NuocNga.Net

Page Loading... please wait!



This page still doesn't show? Click here
 
Trang chủTrang chủ    Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Danh sách thành viênDanh sách thành viên   Nhóm làm việcNhóm làm việc Ban quản trịBan quản trị   Đăng kýĐăng ký 
 Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắnTin nhắn   Đăng nhậpĐăng nhập 
Tô Châu, Hàng Châu-thiên đường hạ giới

 
Gửi bài mới   Trả lời cho chủ đề   printer-friendly view    NuocNga.Net -> Địa lý
Chủ đề phía trước :: Chủ đề kế tiếp  
Tác giả Nội dung bài viết
nheva
Salat Nga - салат Оливье
Salat Nga - салат Оливье


Tuổi: 64
Tham gia từ: 09 Nov 2005
Bài viết: 135
Đến từ: Ha Noi

GửiGửi: 04-Jul-2006 12:14 pm    Tiêu đề:  Tô Châu, Hàng Châu-thiên đường hạ giới
Trả lời kèm trích dẫn

Đây, hưởng ứng kêu gọi của Trăng Quê, xin chia sẻ cảm xúc của chuyến " du Giang Nam" thực hiện năm 2005:


ĐẾN TÔ CHÂU NGHE CHUÔNG CHÙA HÀN SAN
Chỉ vừa chạm tới cửa ngõ Tô Châu, tôi đã biết mình không nhầm khi chọn thành phố vùng Giang Nam này làm một điểm đến của chuyến “hành Trung Hoa” 10 ngày. Tô Châu hiện ra quá đỗi xinh đẹp và quyến rũ với những phố cổ mái nâu tường trắng, những cây cầu đá duyên dáng, những tháp chuông chùa thấp thoáng sau rặng ngân hạnh lấp lánh như dát vàng. Những ngày lưu lại thành phố, được tiếp xúc với người dân, được thưởng thức cảnh sắc và ẩm thực nơi đây mới càng thấu hiểu vì sao người Trung Quốc xưa đã từng gọi Tô Châu là “Thiên đường hạ giới” (“Trên có thiên đàng, dưới có Tô, Hàng”)
VẪN CÒN ĐÂY DIỆN MẠO 2500 NĂM TRƯỚC.

