NuocNga.Net

Page Loading... please wait!



This page still doesn't show? Click here
 
Trang chủTrang chủ    Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Danh sách thành viênDanh sách thành viên   Nhóm làm việcNhóm làm việc Ban quản trịBan quản trị   Đăng kýĐăng ký 
 Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắnTin nhắn   Đăng nhậpĐăng nhập 
Chân trời văn học: Các nhà thơ Nga

 
Gửi bài mới   Trả lời cho chủ đề   printer-friendly view    NuocNga.Net -> Thi ca Nga
Chủ đề phía trước :: Chủ đề kế tiếp  
Tác giả Nội dung bài viết
NguyenAnh
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 71
Tham gia từ: 07 Aug 2005
Bài viết: 1325
Đến từ: TP Hồ Chí Minh

GửiGửi: 29-Jul-2006 8:42 am    Tiêu đề:  Chân trời văn học: Các nhà thơ Nga
Trả lời kèm trích dẫn

Để góp phần khơi dậy cảm hứng đọc, dịch và giới thiệu thơ Nga, đồng thời nhằm giúp những ai chưa từng đọc trước đây về chủ đề này, NA lập topic này để repost những bài viết đã được giới thiệu trên trang chủ về phác thảo chân dung các nhà thơ qua phần thơ dịch của các thành viên NNN.

Nữ sĩ Marina Xvetaeva, bà là ai?

Nguyên Hùng

Cuộc đời và tác phẩm


M. Xvetaeva (1892-1941)

Marina Xvetaeva sinh ngày 26 tháng 9 năm 1892 trong một gia đình có truyền thống văn hóa. Bố là Ivan Vladimirovich, giáo sư Trường Đại học tổng hợp Moskva, nhà triết học đồng thời là nhà hoạt động nghệ thuật nổi tiếng. Mẹ từng là một nghệ sĩ dương cầm tài năng.

Xvetaeva đã trải qua thời thơ ấu của mình ở Moskva và Tarus. Năm 16 tuổi, một mình đến Paris để tham dự tại Sorbonn một khóa ngắn hạn về lịch sử văn học Pháp. Bắt đầu làm thơ từ lúc lên sáu (không chỉ bằng tiếng Nga mà còn cả bằng tiếng Pháp và tiếng Đức), được in thơ từ năm 16 tuổi, và hai năm sau cho xuất bản cuốn “Album hoàng hôn” ("Вечерний альбом") từng được các nhà phê bình đánh giá cao. Các tập thơ của Xvetaeva từ đó lần lượt theo nhau xuất hiện trước sự đón nhận nồng nhiệt của độc giả nhờ sự độc đáo có phần lập dị của một phong cách thơ. Có thể nói, thơ Xvetaeva không thuộc một trào lưu văn học nào.

Năm 1912 Marina Xvetaeva lập gia đình. Chồng bà là Xergey Efron, ông đồng thời cũng là người bạn gần gũi nhất của nhà thơ.

Những năm chiến thanh thế giới thứ nhất, cách mạng và nội chiến là thời gian mà Xvettaeva giành hoàn toàn cho sáng tác. Bà sống ở Moskva và viết nhiều, nhưng hầu như không công bố tác phẩm của mình. Bà không tham gia Cách mạng tháng Mười vì không ủng hộ những người khởi nghĩa. Trong giới văn học, như trước đây bà vẫn giữ được tính biệt lập của mình.

Tháng 5 năm 1922 Xvetaeva quyết định cùng con gái ra nước ngoài để đến với chồng, người còn sống sót sau cuộc thanh trừng Đenikin và hiện là sinh viên Đại học tổng hợp Paris. Thời gian đầu hai mẹ con Xvetaeva sống ở Berlin, sau đó sang sống ở Praha, và vào tháng 11 năm 2005 thì cả gia đình lại chuyển đến Paris cùng với cậu con trai mới sinh. Cuộc sống của Xvetaeva lúc bấy giờ là cuộc sống của người lưu vong, vô cùng túng bấn và khốn khó.

Dẫu thế, sức sáng tạo của Xvetaeva không hề tỏ ra yếu ớt: năm 1923 xuất bản cuốn “Nghề thủ công” ("Ремесло") ở Berlin, cuốn sách nhận được sự đánh giá tích cực của giới phê bình. Năm 1924, trong thời gian ở Praha, bà viết “Trường ca núi đồi”, “Trường ca sự kết thúc” ("Поэма Горы", "Поэма Конца"). Năm 1926 hoàn thành trường ca “Cái bẫy chuột” ("Крысолов") và bắt tay viết các trường ca “Từ phía biển” ("С моря"), “Chiếc thang gác” ("Поэма Лестницы"), “Không khí” ("Поэма Воздуха") v.v…
Đa số trong số các tác phẩm trên vẫn chưa được công bố: nếu như thoạt tiên, những người lưu vong Nga tiếp nhận Xvetaeva như người của mình, thì rất nhanh sau đó bà đã trở nên đơn độc hoàn toàn vì tính độc lập và không chịu thỏa hiệp trong lập trường của mình. Bà không tham gia bất kỳ một xu hướng chính trị nào. Tập sách cuối cùng khi nhà thơ còn sống được xuất bản năm 1928 ở Paris là cuốn “Sau nước Nga” ("После России"), bao gồm các tác phẩm thơ được viết trong những năm 1922-1925.

Năm 1939 Xvetaeva được khôi phục quốc tịch Liên Xô và theo chồng trở về nước. Bà từng mơ ước, với sự trở về lần này bà sẽ là một “vị khách được mong đợi”. Nhưng điều đó đã không xảy ra: chồng và con gái của bà thì bị bắt giữ, em gái thì vào tù. Như trước đây, Xvetaeva lại phải sống cuộc đời đơn độc ở Moskva qua bao nhiêu biến cố. Chiến tranh xảy ra, bà cùng với con trai bị ném tới Elabuga. Trong tình cảnh cô đơn, không việc làm và tuyệt vọng, nữ thi sĩ đã tự kết liễu cuộc đời vào ngày 31 tháng 8 năm 1941.

Với độc giả Việt Nam

Có thể nói rằng, dù là nữ thi sĩ Nga tài năng nhưng Marina Xvetaeva đối với độc giả Việt Nam hãy còn khá xa lạ. Điều này cũng dễ hiểu: ngay ở Nga, mãi đến những năm gần đây thì danh phận của nữ nhà thơ mới được thừa nhận. Hơn thế, sau biến cố tháng 8 năm 1991, do nhiều lý do khác nhau, việc giới thiệu và cổ súy văn học Nga và Xô viết nói chung và thi ca Nga nói riêng ở nước ta, dường như đã trở nên rất hiếm hoi trên các các phương tiện thông tin đại chúng.

Mấy năm trước, nữ nhà thơ Ý Nhi đã cho in một chùm thơ về Marina Xvetaeva, trong đó có bài “Xvetaeva - Người yêu”, để bày tỏ sự cảm thông với nhà thơ đã khuất:

Chưa một lần gặp gỡ
giữa bao nhiêu hỗn tạp của đời
bà chỉ nghe vang lên một cái tên yêu dấu
và đôi môi run rẩy
thầm thì nhắc lại.

Chưa một lần gặp gỡ
hằng đêm
bà nguyện cầu sự bình yên cho người ấy

Chưa một lần gặp gỡ
khóc lặng lẽ dưới hàng cây xanh
và muốn áp khuôn mặt mình vào cỏ.

Chưa một lần gặp gỡ
bà khước từ mọi mối tình khác
như một người tuyệt vời hạnh phúc
như một kẻ hoàn toàn vô vọng.

Chưa một lần gặp gỡ
bà gắn mối tình của mình
cùng tình yêu cay đắng với nước Nga.

Bà đi đến cuộc trùng phùng
trên đôi chân rớm máu.

Về phần mình, NuocNga.net xin được giới thiệu sau đây một trích đoạn trong tác phẩm “Cho người yêu dấu” (“Любимому”) và phần dịch ra tiếng Việt của Quỳnh Hương và Lưu Hải Hà, các thành viên của NuocNga.net:

Bản gốc tiếng Nga

Любимому

Мне нравится, что Вы больны не мной,
Мне нравится, что я больна не Вами,
Что никогда тяжелый шар земной
Не уплывет под нашими ногами.

Мне нравится, что можно быть смешной -
Распущенной - и не играть словами,
И не краснеть удушливой волной,
Слегка соприкоснувшись рукавами.

Мне нравится еще, что Вы при мне
Спокойно обнимаете другую,
Не прочите мне в адовом огне
Гореть за то, что я не Вас целую.

Что имя нежное мое, мой милый, не
Упоминаете ни днем, ни ночью - всуе...
Что никогда в церковной тишине
Не пропоют над нами: Аллилуйя!

Спасибо Вам и сердцем и рукой,
За то, что Вы меня - не зная сами! -
Так любите: за мой ночной покой,
За редкость встреч закатными часами,

За наши не-гулянья под луной,
За солнце, не у нас над головами, -
За то, что Вы больны - увы! - не мной,
За то, что я больна - увы! - не Вами!

Bản dịch của Quỳnh Hương:

Anh đau lòng đâu có phải vì em,
Em cũng thế, và em thích thế,
Em cũng thích trái đất này quay mãi
Mà chẳng thể nào trôi mất dưới chân mình

Em cũng thích cứ đầu bù tóc rối
Thiếu chỉnh tề một chút cũng chẳng sao
Không nói khéo cũng chẳng cần đỏ mặt
Khi vô tình để tay áo chạm nhau

Em càng thích anh ôm hôn ai khác
Trước mặt em, không giữ ý, ngại ngần
Chính vì thế em cũng không phải chịu
Lửa thiêu địa ngục khi hôn kẻ khác anh

Anh dịu hiền, anh không cần phải nhắc
Tên em trong bề bộn lo toan...
Nhạc hôn lễ trước bàn thờ Chúa
Mỗi chúng ta tự nghe bên người khác của mình

Cảm ơn anh với tất cả tấm lòng
Dù vô tình vẫn yêu em hơn tất thảy
Cảm ơn anh khi màn đêm êm đềm chảy
Và những hẹn hò thưa thớt lúc hoàng hôn

Cảm ơn anh - bên em không đi dạo dưới trăng
Mặt trời cũng không sưởi chung hai đứa
Anh đau lòng, than ôi, nhưng chẳng vì em nữa
Em cũng vậy, than ôi, đau chẳng phải vì anh

Bản dịch của Lưu Hải Hà:

Em rất vui vì anh không yêu em
Em rất vui vì em không yêu anh
Vì chẳng bao giờ trái đất này nặng trĩu
Lại trôi đi dưới gót chúng mình

Em rất vui vì em có thể nực cười
Chẳng cần chơi chữ, và có thể lả lơi
Và nếu như tay áo ta chạm khẽ
Thì em chẳng cần đỏ mặt đến nghẹn lời

Em rất vui vì khi em có mặt
Anh điềm tĩnh ôm một người khác đẹp xinh
Đừng rủa em phải cháy trong địa ngục
Vì người em hôn chẳng phải là anh.

Cả ngày lẫn đêm chẳng bao giờ anh nhắc
Tên em dịu dàng – thật vô ích quá mà
Và chẳng bao giờ trong nhà thờ yên tĩnh
Người ta hát mừng chúng mình “alleluia”

Cám ơn anh, bằng cả trái tim trọn vẹn
Vì dẫu chẳng ngờ, nhưng anh thật yêu em:
Anh chẳng quấy rầy sự yên tĩnh mỗi đêm
Ta chẳng cùng nhau đón hoàng hôn mấy tối

Vì ta không cùng đi dạo dưới trăng thanh
Vì mặt trời chẳng chiếu sáng đôi mình
Vì – thật tiếc rằng – anh không yêu em
Vì – thật tiếc rằng – em không yêu anh.

....

_________________
Nguyên Anh & blog mới tại vnweblogs.com


Chỉnh sửa lần cuối bởi NguyenAnh vào lúc 29-Jul-2006 9:01 am, trong tổng số 1 lần chỉnh sửa
Trở về đầu trang
NguyenAnh is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi Yahoo Messenger
[ IP : Logged ]
NguyenAnh
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 71
Tham gia từ: 07 Aug 2005
Bài viết: 1325
Đến từ: TP Hồ Chí Minh

GửiGửi: 29-Jul-2006 8:58 am    Tiêu đề:  Re: Chân trời văn học: Các nhà thơ Nga
Trả lời kèm trích dẫn

Anna Akhmatova với trái tim không trói buộc
Bạch Nguyên

Anna Akhmatova (1889-1966) sinh ra và lớn lên trong gia đình một đại úy hải quân tại Bolsoi Fontan gần thành phố Odessa. Năm 1890, lúc mới lên một Anna theo gia đình chuyển nhà về Pavlosk, và một năm sau lại chuyển đến Hoàng Thôn, một trung tâm văn hóa nổi tiếng gần kinh đô Peterburg thời bấy giờ.

