tổ chức các hội nghị khoa học quốc tế. Vị trí của bà đã làm thay đổi cái nhìn của xã hội đối với nữ giới. Bà bắt đầu viết hồi ký, sáng tác văn học, như viết tiểu thuyết “Người đàn bà theo chủ nghĩa hư vô”, “Những kỷ niệm thời thơ ấu” và những vở kịch - những công việc mà bà rất yêu thích khi còn trẻ.
Công trình được công bố cuối cùng của Kovalevskaya là một bài báo ngắn Về một định lý của M. Bruns (Sur un théorème de M. Bruns), trong đó bà đưa ra một chứng minh mới, đơn giản hơn định lý Bruns về tính chất của hàm thế năng (potential function) của vật thể đồng nhất (homogeneous body). Đầu năm 1891, khi đang trên đỉnh cao của sáng tạo toán học và vinh quang, Kovalevskaya đã mất vì cảm.
Sự ra đời của Giải thưởng Kovalevskaya Việt Nam
Vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX, tại Trường Đại học Princeton, bang New Jersey - một trong những Đại học danh tiếng của Hoa Kỳ - một cuộc biểu tình có quy mô lớn của sinh viên đã diễn ra nhằm phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam. 200 sinh viên đã bị bắt giữ, trong đó có ông Neal Koblitz và bà Ann Hibner - những người sau này trở thành tiến sỹ toán học và tiến sỹ sử học, đồng thời là đôi vợ chồng sáng lập ra Quỹ Kovalevskaya.
Gặp gỡ các nhà toán học Việt Nam tại các hội thảo khoa học quốc tế, và sau chuyến thăm Việt Nam năm 1978, ông bà Koblitz đã phát triển mối quan hệ hợp tác và hỗ trợ cho các nhà toán học Việt Nam cũng như Viện Toán học Việt Nam. Tuy nhiên, ý tưởng hỗ trợ các nhà khoa học nữ Việt Nam chỉ trở thành hiện thực trong lần thứ 3 ông bà tới thăm Việt Nam vào năm 1985. Được sự ủng hộ nhiệt tình của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (LHPNVN) và bà Nguyễn Thị Bình (lúc đó là Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), ông bà Koblitz đã quyết định thành lập Quỹ giải thưởng dành cho các nhà khoa học nữ Việt Nam trong lĩnh vực tự nhiên. Quỹ mang tên nhà nữ toán học vĩ đại người Nga thế kỷ XIX - Sofia Vasilyevna Kovalevskaya - người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử hiện đại đạt học vị tiến sỹ toán học, giáo sư trường đại học, viện sỹ thông tấn Viện Hàn lâm Nga và là người phụ nữ thứ ba ở châu Âu được phong hàm giáo sư. Cuộc đời bà là chủ đề luận văn tiến sỹ lịch sử của bà Ann Koblitz. Luận văn này đã được xuất bản thành sách và Quỹ Kovalevskaya đã được ra đời từ số tiền bản quyền ít ỏi đó. Sau đó, Quỹ tiếp tục được bổ sung từ tiền bản quyền các ấn phẩm khoa học của ông bà Koblitz và sự góp tặng của một số nhà khoa học Mỹ tiến bộ.
Ban đầu, Quỹ giải thưởng chỉ có ở Việt Nam, sau đó được phát triển sang Nicaragua, El Salvador, Peru và Nam Phi. Chủ tịch của Uỷ ban Giải thưởng Kovalevskaya Việt Nam là nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Hội LHPNVN là cơ quan thường trực. Lúc đầu, mỗi năm, Uỷ ban xét trao giải thưởng cho 2 nhà nữ khoa học tự nhiên xuất sắc, từ năm 1993 được chuyển thành một giải cá nhân và một giải cho tập thể các nhà khoa học nữ.
Mặc dù Giải thưởng không lớn (giải cá nhân trị giá 1.500 USD, giải tập thể 2.500 USD) nhưng đã góp phần động viên, khích lệ phụ nữ Việt Nam tham gia nghiên cứu và ứng dụng khoa học vào thực tiễn, khẳng định và nâng cao vị thế của nữ trí thức Việt Nam trong giới khoa học thế giới. Đồng thời cũng ghi nhận những đóng góp có giá trị kinh tế - xã hội cao và mang tính nhân văn sâu sắc của các nhà khoa học nữ Việt Nam vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển đất nước. Giải thưởng Kovalevskaya đã trở thành một giải uy tín lớn trong giới khoa học Việt Nam. Hơn 20 năm qua, Quỹ đã lựa chọn và trao giải cho 28 cá nhân và 12 tập thể xuất sắc. Ngoài việc trao giải thưởng cho các nhà khoa học nữ, Quỹ còn hỗ trợ nhiều hoạt động khác cho phụ nữ Việt Nam như: Học bổng cho các tài năng trẻ trong khoa học tự nhiên; tổ chức các hội thảo “Phụ nữ và khoa học”, “Phụ nữ và nông nghiệp”; hỗ trợ một số trang thiết bị nghe nhìn cho Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam; hỗ trợ máy khâu cho trung tâm dạy nghề của Hội LHPNVN...