Thành phố này giàu đẹp ngay từ cái tên. Cô Châu hướng dẫn viên (người gốc Tô Châu) hào hứng giải thích: chữ Tô trong tên thành phố nghiã cổ là “cá” và “gạo”. Nằm ở Đông Nam tỉnh Giang Tô, thuộc vùng đất màu mỡ nhất châu thổ sông Dương Tử (tây giáp Thái Hồ, đông sát Thượng Hải, nam kề Chiết Giang), Tô Châu là một thành phố hiếm có trên thế giới lưu giữ đựơc hầu như nguyên vẹn khuôn mặt hơn 2500 năm trước của mình. Đây là đô thành của nước Ngô thời Xuân Thu do Ngô Vương Hạp Lư sai quan đại phu Ngũ Tử Tư xây dựng nên vào năm 514 trước Công nguyên, dưới tên gọi là Đại Thành Hạp Lư, có chu vi vòng thành dài 23,5 km và 8 cặp cổng thành nửa nước nửa cạn. Thời Tần, vùng này được gọi là Ngô huyện, đời Đông Hán gọi là Ngô quận (chính là nước Ngô hay còn gọi là vùng Giang Đông của Tôn Quyền trong “Tam Quốc diễn nghĩa”. Đến đời Tuỳ (TK-6), nó được gọi là Tô Châu hoặc Cô Tô (theo tên ngọn núi nổi tiếng ở vùng này). Tô Châu từ đời Đường đã nổi tiếng là vựa lúa, bởi thế mới có câu nói lưu truyền từ xưa: “Khi Tô Châu đã sản xuất thì ai cũng có đủ”. Bạch Cư Dị cách đây hơn nghìn năm đã viết: “Tô Châu có dân số lớn hơn quận Dương Châu và có hơn một nửa số cửa hàng ở kinh đô Tràng An”. Nhà văn Tào Tuyết Cần thì cho truyện “Hồng Lâu Mộng” mở đầu tại bối cảnh Trường Môn - một không gian phồn vinh ở ngoại thành Tô Châu- được phác họa như một quần xã thượng hạng của sự giàu có và văn hoá.
Các nhà nghiên cứu cho rằng chính hệ thống sông nước chằng chịt bao quanh đã giúp Tô Châu tránh khỏi bao cuộc can qua, binh đao lửa khói để giữ được hầu như nguyên vẹn diện mạo xưa. Để đến hôm nay chúng tôi lại được dạo gót quanh những khu vườn, những ngôi chùa cổ, chạm tay vào những cổng thành uy nghi, cảm nhận bức tranh đặc trưng của vùng Hoa Nam với những tiếng líu lo của các thương nhân và giọng nói như hát như ru của người dân lan toả khắp các ngõ phố.
Đến đây, không thể bỏ qua những khu vườn độc đáo đẹp nhất Trung Hoa đã đưa Tô Châu trở thành Di sản văn hoá thế giới. Nghệ thuật tạo vườn ở đây đã có từ hơn 1500 năm và đạt đến thời vàng son vào đời nhà Minh ,khi mà nơi này có tới hơn 200 khu vườn phong cảnh. Hiện vẫn lưu giữ được vẹn toàn gần 70 khu vườn như thế. Mất gần 30 phút ô- tô đi về phía Bắc thành phố, chúng tôi đến Sư Tử Lâm (rừng Sư Tử), được xây dựng từ năm 1342 bởi nhà sư Thiên Như. Ai nấy đều sững sờ trước vẻ đẹp bất ngờ của ngôi vườn. Lá ngân hạnh lấp lánh như dát vàng sà xuống mặt nước, quanh hồ những khóm phong đỏ rực chen giữa những tảng đá xám, những đình tạ tường trắng mái cong thấp thoáng giữa cây lá-tất cả khiến khách như lọt vào thế giới “Hồng Lâu Mộng”. Ngoài Sư Tử Lâm- tiêu biểu cho phong cách kiến trúc vườn đời Nguyên, còn có 3 ngôi vườn nổi tiếng nữa mà người Tô Châu thường khuyên khách tới thăm, đó là: Thương Lãng Đình- đại diện cho phong cách Tống, Chuyết Chính Viên-điển hình cho vườn kiểu Minh và Lưu Viên- vườn hoa riêng của dòng họ Lưu, đẹp nhất thời nhà Thanh. Mỗi ngôi vườn ở đây đều là một điều kỳ diệu của nghệ thuật, là một mô hình của thiên nhiên với tất cả sự hoàn thiện của nó.Vẻ đẹp tinh tế, sự hài hoà kết hợp với nghệ thuật thi, họa ,sự hoàn thiện của bố cục trong từng ngôi vườn nhỏ luôn tạo ấn tượng về cái vô cùng vô tận của cảnh sắc nơi đây. Chỉ trên một diện tích không lớn đã tập trung tất cả những nguyên lý cơ bản của triết học Trung Hoa- sự hài hoà giữa âm và dương,giữa thiên nhiên và kiến trúc,giữa ngang và dọc, giữa thẳng và cong, giữa khoảng trống và sự tràn đầy.Nước, đá tảng và cây cối- đó là những bộ phận không thể tách rời của những ngôi vườn Tô Châu.
Nhớ tới lời khuyên từ xa xưa của nhà thơ đời Tống Tô Đông Pha: “bạn sẽ phải hối hận nếu đến Tô Châu mà không ghé thăm Hổ Khâu”, chúng tôi đã tìm đến đệ nhất danh thắng này ở phía Tây Bắc thành phố- một vùng sơn thủy hữu tình rộng 20 ha được coi là nơi tập trung đậm đặc các huyền thoại và di sản nhất trên thế giới.Tương truyền, Hổ Khâu(đồi Hổ) là nơi Ngô vương Phù Sai mai táng vua cha Hạp Lư,táng được 3 ngày có con hổ trắng đến phục cạnh mồ nên ngọn đồi mới có tên gọi như vậy. Không thể không xúc động khi dạo bước trên khối đá lớn phía trên ngôi mộ, sờ tay vào phiến đá thử kiếm của Hạp Lư và nhìn tận mắt hồ Kiếm Trì, nơi Hạp Lư chôn giấu những thanh kiếm quý.Cũng tại đây khách được diện kiến ngôi đền đặc biệt mệnh danh là “tháp nghiêng Trung Hoa”. Tháp cao 47,5m, được xây từ năm 961 đời Tống có 8 cạnh, 7 tầng, nghiêng 2,3 mét (gần 4 độ). Ngôi tháp này giờ đây được chọn là hình ảnh biểu tượng (logo) của Tô Châu.