Năm hăm mốt tuổi Anna Akhmatova trở thành vợ của nhà thơ N.Gumilov. Từ đầu những năm 20, Anna đã là nhà thơ nữ nổi tiếng trên thi đàn Xô-viết. Thơ Anna được lưu truyền rộng rãi khắp nước Nga, được những người dân Nga bình thường yêu thích tìm đọc và thuộc lòng nhiều bài. Nhưng cuộc đời của nữ sĩ đã trải qua hai lần biến cố. Lần đầu thì chồng bà, nhà thơ N. Gumilov bị kết tội chống chính quyền Xô-viết và bị lãnh án tử hình. Lần thứ hai, chính Anna bị lên án trong một nghị quyết về tạp chí Ngôi sao và Leningrad; theo đó, vào năm 1946 bà bị khai trừ ra khỏi Hội nhà văn Liên Xô. Mãi 7 năm sau, tức vào năm 1953 bà mới được tái gia nhập Hội Nhà văn Liên Xô. Và đến tận năm 1988, tức sau 42 năm thì danh dự của Anna Akhmatova mới được khôi phục bằng một nghị quyết khác của TƯ Đảng CSLX phủ nhận nghị quyết sai lầm của năm 1946.

Anna Akhmatova xuất bản tập thơ Ngợi ca hoà bình vào năm 1959, và đến cuối đời cho xuất bản tuyển tập thơ Thời gian trốn chạy (1965). Tháng 12/1964 trường Đại học Tổng hợp Oxford truy tặng học vị danh dự Tiến sĩ văn học cho Anna Akhmatova. Năm 1989, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của bà, UNESCO đã quyết định lấy tên nữ sĩ đặt cho năm 1989 là năm văn hoá thế giới. Thơ của Anna Akhmatova thường cô đọng, mỗi bài thơ là một tiếng nói riêng được nén chặt từ con tim chất phác, không dối lừa, tiếng nói giàu sức biểu cảm từ bên trong.

Anna Akhmatova là một hồn thơ Nga chân chính, một hiện tượng thơ lớn đáng chú ý trong nền thơ ca Nga Xô-viết. Nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc tế Phụ nữ đang tới gần, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu dưới đây chùm thơ của bà với các bản dịch của chính các thành viên NuocNga.net.

Сердце к сердцу не приковано

Сердце к сердцу не приковано,
Если хочешь - уходи.
Много счастья уготовано
Тем, кто волен на пути.

Я не плачу, я не жалуюсь,
Мне счастливой не бывать.
Не целуй меня, усталую,-
Смерть придется целовать.

Дни томлений острых прожиты
Вместе с белою зимой.
Отчего же, отчего же ты
Лучше, чем избранник мой?

Con tim này đâu trói buộc tim ai?

Con tim này đâu trói buộc tim ai
Hễ đã muốn, anh cứ rời xa nhé
Hạnh phúc vẫn rất nhiều trên trần thế
Cho những người được tùy ý lãng du

Em không khóc, không than phiền trách cứ
Phận em đây không hạnh phúc bao giờ
Đừng hôn em - một con người ủ rũ
Như buộc lòng hôn cái chết âm u

Và những tháng ngày nhức nhối sầu đau
Em sẽ sống với mùa đông trắng toát
Nhưng vì sao, vì sao anh lại tốt
Hơn cả người em chọn lựa cho em?

(Phan Chí Thắng dịch)

Память о солнце (*)

Память о солнце в сердце слабеет.
Желтей трава.
Ветер снежинками ранними веет
Едва-едва.

В узких каналах уже не струится -
Стынет вода.
Здесь никогда ничего не случится, -
О, никогда!

Ива на небе пустом распластала
Веер сквозной.
Может быть, лучше, что я не стала
Вашей женой.

Память о солнце в сердце слабеет.
Что это? Тьма?
Может быть!.. За ночь прийти успеет
Зима.

Ký ức về mặt trời

Ký ức về mặt trời trong tim dần nhạt
Cỏ hóa vàng hơn.
Gió đưa những bông tuyết sớm
Chập chờn – chập chờn.

Trong kênh hẹp nước đóng băng lạnh giá -
Không chảy lơ thơ.
Ở đây không bao giờ xảy ra điều gì nữa
Ôi, không bao giờ!

Cây liễu trải trên bầu trời trống vắng
Chiếc quạt cành xanh.
Có thể, tốt hơn nếu như tôi chẳng
Trở thành vợ anh.

Ký ức về mặt trời trong tim dần nhạt.
Đêm? Có phải không?
Cũng có thể!... sau đêm sẽ kịp đến
Mùa đông.

(Lưu Hải Hà dịch)

Палима сладостным огнем (*)

О нет, я не тебя любила,
Палима сладостным огнем,
Так объясни, какая сила
В печальном имени твоем.

Передо мною как колени
Ты стал, как будто ждал венца,
И смертные коснулись тени
Спокойно юного лица.

И ты ушел. Не за победой,
За смертью. Ночи глубоки!
О, ангел мой, не знай, не ведай
Моей теперешней тоски.

Но если белым солнцем рая
В лесу осветится тропа,
Но если птица полевая
Взлетит с колючего снопа,

Я знаю: это ты, убитый,
Мне хочешь рассказать о том,
И снова вижу холм изрытый
Над окровавленным Днестром.

Забуду дни любви и славы,
Забуду молодость мою,
Душа темна, пути лукавы,
Но образ твой, твой подвиг правый
До часа смерти сохраню.

Lửa tình yêu

Không, em nào có yêu anh
Lửa tình yêu em tự đốt cháy mình.
Nói với em đi, sức mạnh nào ẩn giấu
Trong cái tên buồn bã của anh

Trước mặt em anh quỳ như chờ đợi
Vương miện đặt trên mái tóc xanh
Và cùng lúc những bóng đen chết chóc
Lướt qua gương mặt trẻ trung thành.

Và anh đi. Nhưng không vì chiến thắng.
Ôi đêm đen! Anh đón chết về mình.
Thiên thần của em, anh không cần phải biết
Nỗi cô đơn buồn thảm em mang.

Mỗi lần trên con đường rực nắng
Mặt trời soi qua những bóng cây
Nếu có một lần con chim nhỏ
Bay lên từ những bụi gai dầy

Em nhận ra hình bóng anh trong đó
Từ cõi chết anh về kể chuyện đã qua.
Và trước mắt em ngôi mộ mới
Bên bờ sông đầy máu lại hiện ra

Em sẽ quên cả tình yêu lẫn quang vinh
Em sẽ quên tuổi trẻ của chính mình
Những góc tối tâm hồn, những khúc quanh định mệnh
Để nhớ mãi anh cùng với những chiến công
Em sẽ nhớ đến ngày em tan vào bụi.

(Quỳnh Hương dịch)

Песня последней встречи

Так беспомощно грудь холодела,
Но шаги мои были легки.
Я на правую руку надела
Перчатку с левой руки.

Показалось, что много ступеней,
А я знала - их только три!
Между кленов шепот осенний
Попросил: "Со мной умри!

Я обманут своей унылой,
Переменчивой, злой судьбой".
Я ответила: "Милый, милый!
И я тоже. Умру с тобой..."

Это песня последней встречи.
Я взглянула на темный дом.
Только в спальне горели свечи
Равнодушно-желтым огнем.

Khúc ca cuộc hò hẹn cuối cùng

Lạnh hẫng trong tim bất lực,
Nhưng chân đi vẫn nhẹ nhàng.
Găng trái xỏ vào tay phải
Tôi lần mấy bậc thềm hiên.

Tưởng như đến bao nhiêu bậc,
Mà tôi biết rõ - chỉ ba!
Rừng phong thu xào xạc gió
Rủ tôi: "Hãy chết cùng ta!

Ta bị số mệnh gạt lừa,
Đỏng đảnh, tẻ buồn, cay nghiệt"
Tôi đáp: "Phận tôi đâu khác
Lìa đời cùng bạn - tôi ưng..."

Đấy khúc hò hẹn cuối cùng.
Tôi ngoái trông căn nhà tối.
Ánh nến buồng ngủ bập bùng
Vàng vọt, hững hờ, trơ trọi.

(Thu Hương dịch)

(*) Tựa đề do chúng tôi tạm đặt

_________________
Nguyên Anh & blog mới tại vnweblogs.com
Trở về đầu trang
NguyenAnh is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi Yahoo Messenger
[ IP : Logged ]
NguyenAnh
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 71
Tham gia từ: 07 Aug 2005
Bài viết: 1325
Đến từ: TP Hồ Chí Minh

GửiGửi: 25-Sep-2006 8:11 am    Tiêu đề:  Veronika Tushnova và cái nhìn về Mùa Xuân
Trả lời kèm trích dẫn

Veronika Tushnova và cái nhìn về Mùa Xuân

Nguyên Hùng

Veronika Tushnova sinh ngày 14 tháng 3 năm 1915 tại Kazan. Bố là giáo sư ngành vi sinh, về sau là viện sĩ Viện hàn lâm khoa học nông nghiệp Nga. Sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, Veronika Tushnova cùng gia đình chuyển đến sống tại Leningrad. Theo nguyện vọng của cha, bà thi đỗ vào trường Đại học Y. Nhưng bà không tốt nghiệp ngành y dù đã học hết năm thứ 4. Bà chuyển sang học hội hoạ, và cũng chính vào thời gian này bà đã bị quyến rũ bởi thi ca.

Năm 1941 bà thi đỗ vào trường viết văn Goorki, nhưng cũng không nhập học. Chiến tranh nổ ra, bà bắt đầu làm việc tại một quân y viện. Trong trong điều kiện một mình nuôi con nhỏ và mẹ già đau yếu, bà vẫn tiếp tục làm thơ.

Năm 1945 nhà xuất bản “Cận vệ trẻ” đã cho xuất bản tuyển thơ của bà mang tên “Cuốn sách đầu tiên”. Năm 1950 bà công bố các trường ca “Đường đến Clukhor” và “Con đường”

Khiếu thơ của Veronika Tushnova càng được bộc lộ rõ trong thời kỳ cuối của sự nghiệp sáng tác qua những tuyển tập thơ “Ký ức con tim” (1958), “Hơi thở thứ hai” (1961) và “Một trăm giờ hạnh phúc” (1965). Tình yêu là đề tài xuyên suốt trong sự nghiệp thơ ca của bà, song hành với nó là những niềm vui và đau khổ, những mất mát và hy vọng, hiện tại và tương lai. Bà đã nói về tình yêu với tất cả tâm hồn, bà luôn kêu gọi mối quan hệ nhân ái giữa con người với con người. Thơ của bà đã rất nổi tiếng và được mọi người yêu mến.

Veronika Tushnova tự bạch rằng tất cả thơ của bà đều buồn, nhưng hoàn toàn không phải vì bà vốn là người ảm đạm như vậy trong cuộc sống, mà đơn giản bà chỉ làm thơ mỗi khi buồn lo và đau khổ. Ngược lại, khi không có gì phải buồn lo và đau khổ thì bà cười vui và chẳng viết gì cả.

Ngày 7 tháng Bảy năm 1965 sau một cơn bệnh nặng bà đã qua đời tại Moskva, lúc vừa tròn 50 tuổi.

Nhân dịp Ngày Quốc tế Phụ nữ, tiếp theo phần thơ của Anna Akhmatova, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu sau đây hai bài thơ của Veronika Tushnova với phần dịch “cây nhà lá vườn” của NuocNga.net.

ВЕСНА
Туч взъерошенные перья.
Плотный воздух сыр и сер.
Снег, истыканный капелью,
по обочинам осел.

И упорный ветер с юга,
на реке дробящий льды,
входит медленно и туго
в прочерневшие сады.

Он охрипшей грудью дышит,
он проходит напролом,
по гремящей жестью крыше
тяжко хлопает крылом.

И кипит волна крутая
с каждой ночью тяжелей,
сок тягучий нагнетая
в сердцевины тополей.

Третьи сутки дует ветер,
третьи сутки стонут льды,
третьи сутки в целом свете
ни просвета, ни звезды.

Краю нет тоске несносной.
Третьи сутки в сердце мрак...
Может быть, и в жизни весны
наступают тоже так?

MÙA XUÂN

Những đám mây bờm xờm
Khí trời toàn xám ướt
Bên đường từng đụn tuyết
Nhão dần thành nước trôi.

Gió nam thổi liên hồi
Trên sông băng vỡ vụn
Những khu vườn đen thẫm
Gió len vào nhọc nhằn.