Credit: Tạp chí hoạt động khoa học _________________ Một bài ca giờ này tôi hát
Một đất nước gắn bó thân thương
 |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
hongducanh Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tham gia từ: 10 Nov 2006 Bài viết: 358 Đến từ: Hà Nội
|
Gửi: 15-Jun-2007 12:08 am Tiêu đề: Những nhà khoa học vĩ đại của Nga
|
|
|
| Gửi thêm mấy bức ảnh về Mendeleev |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
Belaya Zima Kvas Nga - Квас


Tham gia từ: 05 Jun 2007 Bài viết: 665 Đến từ: Hà Nội
|
Gửi: 05-Jul-2007 7:52 pm Tiêu đề: Re: Những nhà khoa học vĩ đại của Nga
|
|
|
Pavel Sergeyevich Alexandrov
Pavel Sergeyevich Alexandrov sinh năm 1896 , mất năm 1982 là nhà toán học Nga. Ông là viện sĩ Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô năm 1953 và là viện sĩ thông tấn từ năm 1929, chủ tịch danh dự hội toán học Matcơva ( 1932 - 1964), thành viên ban biên tập bộ "Bách Khoa Toàn Thư Toán học", biên tập viên tập san "Những thành tựu của toán học". Alexandrov là thành viên của nhiều Viện Hàn Lâm khoa học và hiệp hội khoa học và ông được trao tặng rất nhiều giải thường.
Alexandrov là người sáng lập ra trường phái Topo Xô Viết được thế giới công nhận. Ông bắt đầu công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực lí thuyết tập hợp và lí thuyết hàm. Sau đó ông dành trọn vẹn cuộc đời để hoàn thiện Topo học!
Credit: Mathemmatics ND friends _________________ Một bài ca giờ này tôi hát
Một đất nước gắn bó thân thương
 |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
Belaya Zima Kvas Nga - Квас


Tham gia từ: 05 Jun 2007 Bài viết: 665 Đến từ: Hà Nội
|
Gửi: 05-Jul-2007 8:32 pm Tiêu đề: Re: Những nhà khoa học vĩ đại của Nga
|
|
|
Коnstаntin Eduаrdоvich Tsiolkovsky
Коnstаntin Eduаrdоvich Tsiolkovsky (1857 - 1935). Là nhà khoa học lý thuyết, nhà nghiên cứu và là người đặt nền móng cho ngành Du hành vũ trụ hiện đại, nhà sư phạm, nhà văn Nga - Xô Viết.
Ông sinh ra tại làng Izhevskoye nay thuộc huyện Spassky, tỉnh Ryazan trong một gia đình trung lưu. Bố của ông là Edward Tsiolkovsky , là một người Ba Lan, còn mẹ ông là bà Maria Yumasheva là người Nga. Khi còn là một đứa trẻ, Konstantin đã rất chăm chỉ và ham học hỏi. Ông không đựơc nhận vào trường học vì ông có vấn đề với đôi tai của mình, sau đó ông tự học ở nhà cho đến khi 16 tuổi.
Cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, Tsiolkovsky đã xây dựng lý thuyết về các loại máy móc phục vụ cho nghiên cứu vũ trụ, sau đó phát triển công việc với rất nhiều ý tưởng.Ông còn gặp gỡ với rất nhiều nhà khoa học và cùng hợp tác nghiên cứu.
Tsiolkovsky đã đạt được rất nhiều thành công trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Khi gần bị điếc, ông làm công việc giản djay môn Toán học cho đến năm 1920. Sau đó, các công trình nghiên cứu của ông được công nhận và đem lại cho ông nhiều vinh dự to lớn.Năm 1929, ông cho phát hành cuốn sách có tên " Space Rocket Trains".Ông mất ngày 19/9/1935 tại Kulaga.
Credit: lược dịch từ internet _________________ Một bài ca giờ này tôi hát
Một đất nước gắn bó thân thương
 |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
|
|
Bạn không thể gửi chủ đề mới Bạn không thể trả lời các chủ đề Bạn không thể sửa đổi bài viết của mình Bạn không thể xoá bài viết của mình Bạn không thể tham gia các bình chọn You cannot attach files in this forum You cannot download files in this forum
|
|