Gió thở bằng ngực khàn
Mọi cản ngăn bất chấp
Gió mạnh phang cánh đập
Làm vang ầm mái tôn.

Sóng sủi bọt dựng bờm
Càng lúc càng hung dữ;
Những cây dương đầy ứ
Trong ruột dòng nhựa săn.

Gió hú ba ngày đêm
Ba ngày băng rầm rĩ
Ba ngày đêm cứ thế
Không mặt trời, trăng sao.

Ba ngày đêm u sầu
Nỗi buồn không bờ bến
Lẽ nào mùa Xuân đến
Trong cuộc đời vậy sao?

(Nguyên Hùng dịch)

XUÂN ĐẾN

Mây
Sần sùi tướp tơ
Trời
xám xịt âm u
Tuyết
Tan dần thành giọt
Uớt nhão nhoẹt bên hè

Gió phương nam hùng hổ
Làm rạn mặt sông băng
Chầm chậm trườn từng bước
Vào khu vườn tối đen

Gió khàn giọng thở
Vượt mọi cản ngăn
Đập cánh ầm ầm
Mái tôn rung giật

Sóng sôi trào
Mỗi đêm một mạnh
Dồn ứ nhựa
Căng đầy thân dương

Ba ngày liền gió rít
Ba ngày liền băng rên
Ba ngày trời vần vũ
Không sao trời trong đêm

Ba ngày tối trong tim
Nỗi buồn không bờ bến
Lẽ nào xuân trong đời
Cũng nhọc nhằn khi đến?

(Thu Hương dịch)

Я давно спросить тебя хотела:
разве ты совсем уже забыл,
как любил мои глаза и тело,
сердце и слова мои любил...

Я тогда была твоей отрадой,
а теперь душа твоя пуста.
Так однажды с бронзового сада
облетает поутру листва.

Так снежинки - звездчатое чудо -
тонким паром улетают ввысь.
Я ищу, ищу тебя повсюду,
где же ты? откликнись, отзовись.

Как мне горько, странно, одиноко,
в темноту протянута рука.
Между нами пролегла широко
жизни многоводная река.

Но сильна надежда в человеке,
я ищу твой равнодушный взгляд.
Все таки мне верится, что реки
могут поворачивать назад.

KHÔNG ĐỀ

Em muốn hỏi anh tự rất lâu rồi
Chẳng lẽ anh đã quên đi tất thảy
Quên cả dáng em, trái tim, giọng nói
Quên đôi mắt này anh đã đắm say

Em từng là niềm vui suốt bấy tháng ngày
Sao không lấp nổi hồn anh giờ trống rỗng
Một sáng nọ giữa khu vườn gió lộng
Có chiếc lá vàng bứt cuống bay đi

Bông hoa tuyết kia - ngôi sao nhỏ diệu kỳ
Cũng tan nhẹ trong làn hơi mỏng mảnh
Em đi tìm anh, tìm anh mọi ngả
Ở nơi nào, trả lời nhé, anh yêu

Em cô đơn khi đêm tối lấn chiều
Chìa tay đỡ nỗi xót xa, cay đắng
Dòng sông lớn nước dâng tràn phẳng lặng
Chia chúng ta mỗi đứa mỗi bên

Nhưng hy vọng trong ta vô bờ bến
Em vẫn tìm - dù anh đã dửng dưng
Em vẫn tin, dù điều ấy chưa từng
Có thể khiến dòng sông quay trở lại.

(Việt Hùng dịch)

KHÔNG ĐỀ

Đã lâu em muốn hỏi anh
Lẽ nào anh đã lạnh lòng lãng quên
Rằng anh yêu cặp mắt em
Dáng hình, lời nói, trái tim nồng nàn...

Xưa em là nỗi hân hoan
Giờ lòng anh trống như ngàn mây bay
Một lần vườn ấy heo may
Lá kia rời cuống bay đầy không trung

Kìa bông tuyết nhỏ rưng rưng
Như sao mỏng mảnh tan dần trên cao
Em tìm em kiếm bạc đầu
Anh đâu, anh đáp một câu đi mà!

Lòng em cay đắng thãn thờ
Chìa tay đêm vắng mơ bờ vai ai
Cách ngăn một dải sông dài
Chia tình hai ngả đời ai héo mòn

Nhưng lòng hy vọng vẫn còn
Em mong anh liếc nhìn em lạnh lùng
Dù sao em vẫn đinh ninh
Sông kia chảy ngược để mình bên nhau.

(Thu Hương dịch)

_________________
Nguyên Anh & blog mới tại vnweblogs.com
Trở về đầu trang
NguyenAnh is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi Yahoo Messenger
[ IP : Logged ]
NguyenAnh
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 71
Tham gia từ: 07 Aug 2005
Bài viết: 1325
Đến từ: TP Hồ Chí Minh

GửiGửi: 26-Sep-2006 9:10 am    Tiêu đề:  Re: Chân trời văn học: Các nhà thơ Nga
Trả lời kèm trích dẫn

Nikolay Rubtsov - một chiếc “lá rụng”giữa “quê hương bình yên”

Nguyên Hùng

Nikolay Rubtsov sinh ngày 03.01.1936 tại làng Emetsk, tỉnh Arkhangelsk và bị mồi côi từ bé. Chính mảnh đất này đã trao cho nhà thơ đề tài chủ đạo suốt trong sự nghiệp sáng tác sau này của ông: cuộc sống nước Nga "старинную русскую самобытность", Rubtsov nhập ngũ và phục vụ tại hạm đội Biển Bắc, sau đó làm công nhân ở Leningrad, rồi trở thành sinh viên Đại học Văn học mang tên Goocki ở Moskva.

Tập thơ trữ tình ("Лирика") đầu tay của Rubtsov được xuất bản năm 1965 tại Arkhangelsk. Tiếp đó, các tuyển thơ "Звезда полей" (1967), "Душа хранит" (1969), "Сосен шум" (1970) cũng lần lượt theo nhau ra đời. Riêng tập “Những bông hoa xanh” ("Зеленые цветы") được xuất bản ngay sau cái chết của nhà thơ (19.01.1971).

Sau này, thơ của Nikolai Rubtsov được in thành các tuyển tập: “Con tàu cuối cùng” ("Последний пароход" - 1973), “Thơ trữ tình chọn lọc” ("Избранная лирика" - 1974), Thơ ( "Стихотворения” - 1977).

Nhằm góp một phần nhỏ giúp các độc giả yêu thơ hiểu biết thêm về nhà thơ tài năng Nikolai Rubtsov, chúng tôi xin giới thiệu dưới đây hai trong số rất nhiều tác phẩm thơ của ông qua một số bản dịch khác nhau của các thành viên NuocNga.net.

Bài thứ nhất

Trích dẫn:
УЛЕТЕЛИ ЛИСТЬЯ
Николай Рубцов

Улетели листья
с тополей -
Повторилась в мире неизбежность...
Не жалей ты листья, не жалей,
А жалей любовь мою и нежность!
Пусть деревья голые стоят,
Не кляни ты шумные метели!
Разве в этом кто-то виноват,
Что с деревьев листья
улетели?


Các phương án dịch:

1. Lưu Hải Hà:

Cây phong lá rụng hết rồi
Điều-cần-phải-đến của trời phải không?
Em đừng tiếc lá đau lòng
Mà tình anh đấy em không tiếc gì...
Mặc dù lá bỏ cây đi
Xin đừng nguyền rủa làm gì bão giông!
Liệu ai có lỗi hay không
Để lá đã bỏ cây phong đi rồi!

2. Nguyên Hùng:

Những chiếc lá lìa cành
Để trơ hàng dương trắng
Là điều không thể tránh
Là quy luật trên đời .

Tiếc làm chi em ơi
Những lá vàng đã rụng
Hãy tiếc tình anh đọng
Trong mắt đầy yêu đương .

Hãy cứ để hàng dương
Đứng yên không quần áo
Chớ rủa nguyền gió bão
Như tội đồ đích danh .

Những chiếc lá lìa cành
Là điều không cưỡng nổi
Lẽ nào ai có lỗi
Sinh quy luật trên đời?

3. Phan Chí Thắng:

Lá phong đã rụng hết rồi
Là điều tất yếu giữa đời này thôi...
Xin đừng thương tiếc lá rơi
Tình anh đằm thắm em ơi tiếc giùm!
Mặc cho trơ trụi hàng phong
Cũng đừng nguyền rủa bão giông làm gì
Nào ai có tội tình chi
Nếu như lá đã chia ly với cành?

4. Quỳnh Hương:

Lá phong rơi
Điều-phải-đến trên đời lại đến...
Đừng tiếc lá, em ơi, đừng tiếc,
Dành tiếc nuối cho tình tôi!

Khi hàng cây trụi lá xin đừng trách bão giông.
Không ai có lỗi đâu em.
Khi những chiếc lá cứ rơi
Khi đất trời vào đông.

Bài thứ hai:

Trích dẫn:
ТИХАЯ МОЯ РОДИНА

В. Белову

Тихая моя родина!
Ивы, река, соловьи...
Мать моя здесь похоронена
В детские годы мои.

- Где тут погост? Вы не видели?
Сам я найти не могу. -
Тихо ответили жители:
- Это на том берегу.

Тихо ответили жители,
Тихо проехал обоз.
Купол церковной обители
Яркой травою зарос.

Там, где я плавал за рыбами,
Сено гребут в сеновал:
Между речными изгибами
Вырыли люди канал.

Тина теперь и болотина
Там, где купаться любил...
Тихая моя родина,
Я ничего не забыл.

Новый забор перед школою,
Тот же зеленый простор.
Словно ворона веселая,
Сяду опять на забор!

Школа моя деревянная!..
Время придет уезжать -
Речка за мною туманная
Будет бежать и бежать.

С каждой избою и тучею,
С громом, готовым упасть,
Чувствую самую жгучую,
Самую смертную связь.


Các phương án dịch:

1. Thu Hương:

Quê hương yên bình của tôi

Quê hương yên ả của tôi!
Họa mi, dòng sông, rặng liễu...
Mẹ hiền yên nghỉ nơi đây
Từ khi tôi còn thơ dại.

Nghĩa địa nằm ở nơi đâu,
Mà sao mãi tìm chẳng thấy?
Dân làng khẽ khàng chỉ lối:
- Ngay phía bờ sông bên kia.

Dân làng khẽ khàng hỏi han
Đoàn xe đi qua lặng lẽ.
Mái vòm ngôi tu viện nhỏ
Vươn cao như cỏ ráng hồng.

Nơi tôi từng bơi bắt cá,
Giờ dân đánh đống cỏ khô:
Giữa hai khúc sông cong ấy
Người ta đào đoạn kênh to.

Nơi tôi từng ưa vùng vẫy
Giờ thành bùn đọng sình lầy
Ký ức quê hương yêu dấu
Trong tôi mãi mãi in sâu.

Cổng trường có hàng rào mới
Khoảng sân vẫn xanh như xưa
Tôi lại như con quạ nhỏ
Vắt vẻo hàng rào, đung đưa.

Ngôi trường bằng gỗ thân thương!..
Đến lúc tôi phải lên đường -
Dòng sông sương mù che phủ
Trôi hoài theo bước vấn vương.

Với mỗi căn nhà cụm mây,
Mỗi tiếng sấm rền sắp vỡ,
Lòng tôi cháy bỏng nhớ thương
Da diết mối dây sinh tử.

2. Lưu Hải Hà:

Quê hương của tôi yên ả

Quê hương của tôi yên ả
Rặng liễu, dòng sông, họa mi…
Mẹ tôi cũng nằm lại đó
Khi tôi tuổi còn thiếu nhi.

- Nghĩa địa tôi tìm không được
Ở đâu? bác có thấy không?
Dân làng trả lời khe khẽ:
- Nghĩa địa ở bên kia sông.

Dân làng trả lời khe khẽ,
Đoàn xe khe khẽ qua nhanh.
Ngôi tu viện nhà thờ cổ
Mái vòm lấp lánh cỏ xanh.

Nơi xưa tôi bơi bắt cá
Giờ thành nhà chứa cỏ khô:
Giữa những đọan sông uốn khúc
Giờ có con kênh lững lờ.

Nơi đầm lầy đầy bùn đất
Nơi xưa tôi thích tắm lâu…
Quê hương của tôi yên ả,
Tôi chẳng quên điều gì đâu.

Hàng rào mới trước trường học,
Sân trường vẫn xanh lao xao.
Ngỡ con quạ nào vui vẻ
Lại đến đậu trên hàng rào!

Ngôi trường của tôi bằng gỗ!..
Đã đến lúc ra đi rồi -
Con sông phủ đầy sương khói
Sẽ còn chạy mãi sau tôi.

Tôi cảm thấy mình gắn bó
Mối dây nóng bỏng thân thương
Với từng đám mây, nhà gỗ,
Và mỗi tiếng sấm sắp buông.

3. Quỳnh Hương:

Làng tôi lặng lẽ bình yên

Làng tôi lặng lẽ bình yên
Liễu rủ bên sông, hoạ mi ca hát...
Nơi đây mẹ tôi nằm xuống
Khi tôi chưa hết tuổi thơ.

- Nghĩa trang làng đâu rồi nhỉ?
Sao tôi như lạc lối rồi?
Dân làng khẽ khàng mách bảo:
- Ngay bên kia sông đấy thôi.

Giọng nói dân làng rất nhẹ,
Tiếng xe qua cũng khẽ thôi
Mái vòm nhà thờ rực rỡ
Phủ cỏ xanh dưới mặt trời.

Nơi tôi từng bơi theo cá
Thành nơi trữ cỏ khô rồi.
Hai khúc quanh sông ngày ấy
Con kênh đào nối liền rồi.

Nơi tôi vẫy vùng tắm mát
Giờ rêu xanh lẫn với bùn
Quê tôi thanh bình yên ả
Tôi chẳng giây phút nào quên

Hàng rào mới quanh trường học
Không gian xanh vẫn như xưa
Tôi trèo lên hàng rào ấy
Như con quạ đậu ngày xưa.

Ngôi trường gỗ thân yêu ơi
Đến lúc tôi phải đi rồi
Dòng sông quê đầy sương phủ
Theo sau tôi mãi cứ trôi.

Mỗi nhà nhỏ mỗi cụm mây bảng lảng
Tiếng sấm trong mưa chực rền vang...
Tôi cảm thấy mối dây bền chặt
Nối trái tim tôi với quê hương.

_________________
Nguyên Anh & blog mới tại vnweblogs.com
Trở về đầu trang
NguyenAnh is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi Yahoo Messenger
[ IP : Logged ]
NguyenAnh
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 71
Tham gia từ: 07 Aug 2005
Bài viết: 1325
Đến từ: TP Hồ Chí Minh

GửiGửi: 27-Sep-2006 1:35 pm    Tiêu đề:  Nhà thơ Nga Rozhdestvensky Robert
Trả lời kèm trích dẫn

Nhà thơ Nga Rozhdestvensky Robert

Nguyên Hùng

Thân thế và tác phẩm Rozhdestvensky Robert

Rozhdestvensky Robert sinh ngày 20 tháng 6 năm 1932 tại làng Kosikha thuộc vùng Altai trong một gia đình quân nhân: bố là sĩ quan, mẹ là bác sỹ quân y. Từ năm lên chín, Robert đã phải sống trong trại trẻ vì cả bố và mẹ đều ra mặt trận. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, anh vào học Đại học tổng hợp Petrozavod và bắt đầu làm thơ với những bài thơ đầu tay được in vào năm 1950. Rời trường đại học tổng hợp, Robert trở thành sinh viên Trường viết văn Gorki và tốt nghiệp trường này vào năm 1956.

Từ khi còn là sinh viên trong trường đại học, Robert đã cho công bố các tập thơ “Những ngọn cờ của mùa xuân” (1955), “Thử thách” (1956) và cả trường ca “Tình yêu của tôi” (1955). Sau đó, các tập thơ khác lần lượt theo nhau được xuất bản: “Con đường phiêu dạt” (1959), “Gửi bạn đồng niên” (1962), “Những hòn đảo hoang” (1962), “Phạm vi ảnh hưởng” (1965), “Dâng hiến” (1970), “Hai mươi năm” (1973)…

Rozhdestvensky Robert thu hút được sự chú ý của nhiều tờ báo và nhà xuất bản bởi thơ ông mang đậm bản sắc dân tộc và tính nhân văn. Thơ ông cũng được chính ông phổ nhạc và để lại nhiều bài hát nổi tiếng: “Hãy là như thế”, “Bài ca những lẻ báo thù không bao giờ bị bắt”, “Bầu trời bao la”, v.v…

Năm 1971, Rozhdestvensky Robert cho ra mắt tập tùy bút “Và trái đất không có tận cùng”.

Năm 1980, một loạt các tuyển thơ và trường ca của ông được xuất bản: “Tiếng nói thành phố”, “Bảy trường ca”, “Lựa chọn”, “Thơ, ballat, ca khúc”, “Cho những người bạn”…

Vào những năm 199x, nhà thơ tiếp tục công bố các tập thơ “Thao thức” (1991), “Giao điểm” (1992), “Tư duy Aliosa” (thơ giành cho thiếu nhi, 1991).

Rozhdestvensky Robert mất ngày 20 tháng 8 năm 1994. Tập “Những bài thơ cuối cùng của Robert Rozhdestvensky” đã được in sau đó.

Con người Rozhdestvensky Robert

Rozhdestvensky là nhà thơ Nga cùng thế hệ với Voznesensky và Evtushenko; họ là ba nhà thơ chính thức được công nhận ở Liên Xô lúc đương thời. Và mặc dù rất khác nhau cả về thơ ca và con người, từ những năm 195x ba nhà thơ này đã trở thành những người bạn khá thân thiết. Theo cách nói của Voznesensky, họ “như ba người lữ hành đi trên những con đường hoàn toàn khác nhau, bị bọn cướp bắt được nơi giao lộ rồi trói chung vào một gốc cây”.

Nếu như Evtushenko luôn thích được mọi người chú ý thì Rozhdestvensky lại muốn tránh tất cả mọi người để làm việc. Trong khi Voznesensky cùng với Evtushenko luôn tỏ ra thi đua với nhau xem ai là thi sĩ số một thì Rozhdestvensky lại trăn trở trước những bản thảo thơ của bạn bè và coi việc xuất bản thơ cho người khác là niềm vui.

Rozhdestvensky là người có tư tưởng tự do dân chủ và không e ngại thể hiện điều đó. Ngay từ những năm Stalin cầm quyền, ông đã tìm đọc và thuộc nhiều thơ cấm của B. Kornilov, P. Vaxiliev. Năm 1986, tại diễn đàn đại hội nhà văn ở Kremli, cùng với Voznesensky và Evtushenko, ông đã đứng lên yêu cầu dân chủ, dỡ bỏ chế độ kiểm duyệt, làm ấm lại niềm tin đang bị đóng băng trong giới viết văn. Rozhdestvensky cũng là người chủ trương viết thư cho Gorbachev vào năm 1990 với yêu cầu nhà nước phải lên án mạnh mẽ chủ nghĩa bài Do Thái.

Rozhdestvensky đồng thời cũng là một người yêu trẻ. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông đã giành nhiều tình cảm cho lứa tuổi trẻ thơ. Mảng thơ giành cho thiếu nhi của ông được Evtushenko đánh giá là “rất hấp dẫn và dễ thương”.

Rozhdestvensky Robert qua đời để lại niềm tự hào cho người vợ và hai cô con gái. Vợ ông, bà Alla Kireeva, nhà phê bình văn học, người từng là bạn học của nhà thơ tại Trường viết văn Gorki. Mỗi lần nhớ về chồng, Alla thường nói rằng những người như Robert bà sẽ không bao giờ gặp nữa, và sau khi ông mất đi bà cố không nghĩ về những tháng năm hạnh phúc, bởi sợ rằng nó sẽ làm vô vị mất phần đời còn lại của bà. Cô con gái lớn Ecaterina Rozhdestvenskaya là nhà báo, được đánh giá là viết rất hay về các đề tài điện ảnh và văn học. Nhưng cô luôn dùng bút danh dưới những bài viết của mình vì sợ rằng chúng chưa tương xứng với tên tuổi của người bố.

Một số bản dịch thơ Rozhdestvensky Robert

Thơ Rozhdestvensky Robert có thể còn xa lạ với nhiều độc giả Việt Nam, bởi các nhà thơ Nga thế hệ ông hầu như rất ít được dịch và phổ biến ở nước ta. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin giới thiệu sau đây một số thơ Rozhdestvensky qua các bản dịch của Nguyên Hùng, Quỳnh Hương và Lưu Hải Hà.

1.
На Земле безжалостно маленькой
жил да был человек маленький.
У него была служба маленькая.
И маленький очень портфель.
Получал он зарплату маленькую...
И однажды — прекрасным утром —
постучалась к нему в окошко
небольшая, казалось, война...
Автомат ему выдали маленький.
Сапоги ему выдали маленькие.
Каску выдали маленькую
и маленькую — по размерам — шинель.

...А когда он упал — некрасиво, неправильно,
в атакующем крике вывернув рот,
то на всей земле не хватило мрамора,
чтобы вырубить парня в полный рост!


1.
Nơi trái đất đáng thương bé nhỏ
Có một người nhỏ bé sống qua
Bằng việc làm bé nhỏ gọi là
Chiếc cặp bé cùng tiền lương bé nhỏ…
Một buổi sáng đẹp trời, bỗng ùa vào trước cửa
Cuộc chiến tranh, dường như chỉ nhỏ thôi
Anh được trao tiểu liên nhỏ bên người
Được phát ủng vừa đôi chân bé nhỏ
Chiếc áo choàng cho anh cùng cỡ
Chiếc mũ sắt đội đầu nhỏ bé như anh.

…Nhưng khi anh ngã xuống,
dù dáng nằm không đẹp
Tiếng thét “xung phong” làm méo miệng dễ thương
Thì cả trái đất này không đủ đá hoa cương
Để tạc trọn dáng hình anh bé nhỏ.

(Nguyên Hùng dịch)

2.
Приходить к тебе, чтоб снова
просто вслушиваться в голос;
и сидеть на стуле, сгорбясь,
и не говорить ни слова.

Приходить, стучаться в двери,
замирая, ждать ответа...
Если ты узнаешь это,
то, наверно, не поверишь,

то, конечно, захохочешь,
скажешь: «Это ж глупо очень...»
Скажешь: «Тоже мне - влюблённый!» -
и посмотришь удивлённо,

и не усидишь на месте.
Будет смех звенеть рекою...
Ну и ладно. Ну и смейся.
Я люблю тебя такою.


2.
Giá được đến bên em, để thêm một lần
Được đơn giản lắng nghe giọng nói
Để được ngồi trên ghế, lưng hơi cúi
Và để không cần nói một lời .

Giá được đến nhà em, và gõ cửa
Và thót tim chờ đợi tiếng trả lời
Và nếu như em biết điều đó nhỉ
Thì có lẽ là em chẳng tin tôi .

Thì tất nhiên em sẽ cười khanh khách
Em sẽ nói rằng "Ồ, ngốc nghếch, nực cười ..."
Em sẽ nói "Anh cũng yêu cơ đấy!"
Và sẽ nhìn rất đỗi ngạc nhiên .

Và em sẽ chẳng ngồi yên một chỗ
Tiếng cười sẽ vang lanh lảnh thành sông
Thôi cũng được. Cứ cười đi em nhé.
Em là thế nên anh mới phải lòng.

(Lưu Hải Hà dịch)

3.
Будь, пожалуйста, послабее.
Будь, пожалуйста.
И тогда подарю тебе я
чудо запросто.

И тогда я вымахну - вырасту,
стану особенным.
Из горящего дома вынесу
тебя, сонную.

Я решусь на всё неизвестное,
на всё безрассудное -
в море брошусь, густое, зловещее,
и спасу тебя!..

Это будет сердцем велено мне,
сердцем велено...
Но ведь ты же сильнее меня,
сильней и уверенней!

Ты сама готова спасти других
от уныния тяжкого,
ты сама не боишься ни свиста пурги,
ни огня хрустящего.

Не заблудишься, не утонешь,
зла не накопишь,
Не заплачешь и не застонешь,
если захочешь.

Станешь плавной и станешь ветреной,
если захочешь...
Мне с тобою - такой уверенной -
трудно очень.

Хоть нарочно, хоть на мгновенье -
я прошу, робея, -
помоги мне в себя поверить,
стань слабее.


3.
Em ạ, em hãy là phái yếu
Anh xin em yếu đuối một chút thôi
Để anh có thể tặng em
Giản đơn điều kỳ diệu trên đời.

Và khi đó anh sẽ vươn vai
Rùng mình, trở thành người đặc biệt
Để nâng em đang say ngủ trên tay
Mang khỏi ngôi nhà đang cháy.

Anh sẽ dám làm điều rồ dại nhất
Mọi điều chưa ai ngờ đến bao giờ
Nhảy xuống biển, dù bão dông gầm thét,
Cứu em, và mang đi...!

Anh làm theo mệnh lệnh của trái tim
Trái tim ra lệnh cho anh
Nhưng sao em mạnh hơn anh thế?
Mạnh hơn và thừa tự tin!

Cứu mọi người khỏi những nỗi buồn
Em luôn đầy sức lực
Em chẳng hề sợ bão tuyết gào
Và ngọn lửa rít trong giận dữ.

Em không thể bị lạc, không thể bị chìm
Em không chất chứa trong tim điều dữ
Em không khóc và cũng không than thở
Bởi em muốn thế mà.

Nếu muốn, em có thể dịu hiền và bay bổng.
Bên một cô gái tự tin đến thế
Anh thấy mình bỗng như thừa.
Em ơi, anh xin em, hãy cố
Yếu mềm đi, dù chỉ một phút giây.
Giúp anh nhé, anh lấy lại sự tự tin
Trong khoảnh khắc em vờ yếu đuối

(Quỳnh Hương dịch)

_________________
Nguyên Anh & blog mới tại vnweblogs.com
Trở về đầu trang
NguyenAnh is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi Yahoo Messenger
[ IP : Logged ]
NguyenAnh
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 71
Tham gia từ: 07 Aug 2005
Bài viết: 1325
Đến từ: TP Hồ Chí Minh

GửiGửi: 29-Sep-2006 9:57 am    Tiêu đề:  Andrei Voznesensky – người ưa thích sự “yên tĩnh"
Trả lời kèm trích dẫn

Andrei Voznesensky – người ưa thích sự “yên tĩnh”

Nguyên Hùng

Andrei Voznesensky là nhà thơ độc đáo và tài năng. Ông vốn là người có ý thức về thời đại, là người mang tham vọng về tính đa trị của hình tượng, là nhà thơ đầy chất trữ tình. Sự nghiệp sáng tạo của ông được đặc trưng bởi những sự kết hợp cô đọng và lối ẩn dụ, phóng đại với vốn tân ngữ phong phú. Ông không giống bất kỳ một nhà thơ nào khác. Voznesensky là người làm việc nhiều, nghiêm túc và đã xuất bản hơn mười tập thơ.

A.Voznesenski sinh ngày 12 tháng 5 năm 1933 tại Moskva trong một gia đình công chức khoa học. Năm 1957 tốt nghiệp đại học kiến trúc Moskva. Những bài thơ đầu tiên được đăng vào năm 1958. Năm 1960, hai tập thơ và trường ca của ông lần lượt được xuất bản: “Parabol” và “Bức khảm”. Tiếp theo sau đó là các tập “Vũ trụ” (1964), “Sự cám dỗ” (1979), “Bản năng” (1981), “Nước Nga, thơ ca” (1991), “Thơ - Trường ca - Văn xuôi” (2000), v.v…

Phương tiện ưa thích nhất của A.Voznesenski là lối ẩn dụ, phóng đại, còn thể loại chính là thơ tự sự trữ tình, ballad và kịch thơ. Andrei Voznesenski giành sự chú ý đặc biệt tới giới trí thức, “các nhà vật lý và các nhà thơ trữ tình”, những người lao động sáng tạo. Đóng góp quan trọng nhất của ông không phải ở các vấn đề tâm lý xã hội mà chính là các phương tiện và hình thức nghệ thuật thể hiện chúng.

Kết cấu các cuốn sách thơ ca và các tác phẩm riêng lẻ của A.Voznesensky thường được xây dựng trên các nguyên tắc cấu trúc học, trong đó, khi xây dựng những cuốn sách mới nhà thơ thường chia ra những chương đặc biệt gồm những gì được tuyển chọn từ các tác phẩm trước đó.

Là người cổ súy cho phong trào vì tiến bộ khoa học và kỹ thuật, A.Voznesensky từng là một trong những người đầu tiên cảm nhận được khát vọng mãnh liệt trong sự “yên tĩnh”. Nhà thơ cần sự yên tĩnh để giao hòa vào thiên nhiên, cần yên tĩnh cho tình yêu, để tập trung cho những suy tư về cuộc đời, để hiểu được những cảm xúc đa chiều trong con người. “Oza”, bản trường ca về tình yêu là một tác phẩm liên quan đến sự yên tĩnh dạng đó. Đề tài về phụ nữ tựu trung được thể hiện rất rõ nét trong thơ ca của A.Voznesensky, cụ thể có thể kể đến các tác phẩm “Đám cưới”, “Mùa thu”, “Bài ca Ofely”, v.v…Thiếu tình yêu giành cho phụ nữ và cảm xúc mãnh liệt trước thiên nhiên thì “con người sụp đổ”, và “tất cả các quá trình chỉ là vô dụng”.

Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại là một trong những đề tài quan trọng nhất trong thơ của Andrei Voznesensky. Đó là những “Ballad của năm 1941”, “Gôia”, “Cái hố”, “Bác sỹ Mùa thu”, v.v…

Đề tài về sự suy đồi xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của nhà thơ, nhưng ý nghĩa tồn tại của nó thì thay đổi theo thời gian: nếu vào những năm 1960-x A.Voznesensky nói về sự suy đồi của những cái xưa cũ, về những hình thức lỗi thời của đời sống và nghệ thuật, thì vào những năm 1980-x và 1990-x ông lại nói về sự suy đồi của các giá trị tinh thần (“Khúc cuồng tưởng của sự suy đồi”).

A.Voznesensky coi thơ ca và nghệ thuật, sự hoạt động quả cảm của giới trí thức Nga và sự phục hưng các giá trị Ki-tô giáo là thứ thuốc giải dùng để chống lại thói vô cảm và sự tàn ác.

Tác phẩm của A.Voznesensky với nội dung tư tưởng và cấu trúc nghệ thuật của mình đã được đón nhận một cách rộng rãi qua các hý trường, nhà hát, sân khấu. Trên cơ sở tác phẩm của ông, Iu.Liubimov đã dựng vở kịch “Vũ trụ”. A.Rybnikov viết vở rock-opera “Junona và Avos”, và M. Zakharov thì dựng nó tại Nhà hát mang tên “Đoàn thanh niên cộng sản Lê-nin”.

A.Voznesensky đồng thời cũng không ngại thử nghiệm trong các thể loại nghệ thuật khác như dựng các video mà ở đó thơ được phối hợp với tranh ảnh và thư pháp.

Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu hai bài thơ của A.Voznesensky qua các bản dịch của Quỳnh Hương:

SAGA

Tới bình minh em sẽ đánh thức anh
Rồi cứ để chân trần em tiễn anh đi nhé.
Em sẽ không bao giờ gặp lại anh lần nữa.
Em sẽ không bao giờ quên anh đâu.

Che chở em khỏi cái lạnh lúc rạng đông
Anh nhủ thầm: «Chúa lòng lành có thấu!
Anh sẽ không bao giờ gặp lại em lần nữa
Anh sẽ không bao giờ quên em đâu».

Mặt nước ngã ba sông sóng lăn tăn
In bóng Bộ Hải quân và Phòng chứng khoán
Anh sẽ không bao giờ quên cảnh đó
Dù sẽ không bao giờ được thấy lại nữa đâu.

Những cây anh đào tuyệt vọng sạm nâu
Nhựa đổ dòng như lệ rơi bởi gió.
Quay đầu lại luôn luôn là điềm xấu.
Anh sẽ không bao giờ gặp lại em đâu.

Cả khi ta tái sinh trong kiếp khác
Thêm một lần sống trên Trái đất này
Thì vĩnh viễn với nhau ta lạc mất.
Anh sẽ không bao giờ gặp lại em đâu.

Và những hiểu lầm từ trước tới nay
Bỗng trở nên nhỏ nhoi không đáng kể
Trước tiền định trong cuộc đời sắp tới
Giữa hai ta là khoảng trống không người.

Treo lửng lơ trên cao vời vô nghĩa
Là đôi câu ám ảnh suốt không thôi:
«Ta sẽ không bao giờ quên nhau trong đời.
Ta sẽ không bao giờ gặp lại nhau lần nữa».


(Quỳnh Hương dịch)

BĂNG GIÁ ĐẦU ĐỜI

Trong cabin điện thoại em gái cóng rồi
Áo khoác mỏng manh không đủ che khỏi lạnh
Khuôn mặt nhỏ đẫm đầy nước mắt
Phấn son trôi không giấu được tái xanh.

Dùng hơi thở tạm sưởi từng ngón tay
Giá như băng. Đôi hoa tai cũng thế.
Ngại ngùng trước đường về em đơn lẻ
Con phố vắng người đã phủ một lớp băng

Băng giá đầu đời lần đầu tiên em gặp
Băng giá đầu đời từ điện thoại lạnh lùng
Vết băng giá trên má em lấp lánh.
Băng giá phũ phàng từ những người dưng.


(Quỳnh Hương dịch)

САГА

Ты меня на рассвете разбудишь,
проводить необутая выйдешь.
Ты меня никогда не забудешь.
Ты меня никогда не увидишь.

Заслонивши тебя от простуды,
я подумаю: «Боже всевышний!
Я тебя никогда не забуду.
Я тебя никогда не увижу».

Эту воду в мурашках запруды,
это Адмиралтейство и Биржу
я уже никогда не забуду
и уже никогда не увижу.

Не мигают, слезятся от ветра
безнадежные карие вишни.
Возвращаться — плохая примета.
Я тебя никогда не увижу.

Даже если на землю вернёмся
мы вторично, согласно Гафизу,
мы, конечно, с тобой разминёмся.
Я тебя никогда не увижу.

И окажется так минимальным
наше непониманье с тобою
перед будущим непониманьем
двух живых с пустотой неживою.

И качнётся бессмысленной высью
пара фраз, залетевших отсюда:
«Я тебя никогда не забуду.
Я тебя никогда не увижу».

ПЕРВЫЙ ЛЁД

Мёрзнет девочка в автомате,
Прячет в зябкое пальтецо
Всё в слезах и губной помаде
Перемазанное лицо.

Дышит в худенькие ладошки.
Пальцы - льдышки. В ушах - серёжки.

Ей обратно одной, одной
Вдоль по улочке ледяной.

Первый лёд. Это в первый раз.
Первый лёд телефонных фраз.

Мёрзлый след на щеках блестит -
Первый лёд от людских обид.

1959

_________________
Nguyên Anh & blog mới tại vnweblogs.com
Trở về đầu trang
NguyenAnh is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi Yahoo Messenger
[ IP : Logged ]
NguyenAnh
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 71
Tham gia từ: 07 Aug 2005
Bài viết: 1325
Đến từ: TP Hồ Chí Minh

GửiGửi: 29-Sep-2006 10:51 am    Tiêu đề:  Nhắn Bí
Trả lời kèm trích dẫn

Nhắn Bí:
Sáng nay có người bên NXB HNV gọi điện cho anh khen bài dịch Saga của em. Em ghé xem nhé:

http://blogtiengviet.net/NguyenHung?cat=516

_________________
Nguyên Anh & blog mới tại vnweblogs.com
Trở về đầu trang
NguyenAnh is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi Yahoo Messenger
[ IP : Logged ]
Tykva
Kvas Nga - Квас
Kvas Nga - Квас


Tuổi: 31
Tham gia từ: 21 Jul 2005
Bài viết: 2395

GửiGửi: 29-Sep-2006 11:05 am    Tiêu đề:  Re: Chân trời văn học: Các nhà thơ Nga
Trả lời kèm trích dẫn

Hihi, em chẳng được nghe cú điện thoại nhỉ...
Đọc blog của anh thì chẳng có gì khoái, toàn những cái đã cũ rồi...
Trở về đầu trang
Tykva is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi
[ IP : Logged ]
NguyenAnh
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 71
Tham gia từ: 07 Aug 2005
Bài viết: 1325
Đến từ: TP Hồ Chí Minh

GửiGửi: 29-Sep-2006 11:21 am    Tiêu đề:  Re: Chân trời văn học: Các nhà thơ Nga
Trả lời kèm trích dẫn

tykva viết:
Hihi, em chẳng được nghe cú điện thoại nhỉ...
Đọc blog của anh thì chẳng có gì khoái, toàn những cái đã cũ rồi...
Thì đó là nơi lưu giữ đồ cũ mà lại Laughing
Nhưng cũng có nhiều cái mới đấy chứ (Bí thử ghé đọc mảng thơ Đường luật, biết đâu Bí lại bỏ thơ Nga cũng nên Laughing Laughing ).

_________________
Nguyên Anh & blog mới tại vnweblogs.com
Trở về đầu trang
NguyenAnh is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi Yahoo Messenger
[ IP : Logged ]
NguyenAnh
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 71
Tham gia từ: 07 Aug 2005
Bài viết: 1325
Đến từ: TP Hồ Chí Minh

GửiGửi: 04-Oct-2006 10:27 am    Tiêu đề:  Re: Chân trời văn học: Các nhà thơ Nga
Trả lời kèm trích dẫn

Raxul Gamzatov
-Người đã lên đường nhưng những tia nắng ấm mãi còn đây

Nguyên Hùng


Thơ Raxul Gamzatov (1923-2003) phần lớn được viết bằng tiếng dân tộc Ava, một dân tộc vỏn vẹn chỉ có 25 ngàn người, sống ở một vùng núi cao của nước cộng hòa tự trị Đaghextan thuộc Liên bang Nga. Tuy vậy, thơ ông không những chỉ nổi tiếng ở Nga, ở Liên Xô (trước đây) mà còn được nhiều bạn đọc khắp nơi trên thế giới biết đến. Riêng ở Việt Nam, Raxul Gamzatov được ngưỡng mộ, trước hết qua tập văn xuôi đầy chất thơ “Đaghextan của tôi”, một cuốn sách được in rất đẹp cả về nội dung lẫn hình thức. Và sau đó, các độc giả thơ cũng dần dần được làm quen và yêu thích thơ ông qua những bản dịch của Thái Bá Tân, Bằng Việt, Đoàn Tuấn, Hồng Thanh Quang…

Về cuộc đời và sự nghiệp thi ca của Raxul Gamzatov, ở Việt Nam đã có khá nhiều bài viết giới thiệu trên báo Văn Nghệ và các phương tiện thông tin đại chúng khác, như gần đây là “Gặp một nhà thơ lớn của một dân tộc ít người” (Thúy Toàn), “Raxul Gamzatov- Lòng nhân ái là cốt lõi của văn học” (Văn Nghệ Trẻ), “Raxul Gamzatốp và “Hiến pháp” của riêng ông (dịch từ báo Lao động, Nga)…

Thơ Raxul Gamzatov cũng đã được chọn dịch khá nhiều ra tiếng Việt, chỉ riêng tập “Thơ Raxul Gamzatov” do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành gần đây có tới 64 bài. Nhằm góp một phần nhỏ bé làm cầu nối giữa nhà thơ Nga nổi tiếng với những người yêu thích thơ ông, dưới đây chúng tôi xin giới thiệu hai bài thơ của ông (“Đã đến lúc tôi lên đường” và “Những ngày nắng ấm đã qua”) với các phương án dịch của các thành viên website NuocNga.net (3N).

Bài thứ nhất:

Trích dẫn:
ИСЧЕЗЛИ СОЛНЕЧНЫЕ ДНИ

Исчезли солнечные дни,
И птицы улетели,
И вот одни проводим мы
Неделю за неделей.
Вдвоём с тобой, вдвоём с тобой
Остались ты да я.
Любимая, любимая,
Бесценная моя!

На косы вновь твои смотрю,
Не налюбуюсь за день.
Птиц улетевших белый пух
Пристал к отдельным прядям.

Пусть у меня на волосах
Лежит, не тая, снег...
Но ты, моя бесценная,
Как прежде, лучше всех.

Все краски вешние неся,
Вернутся снова птицы,
Но цвет волос, но цвет волос
С весной не возвратится.

И солнцу улыбнёмся мы,
Печали не тая.
Любимая, любимая,
Бесценная моя!


Bản dịch của Lưu Hải Hà:

NHỮNG NGÀY NẮNG ĐÃ HẾT

Những ngày nắng đã hết rồi em nhỉ,
Những đàn chim đã đi tránh rét rồi.
Chỉ còn hai ta với ngày với tháng,
Chỉ còn hai ta ở lại em ơi!

Chỉ có hai ta với cả đất trời,
Chỉ anh và em - người_yêu_quý_nhất
Em là niềm tin, em là số phận
Em là tình yêu - báu vật của tôi

Nhìn đuôi sam tóc em mãi không rời
Ngỡ cả đời chưa bao giờ được ngắm
Đàn chim nào chắc bay đi vội lắm
Để quên sợi lông tơ trên tóc, em ơi

Dẫu tóc anh thời gian phủ tuyết rồi,
tuyết không tan giữa mùa hè đầy nắng...
Nhưng trái tim vẫn như xưa, say đắm -
Em vẫn tuyệt vời hơn hết thảy, em ơi!

Mùa đông sẽ qua, và đàn chim trở lại
Với sắc màu xuân rực rỡ đẹp tươi
Nhưng màu tóc, em ơi, không về lại
Dẫu mùa xuân lay động cả cuộc đời...

Với nỗi buồn đã không cần che dấu
Hai chúng ta mỉm cười với mặt trời
Nhưng em vẫn là niềm tin, số phận
Vẫn là tình yêu - báu vật của tôi.

Bản dịch của Nguyên Hùng:

NHỮNG NGÀY NẮNG ẤM ĐÃ QUA

Những ngày nắng ấm còn đâu
Bầy chim lũ lượt rủ nhau bay rồi
Chỉ còn ta với ta thôi
Tháng ngày lặng lẽ nối đuôi tháng ngày
Chỉ còn anh giữa đắm say
Tình-yêu-quý-nhất đời này là em !

Ngắm nhìn bím tóc cong lên
Ngỡ như mới thấy tóc em lần đầu
Thì ra mấy sợi trắng phau
Của chim rớt lại, vướng vào đuôi sam.

Tuyết rơi làm tóc hoa râm
Mà anh chẳng muốn tuyết tan trên đầu
Còn em vẫn tựa thuở nào
Quý hơn tất thảy ngàn sao trên trời.

Sắc màu rồi sẽ lại tươi
Đàn chim sẽ lại về nơi chốn này
Nhưng…nhưng mái tóc màu mây
Không xanh trở lại cùng ngày xuân sang.

Nỗi buồn dẫu chẳng dễ tan
Tiếng cười vẫn đủ âm vang đất trời
Dẫu cho vật đổi sao dời
Em là báu vật suốt đời của anh !

Bản dịch của Thu Hương:

Hết rồi ngày nắng ấm
Chim tránh rét bay rồi
Chỉ còn ông bà lão
Tháng ngày bên nhau thôi!

Chỉ tôi với bà nó
Chỉ bà nó với tôi
Bà lão yêu quý ạ -
Báu vật của tôi ơi!

Tôi ngắm đôi sam tóc
Ngắm không chán cả ngày
Kìa chim rơi lông trắng
Lên tóc bà khi bay

Kệ đầu tôi tuyết bám
Đọng mãi chẳng tan ra
Thật lòng, bà nó ạ
Chẳng ai sánh được bà!

Rồi chim cũng bay về
Mang sắc xuân ấp áp
Chỉ có màu tóc bạc
Chẳng xanh lại được đâu

Nhưng không giấu buồn rầu
Mình vẫn cười với nắng
Vẫn yêu bà say đắm
Ôi báu vật đời tôi!

Mình vẫn sẽ mỉm cười
Với mặt trời ấm áp
Bà lão yêu quý nhất
Báu vật của tôi ơi!

Bản dịch của Quỳnh Hương:

Những ngày nắng hết rồi
Chim cũng đi tránh rét
Chỉ còn em và tôi
Bên nhau bên nhau mãi

Chỉ còn tôi và em
Những tuần đông mê mải
Bên nhau bên nhau mãi
Em quý yêu nhất đời!

Cứ ngày lại qua ngày
Tôi ngắm đôi bím tóc
Thấy những lông chim rụng
Vương trắng vài lọn tơ

Trên đầu tôi cũng đã
Tuyết đọng trắng từ lâu
Nhưng em, em yêu quí,
Vẫn như buổi ban đầu.

Rồi mùa xuân trở lại
Trên những cánh chim trời
Nhưng tóc đã bạc rồi
Không bao giờ đen lại

Ta cùng đón mặt trời
Cùng mỉm cười em nhé
Nỗi buồn, em yêu quí,
Cũng không cần giấu đâu.

Nỗi buồn, em yêu quí
Cũng không cần giấu đâu
Khi mình đón mặt trời
Cùng mỉm cười với nắng.

Bài thứ hai:

Trích dẫn:
МНЕ В ДОРОГУ ПОРА

Дорогая моя, мне в дорогу пора,
Я с собою добра не беру.
Оставляю весенние эти ветра,
Щебетание птиц поутру.

Оставляю тебе и сиянье луны,
И цветы в тляротинском лесу,
И далекую песню каспийской волны,
И спешащую к морю Койсу,

И нагорья, где жмется к утесу утес,
Со следами от гроз и дождей,
Дорогими, как след недосыпа и слез
На любимых щеках матерей.

Не возьму я с собою сулакской струи.
В тех краях не смогу я сберечь
Ни лучей, согревающих плечи твои,
Ни травы, достигающей плеч.

Ничего не возьму, что мое искони,
То, к чему я душою прирос,
Горных тропок, закрученных, словно ремни,
Сладко пахнущих сеном в покос.

Я тебе оставляю и дождь и жару,
Журавлей, небосвод голубой...
Я и так очень много с собою беру:
Я любовь забираю с собой.


Bản dịch của Quỳnh Hương:

Đã đến lúc tôi phải lên đường

Em ạ, tôi sửa soạn lên đường
Hành lý không mang theo tiền bạc.
Tôi để lại con gió lành mỗi sáng
Và tiếng chim ríu rít chào bình minh.

Tôi để lại cho em ánh trăng lấp lánh
Hoa rừng khắp thung lũng quê hương
Những bài ca của sóng biển Kaspien
Rộng vòng tay chờ sông Koisa đổ tới.

Cả những ghềnh đá nơi núi non vĩ đại
Còn mang trên mình dấu vết bão giông
Như gò má của mẹ hiền yêu dấu
In những nếp nhăn vì nước mắt đêm trường.

Tôi không mang theo suối mát quê hương
Nơi xa kia tôi không thể giữ gìn.
Ánh mặt trời sưởi ấm đôi vai em
Cùng đồng cỏ cao cao - tôi để lại.

Tôi không mang theo những gì thân thuộc,
Một phần máu thịt của hồn tôi.
Những con đường cheo leo vòng quanh núi,
Và không khí trong lành đẫm hương thơm.

Tôi để lại cho em cả mưa và nắng,
Đàn sếu bay trong xanh thắm bầu trời.
Hành lý của tôi đã nặng lắm rồi
Tôi mang theo tình yêu trong đó.

Bản dịch của Phan Chí Thắng:

Đã đến lúc anh phải lên đường

Em thân yêu, anh phải đi rồi
Anh không hề mang theo của cải
những ngọn gió xuân, anh để lại
Và tiếng chim ríu rít ban mai

Anh để lại cho em cả ánh trăng ngời
Cả những bông hoa rừng Tliarotin ấy
Cả bài ca xưa của sóng Kaspien
Cả dòng Koixa vội vàng ra với biển

Và cao nguyên nơi đá ghềnh chen lấn
Đầy vết tích bão dông
Thân thương như vết hằn đói nghèo và nước mắt
Trên má những người mẹ hiền

Anh không mang theo những dòng nước Xulacsk
Ở những nơi anh không thể giữ gìn
Ánh mặt trời sưởi ấm vai em
Và đồng cỏ cao ngang vai – anh để lại

Anh không mang theo những gì xa ngái
Mà hồn anh đã gắn chặt rồi
Những con đường cheo leo vòng quanh núi,
Mùi cỏ mới cắt ngọt ngào hương tươi

Anh để lại cho em cả mưa, cả nắng,
Đàn sếu, trời xanh…
Anh đã mang nhiều lắm:
Anh mang tình yêu theo anh!

Bản dịch của Lưu Hải Hà:

Đã đến lúc tôi đi...

Em yêu ơi đã đến lúc tôi đi
Tôi chẳng đem gì theo em ạ
Tôi để lại gió mùa xuân êm ả
Và tiếng chim tha thiết gọi nắng hồng

Tôi để lại cho em rực rỡ vầng trăng
Hoa trong rừng Tliarotin ta dạo bước
Khúc hát xa xăm Kaxpi sóng nước
Và sông Koisa vội vã gặp biển mừng

Vùng trung du núi kề núi trập trùng
Có vết cơn giông, vết kia mưa gội
Thân thương như vết lệ gò má tối
Của mẹ ta đêm thiếu ngủ triền miên

Tia nước Sulak tôi cũng chẳng thể đem
Nơi xa kia tôi nào giữ được
Những ngọn cỏ cao đến vai em bước
Những tia mặt trời sưởi ấm vai em

Những gì của tôi chẳng thể đem thêm
Những gì gắn với tâm hồn từ bé
Đường núi cong như thắt lưng trai trẻ
Đầy mùi cỏ tươi mới cắt ngọt lành

Tôi để cho em cả mưa cả nắng
Bầy sếu kia, và cả trời xanh
Tôi có đem gì nhiều nhặn đâu em nhỉ:
Chỉ có tình yêu tôi mang mãi theo mình.

_________________
Nguyên Anh & blog mới tại vnweblogs.com
Trở về đầu trang
NguyenAnh is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi Yahoo Messenger
[ IP : Logged ]
NguyenAnh
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 71
Tham gia từ: 07 Aug 2005
Bài viết: 1325
Đến từ: TP Hồ Chí Minh

GửiGửi: 04-Oct-2006 10:31 am    Tiêu đề:  Re: Chân trời văn học: Các nhà thơ Nga
Trả lời kèm trích dẫn

Nhắn Bí:
Tớ vừa thấy cái bài dịch của Bí được anh Hoàng Đình Quang (Trưởng đại diện NXB HNV ở TPHCM) đưa về đăng tại blog của mình Laughing

_________________
Nguyên Anh & blog mới tại vnweblogs.com
Trở về đầu trang
NguyenAnh is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi Yahoo Messenger
[ IP : Logged ]
Tykva
Kvas Nga - Квас
Kvas Nga - Квас


Tuổi: 31
Tham gia từ: 21 Jul 2005
Bài viết: 2395

GửiGửi: 04-Oct-2006 2:47 pm    Tiêu đề:  Re: Chân trời văn học: Các nhà thơ Nga
Trả lời kèm trích dẫn

NguyenAnh viết:
Nhắn Bí:
Tớ vừa thấy cái bài dịch của Bí được anh Hoàng Đình Quang (Trưởng đại diện NXB HNV ở TPHCM) đưa về đăng tại blog của mình Laughing

Cảm ơn NA, em đọc rồi, nhưng Smile Smile những chỗ sửa chữa trên blog của NA là hợp lý và làm bản dịch hay hơn thật, nhưng trên blog của bác Quang thì đã sửa quá nhiều, trơn tru tới mức em không nhận ra bản thân mình nữa Very Happy
Trở về đầu trang
Tykva is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi
[ IP : Logged ]
NguyenAnh
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 71
Tham gia từ: 07 Aug 2005
Bài viết: 1325
Đến từ: TP Hồ Chí Minh

GửiGửi: 14-Oct-2006 10:14 pm    Tiêu đề:  Anna Akhmatova
Trả lời kèm trích dẫn

Anna Akhmatova
Đại diện cuối cùng của “thế kỷ bạc” trong nền thi ca Nga


Tachiana Sinhitsyina
LƯU HẢI HÀ dịch



Bốn mươi năm trước đây, ngày 5 tháng 3 năm 1966, Anna Akhmatova, nhà thơ Nga vĩ đại đã qua đời. Bà gọi trái tim mình là “đã thủng lỗ” từ những năm còn trẻ tuổi. Cuộc đời đã dành cho người phụ nữ này rất nhiều đau khổ tinh thần, đủ để tiêu diệt bất kỳ người nào. Nhưng số phận đã gìn giữ Anna Akhmatova gần 77 năm. Tất nhiên là gìn giữ cho những dòng chữ quý báu mà tài năng của bà đã phản xạ trên giấy.

Cái chết của Anna Akhmatova đã dừng chiếc đồng hồ của “thế kỷ bạc” trong thi ca Nga lại. Bà là người đại diện cuối cùng của thời kỳ rạng ngời này của văn học Nga, thời kỳ bắt nguồn từ nửa sau của thế kỷ XIX. “Có thế kỷ vàng và thế kỷ bạc của nghệ thuật. Cả trong thế kỷ vàng cũng như thế kỷ bạc đều có những con người xứng đáng với nhau. Và cũng chưa chắc gì những người thuộc thế kỷ vàng là những người khác với những người thuộc thế kỷ bạc” – nhà thơ Nhicôlai Otsup năm 1933 đã xác định rất chính xác hai hiện tượng ấy của văn hóa Nga như thế. Anna Akhmatova thuộc về thế hệ tuyệt vời ấy của các nhà thơ Nga.

… Trong năm đầu tiên sau cách mạng, Anna Akhmatova vừa mới mắc bệnh lao. Bà lên tàu đi Matxcơva, tránh xa những màn sương mù của Peterburg. Trong toa tàu Akhmatova muốn hút thuốc và bà lấy thuốc lá ra. Nhưng trong số những người xung quanh không ai có diêm cả. Khi đó Akhmatova thò đầu ra ngoài cửa sổ và đốt thuốc từ những tia lửa của tàu. Lúc đó một anh lính Hồng quân nhìn thấy thế đã thốt lên: “Người như thế thì chẳng bị gục ngã đâu!”. Một tư thế cuộc sống không bao giờ thay đổi đã giúp cho bà không bị gục ngã: đối với mọi đòn đánh của số phận Akhmatova chỉ có một câu trả lời – ngẩng cao đầu kiêu hãnh. Chỉ có tâm hồn khóc – khóc bằng thơ.

Những dòng thơ đầu tiên Akhmatova viết vào năm 11 tuổi, khi còn sống ở thành phố Odessa, nơi bà đã sinh ra. Khi nhìn thấy tác phẩm của cô con gái thì cha bà, một kỹ sư đã nói rất nghiêm khắc: “Đó là sự suy đồi, đừng có bôi nhọ họ của tôi!”. Cô con gái vâng lời và đổi họ Gorenko sang họ của bà cố vốn thuộc dòng giõi các công tước Tatar – Akhmatova. Lần thứ hai thì người hâm mộ say đắm, Nhicolai Gumilev lại khuyên cô hãy xa cách việc làm thơ: “Em mảnh dẻ và dẻo dai thế. Có lẽ em múa sẽ tốt hơn chăng?”. Nhưng Akhmatova vẫn bị thi ca cuốn hút. Năm 1907, Gumilev muốn làm một món quà tặng người yêu và công bố trong tạp chí “Sirius” xuất bản ở Paris của ông một bài thơ của nàng. Thế là nữ sĩ Anna Akhmatova lần đầu tiên gặp gỡ với bạn đọc.

Ngày 12 tháng 5 năm 1910 Anna Akhmatova và Nhicolai Gumilev đã kết hôn ở một nhà thờ nhỏ gần Kiev – Anna học luật ở thành phố này. Sau đó họ tới Slepnhevo – điền trang của dòng họ Gumilev ở vùng Tveri. Nhưng chẳng bao lâu sau thì cuộc sống sôi động đã gọi họ tới thủ đô. Akhmatova và Gumilev cùng với M.Kuzmin, Vyach. Ivanov thành lập nhóm thơ “Phân xưởng nhà thơ”, họ tuyên bố về “trường phái acmeisme. Kết quả là tập thơ mỏng đầu tiên của Akhmatova “Chiều” đã ra đời và ngay lập tức đem lại vinh quang. Các nhà thơ trẻ sống cuộc sống bohema đầy sôi động. Họ bàn luận về nghệ thuật cuộc sống và những bí mật của thi ca trong quán cà phê sành điệu của Peterburg “Con chó lang thang”, thưởng thức rượu sâm panh và dứa. Anna luôn là tâm điểm của sự chú ý – không chỉ như một nhà thơ mà còn như một người phụ nữ, người ta so sánh nàng với bức tượng cổ đại, tỏ tình với nàng, thậm chí đấu súng vì nàng. Chính trong thời gian này họa sĩ trẻ N.Altman đã vẽ bức chân dung nổi tiếng của Akhmatova: nàng ngồi quay nghiêng, trong bộ áo màu xanh sẫm, quàng một chiếc khăn vàng.

Cuộc sống riêng tư của Akhmatova thời gian đó cũng tuân theo acmeisme – quay về với sự tự nhiên của thế giới vật chất, với những cảm xúc ban đầu. Đám cưới của Akhmatova và Gumilev không thể hạnh phúc được – họ quá khác nhau. Chỉ mới 5 tháng trôi qua sau ngày cưới thì người chồng trẻ đã vội vàng tới châu Phi một lần nữa, còn Anna thì vội vàng tới Paris. Thành phố này chờ nàng với một mối tình với một chàng họa sĩ nghèo còn chưa được ai biết đến – Amadeo Modigliani. Khi họ chia tay, Anna tặng chàng một chiếc lông đà điểu làm kỷ niệm – chiếc lông này được Gumilev đem về từ châu Phi và cắm trên mũ nàng, còn Modigliani thì tặng Anna 16 bức chân dung nàng. Tiếc rằng đến nay thì chỉ còn lại có một bức trong số đó.

Năm 1912 cặp vợ chồng Gumilev sinh được một cậu con trai đặt tên là Lev, một nhà sử học, nhà dân tộc học và triết học nổi tiếng trong tương lai. Bố mẹ cậu sống quá nhiều trong môi trường thơ văn, nên người nuôi dạy cậu bé là bà nội. Bà Anna Ivanova tha thứ tất cả cho cô con dâu “kỳ dị” vì cô đã tặng cho bà cậu cháu nội. Anna Akhmatova cũng thường tới Slepnhevo, ở đây nữ sĩ đã viết 60 bài thơ trong tập thơ “Đàn chim trắng”.

Khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bắt đầu thì Akhmatova gần như biến khỏi cuộc sống công chúng và sống khép kín, một mình chịu đựng bệnh lao. Thời đó bệnh này được coi là không chữa được. Cho rằng “thời gian đã kết thúc”, Anna đắm mình trong thế giới yêu thích – văn học cổ điển, khám phá lại thế giới này. Chính thời gian đó nữ sĩ đã viết những dòng thơ nổi tiếng:

“Trái tim bây giờ chẳng cần gì nữa
Cái nóng bỏng này tôi đã uống rồi…
Khối không khí lớn của Onhegin ấy
Như đám mây treo lơ lửng trước tôi…”

Pushkin mãi mãi là lý tưởng không suy xuyển đối với Akhmatova, còn thi ca thì nhận được tính ngữ “rám nắng”. Thời gian đó là thời gian hình thành nhà thơ Akhmatova, người tuân theo sự nghiêm túc cổ điển của thi ca, sự rõ ràng và súc tích của phong cách thi ca. Và đó là những gì mà Akhmatova đã đem theo vào ngôi đền thiêng Pantheon(*) của thi ca Nga.

Akhmatova đón nhận sự sụp đổ của nước Nga cũ một cách khó khăn. Tuy nhiên, mặc dù cảm nhận đựơc toàn bộ bi kịch của sự kiện, nữ sĩ không hề chấp nhận ý nghĩ rời bỏ quê hương – “Tôi không đi cùng những người bỏ đất nước…”. Trong những đau khổ chung ấy nữ sĩ lại có thêm niềm đau riêng: năm 1918 Akhmatova và Gumilev chia tay. Anna đến sống cùng người chồng mới – nhà nghiên cứu phương Đông V.Shileiko. Nhưng Shileiko cũng không đánh giá được vai trò của Akhmatova như một thi sĩ, và ông thản nhiên đem những bản thảo thơ của Anna nấu nước. Anna thở phào hạnh phúc khi ly dị với Shileiko, để rồi lại rơi vào tay những người “chủ nô” khác. Akhmatova đi tìm “một tâm hồn gần gũi”, nhưng đến tận cuối đời vẫn không tìm thấy…

Năm 1921 cuộc đời dành cho Akhmatova hết cú đánh này đến cú đánh khác. Tháng tám năm ấy nhà thơ Alekxandr Blok qua đời, còn sau đó 2 tuần thì Nhicolai Gumilev bị tử hình. Quên đi bệnh lao, Akhmatova quay trở lại môi trường thi ca, để đón nhận lấy cây đàn lia của thi ca Nga đang run rẩy vì những mất mát lớn không bù đắp nổi. Nữ sĩ xuất bản hai tập thơ “Cây mã đề” và «Anno Domini».

Tháng 9 năm 1921 Lev, cậu con trai 9 tuổi của Anna không được phát sách giáo khoa ở trường học chỉ vì cha cậu bị xử bắn. Đó là dấu hiệu bắt đầu những năm tháng đau khổ của Anna và cậu con trai. Năm 1935 cả con lẫn chồng của Akhmatova – ông N.Punhin, ủy viên Bảo tàng Nga và Ermitage, đều bị bắt vào tù. Suốt 17 tháng Akhmatova đứng xếp hàng ở cổng nhà tù

“Mười bảy tháng mẹ kêu gào khản tiếng
Mẹ gọi mong con về được nhà thôi
Mẹ quỳ xuống dưới chân đao phủ
Con là con, là nỗi sợ con ơi”.

Anna thu hết dũng cảm viết thư cho Stalin, và Lev Gumilev được thả ra. Nhưng ba năm sau thì Lev lại bị bắt. Akhmatova can đảm theo học khóa học người mẹ của tù nhân. Những đau khổ trong những năm tháng ấy đã hợp thành tập thơ “Requiem”, mà suốt hai mươi năm Akhmatova chỉ dám để trong ký ức, không dám ghi ra giấy.

Những năm tháng Chiến tranh Giữ nước Vĩ đại nữ sĩ cùng các nhà văn khác sơ tán từ vòng vây Leningrad tới Tashken. Những dòng thơ yêu nước của Akhmatova được viết lên tranh cổ động thời ấy: “Giờ khắc dũng cảm trên đồng hồ của chúng ta đã điểm, và lòng dũng cảm sẽ không rời bỏ chúng ta!”. Thời kỳ đó Anna viết trường ca “Không có nhân vật” và luôn luôn cầu nguyện cho con trai đang chiến đấu trong những tiểu đoàn trừng giới. Lev Gumilev đã nguyên vẹn trải qua chiến tranh, nhưng sau chiến thắng thì Lev lại vẫn tiếp tục ở tù. Lại một vết thương trong trái tim của Akhmatova. “Tôi đâu có một mình, tôi cùng cả nước, cùng xếp hàng vào trước ngục tù” – sau này Akhmatova sẽ viết vào tiểu sử tự thuật ngắn gọn của mình như thế.

Một thời gian khá lâu chính quyền không động đến Anna Akhmatova, mặc dù thi ca của Akhmatova bị coi là “suy thoái” và “kiểu cách”. Nhưng năm 1945 thì nữ sĩ làm Stalin giận dữ khi biết rằng I.Berlin, nhà sử học Anh đã ghé thăm Anna. Và Akhmatova cùng với nhà văn Mikhail Zoshenko trở thành đối tượng bị các nhà phê bình “đập nát thành tro bụi”. Năm 1946 trong các tạp chí “Ngôi sao” và “Leningrad” công bố nghị quyết của Hội Nhà văn Liên Xô, trong đó gọi Zoshenko là “kẻ lưu manh trong văn học” còn Akhmatova thì bị gọi là “kẻ dâm đãng”. Ngay lập tức Akhmatova bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn Liên Xô. Nhưng ngay cả trong hoàn cảnh đó thì Anna Akhmatova cũng chỉ nhún vai: “Một cường quốc cần gì phải đem xe tăng nghiền nát lồng ngực một bà già ốm yếu?”

Suốt 20 năm Anna Akhmatova không được in tác phẩm. Đó là một thử thách lớn đối với nữ sĩ. Nhưng bà vẫn tiếp tục “viết cho tương lai”, và sống bằng việc dịch thuật, những việc mà bạn bè tìm cho. Mãi đến năm 1965 Akhmatova mới xuất bản được tập thơ tổng kết “Bước chạy thời gian. Những bài thơ 1909-1965”. Trong đó – là sự nhận thức bi kịch của nước Nga trong thế kỷ XX, sự trung thành với những cơ sở đạo đức cuộc sống, tâm lý của tình cảm phụ nữ.

Những năm cuối đời “nữ hoàng của thế kỷ bạc” được cho phép nhận giải thưởng văn học Italia “Etna-Taormina” và danh hiệu tiến sĩ danh dự của Đại học Tổng hợp Oxford. Còn từ đất nước của chính mình thì nữ sĩ chỉ nhận được một giải thưởng, nhưng đó là giải thưởng quý giá nhất – sự thừa nhận của độc giả.

Ở quận Bezhetsk vùng Tver, trên mảnh đất “nhớ đến đau lòng” có một đài kỷ niệm tuyệt vời dành cho Anna Akhmatova, Nhicolai Gumilev và Lev Gumilev. Họ được diễn tả như một gia đình hạnh phúc, bước đi trên mảnh đất quê hương, mảnh đất được họ chiếu sáng bằng ánh hào quang tài năng của mình.
-------------------------
(*)- Pantheon trong tiếng Hy Lạp là đền thờ, hay nơi dành riêng cho các vị thần; Thường được dùng với nghĩa là nơi an nghỉ của những người xuất chúng.

_________________
Nguyên Anh & blog mới tại vnweblogs.com
Trở về đầu trang
NguyenAnh is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi Yahoo Messenger
[ IP : Logged ]
NguyenAnh
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 71
Tham gia từ: 07 Aug 2005
Bài viết: 1325
Đến từ: TP Hồ Chí Minh

GửiGửi: 30-Oct-2006 7:55 am    Tiêu đề:  Re: Chân trời văn học: Các nhà thơ Nga
Trả lời kèm trích dẫn

Phần phụ lục cho bài Nhà thơ Nga Rozhdestvensky Robert

CÁC BẢN DỊCH KHÁC THƠ ROZHDESTVENSKY

Bài 1.

Trên Trái đất nhỏ nhoi thảm hại này
Từng có một chàng trai nhỏ bé.
Anh làm việc tại một công sở nhỏ,
Mỗi sáng mang theo mình một chiếc cặp nhỏ thôi.
Hàng tháng lĩnh lương món tiền còi...

Nhưng bỗng nhiên vào một sáng đẹp trời
Tin dữ đến với từng ô cửa sổ
Chiến tranh, dường như không lớn, đã bắt đầu...
Anh nhận khẩu súng trường tự động xinh xinh
Đôi ủng lính vừa chân cỡ nhỏ
Chiếc mũ sắt vừa mái đầu thanh tú
Và áo khoác ngoài số nhỏ nhất của quân nhân.

...Thế mà khi anh hy sinh – thế ngã dù không đẹp,
Tiếng thét xung phong làm biến dạng đôi môi
Tìm khắp Trái đất này cũng chẳng đủ hoa cương
Để tạc tượng cho xứng tầm anh đứng thẳng!

(Qùynh Hương dịch)

Ngày xửa ngày xưa có một người bé nhỏ
Sống trên Trái đất này - cũng nhỏ đến phát thương
Anh ấy có một công việc nhỏ bé bình thường
Và cái cặp - cũng rất là bé bỏng
Anh ấy nhận tiền lương - cũng nhỏ bé thôi

Nhưng có một lần - vào một sáng tuyệt vời
Một cuộc chiến tranh tưởng như nhỏ bé ...
Chiến tranh gõ cửa nhà anh nhè nhẹ
Anh được phát khẩu súng trường nhỏ bé
Anh được nhận đôi ủng cũng nhỏ thôi
Anh được phát cả một chiếc mũ sắt bé
Và áo khoác ngoài - cỡ cũng nhỏ - bình thường

... Và khi anh ngã - không đẹp, không đúng kiểu
Trên miệng vẫn còn tiếng thét xung phong
Thì trên khắp trái đất này đá hoa cương không đủ
Để tạc tượng anh cho thật xứng tầm!

(Lưu Hải Hà dịch)

Bài 2.

Anh lại đến bên em, chỉ để thêm một lần
Chăm chú lắng nghe em nói
Để lại ngồi còng lưng trên ghế
Chẳng thể nào nói được một câu.

Anh lại đến và gõ cửa
Rồi lặng người chờ một tiếng mời vào
Nếu như em biết điều này
Chắc em không tin đâu nhỉ.

Chắc em, dĩ nhiên là thế,
Cười to, và bảo: “Nghe mới ngốc làm sao...”
“Thế mà cũng đòi - phải lòng say đắm!”
Rồi ném một cái nhìn ngạc nhiên

Và bởi vì em không thể ngồi yên
Em sẽ không kìm tiếng cười chảy như sông.
Cũng được. Hãy cứ cười em ạ
Vì anh yêu em như thế cơ mà.

(Qùynh Hương dịch)

Bài 3.

Này em ơi, anh xin em một chút
Này em yêu, hãy yếu đuối chút đi
Và khi đó hẳn là anh có thể
Dễ dàng tặng em những diệu kỳ

Và khi đó anh vung tay, anh sẽ
Lớn thành người thật đặc biệt trên đời
Nếu em mê mệt trong ngôi nhà cháy
Anh sẽ mang em ra, dễ dàng thôi

Anh sẽ làm tất cả gì chưa rõ
Làm tất cả những gì táo bạo
Dẫu bao điềm gở biển kia có báo
Thì anh cũng nhảy vào để cứu em ra!

Đó sẽ là lệnh của trái tim
Lệnh của trái tim anh nóng hổi.
Nhưng em mạnh mẽ hơn, em hỡi
Em mạnh hơn và tự tin hơn!

Em sẵn sàng cứu bao người khác
Khỏi những ngày chán ngán ủ ê
Em không sợ lửa bừng bừng thiêu đốt
Hay bão tuyết kia gầm rú não nề

Em sẽ không lạc đường, không chết đuối
Và không bao giờ gom góp hờn căm,
Nếu em muốn, em sẽ không rên rỉ
Và sẽ không ngồi khóc âm thầm

Nếu em muốn, thì em sẽ nhẹ dạ
Nếu em muốn, em cũng mềm dẻo thôi
Em tự tin quá, nên anh thấy
Khó xử bên em, khó lắm, em ơi

Ôi ngại quá, anh cầu xin em đấy
Hãy giúp cho anh được tự tin
Dù cố ý, dầu chỉ trong vài phút
Anh xin em, em hãy yếu đuối hơn!

(Lưu Hải Hà dịch)

Bài 4. ДОЧКЕ

Катька, Катышок, Катюха -
тоненькие пальчики.
Слушай, человек-два-уха,
излиянья папины.

Я хочу, чтобы тебе
не казалось тайной,
почему отец теперь
стал сентиментальным.

Чтобы всё ты поняла -
не сейчас, так позже.
У тебя свои дела
и свои заботы.

Занята ты долгий день
сном, едою, санками.
Там у вас, в стране детей,
происходит всякое.

Там у вас, в стране детей -
мощной и внушительной, -
много всяческих затей,
много разных жителей.

Есть такие - отойди
и постой в сторонке.
Есть у вас свои вожди
и свои пророки.

Есть - совсем как у больших -
ябеды и нытики...
Парк бесчисленных машин
выстроен по нитке.

Происходят там и тут
обсужденья грозные:
«Что на третье дадут:
компот или мороженое?»

«Что нарисовал сосед?»
«Ёлку где поставят?..»
Хорошо, что вам газет -
взрослых - не читают!..

Смотрите, остановясь,
на крутую радугу...
Хорошо, что не для вас
нервный голос радио!

Ожиданье новостей
страшных и громадных...
Там у вас, в стране детей,
жизнь идёт нормально.

Там - ни слова про войну.
Там о ней - ни слуха...
Я хочу в твою страну,
человек-два-уха!

Gửi con gái

Kát-ka, Ka-tư-sốk, Ka-chiu-kha!
Những ngón tay mảnh mai xinh xắn
Nghe này con, cô-bé-hai-tai-vểnh
Như đúc khuôn giống hệt tai ba.

Ba muốn con hay
Một điều bí mật
Vì sao giờ đây
Ba thành "mít ướt"ị

Để con sau này
Tận tường mọi sự,
Khi công việc nhiều
Cùng bao lo nghĩ.

Con bận mỗi ngày
Ngủ, ăn, trượt tuyết
Thế giới trẻ thơ
Biết bao công việc!

Vương quốc các con
Oai phong hùng mạnh.
Bao chuyện lo toan,
Bao người sinh sống

Có kẻ nên tránh
Đừng lại gần thêm
Có cả thủ lĩnh
Cả đấng thần tiên.

Có hạng mách lẻo
Có nhóm than van
Bãi xe, của hàng
Khác gì người lớn!

Chỗ này chỗ nọ
Xôn xao luận bàn:
"Tráng miệng gì nhỉ -
Kem hay nước cam?"

"Hàng xóm vẽ gì?
Thông đặt đâu đấy?.."
Thật may các con
Không đọc tin sớm

Các con hãy ngắm
Cầu vồng lung linh
May sao tai xinh
Tiếng đài không lọt

Không cần theo dõi
Tin tức kinh hoàng
Thế giới trẻ con
Vẫn bình yên lắm!

Không tin chiến trận
Không chuyện giao tranh...
Này Bé-tai-xinh,
Ba cũng muốn mình
Bién thành con trẻ!

(Thu Hương dịch)

_________________
Nguyên Anh & blog mới tại vnweblogs.com
Trở về đầu trang
NguyenAnh is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi Yahoo Messenger
[ IP : Logged ]
Xem các bài viết từ:   
Chủ đề phía trước :: Chủ đề kế tiếp

Gửi bài mới   Trả lời cho chủ đề   printer-friendly view    NuocNga.Net -> Thi ca Nga Thời gian: [GMT + 7 Giờ]
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển nhanh tới:  
Bạn không thể gửi chủ đề mới
Bạn không thể trả lời các chủ đề
Bạn không thể sửa đổi bài viết của mình
Bạn không thể xoá bài viết của mình
Bạn không thể tham gia các bình chọn
You cannot attach files in this forum
You cannot download files in this forum

Designed by TekCIZ Co., Ltd
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group