THÀNH PHỐ TRÊN SÔNG NƯỚC
Bỗng thấy nao lòng khi nghe cô Châu thông báo: “Chúng ta đang đi trên cầu bắc qua Kinh - Hàng Đại Vân Hà”. Thì ra con sông đào nổi tiếng, dài nhất(hơn 4 nghìn dặm) và cổ xưa nhất (từ năm 610) thế giới nối liền Bắc Kinh với Hàng Châu vẫn đang thao thiết chảy dưới chân chúng tôi như cả ngàn năm trước, như chính những con kênh và những cây cầu trải bao biến thiên vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt để làm nên một diện mạo đặc trưng cho Tô Châu: thành phố nằm trên nước. Không đâu có mật độ kênh và cầu dày như nơi đây. 14 dòng kênh hướng Đông - Tây, 6 dòng hướng Nam - Bắc được khơi đào từ thời Xuân - Thu chảy đan xen ngang dọc khiến thành phố giống như một bàn cờ lớn. Đây là một mẫu hình tuyệt vời của quy hoạch đô thị ở vùng đất thường xuyên bị lũ lụt đe dọa . Không gian thành phố được chia cắt bởi những dòng kênh và các con phố giao nhau thành những góc vuông. Sự đan kết khôn ngoan này đã giúp điều tiết được nguồn nước từ sông Dương Tử, giảm bớt nguy cơ lũ lụt. Điều thú vị đáng khâm phục nhất là đã cả nghìn năm trôi qua với bao biến thiên bãi bể nương dâu mà nơi đây hầu như vẫn “tất cả các dòng sông đều chảy” thông thoáng, sạch sẽ chứ không bị rác rưởi biến thành cống rãnh hay nhà cửa lấn át đến mức vô tăm tích như ở ta, dù tốc độ đô thị hóa ở Tô Châu và Trung Quốc nói chung khá cao.
Nhà cửa ở đây thường có một mặt nhìn ra phố, mặt kia quay ra sông, vẫn giữ được những đường nét (bên ngoài) rất cổ kính mà vẫn sạch sẽ văn minh (những chiếc máy lạnh nếu có cũng được giấu rất khéo sau khung gỗ nâu). Phố phường chạy song song với sông và liên thông với nhau bằng cây cầu uốn lượn uyển chuyển (dù toàn bằng đá). Thực ra, ngày xưa vào đời Đường, cầu được làm bằng gỗ, nhưng từ đời Tống trở đi chúng thường được làm bằng đá lấy ở núi Ngô Cương chở về theo kênh Kinh - Hàng. Nghe nói, trong mấy trăm năm đời Thanh, ở đây có cả ngàn cây cầu. Hiện vẫn còn lại 168 cây với tổng chiều dài 35km. Trong đó ấn tượng nhất là cầu Đai Ngọc phía Đông Nam thành phố, được xây từ TK-11 bằng tiền bán chiếc thắt lưng ngọc - quà tặng của viên quan trị vì Tô Châu thời đó. Đời Minh, cầu được xây lại dài 317m với 53 nhịp cuốn. Những cây cầu ở Tô Châu có sức hút kỳ lạ, hầu như du khách nào đến đây cũng muốn có một kiểu ảnh bên nhịp cầu đá cong cong và đi bộ qua những chiếc cầu có những cái tên tốt lành như Cát Lợi, Thái Bình, Trường Khánh... để lấy may- ấy là học đòi theo tục lệ của dân Ngô quận.
Dù bên cạnh có một Tô Châu hiện đại đang lớn lên từng ngày, nhưng những cây cầu, vườn hoa và ngõ phố cổ kính nằm gối đầu bên bờ nước vẫn là âm hưởng chủ đạo trong bài ca về một Tô Châu thiên - đường - hạ- giới
NGHE TIẾNG CHUÔNG CHÙA HÀN SAN
Đến Tô Châu mà không thăm Hàn San Tự (chùa Hàn San) thì chẳng khác nào tới Paris mà không vào bảo tàng Louvre hay leo tháp Eiffel. Thậm chí, trong đoàn chúng tôi có 2 cụ bà tuổi ngoài 80 còn coi mục đích tối thượng của chuyến “hành Trung Hoa” này chỉ là để nghe tận tai tiếng “chuông chùa Hàn San” và nhìn tận mắt “bến Phong Kiều”- những địa danh gắn với những giai thoại mà các cụ thuộc nằm lòng từ ngày còn là các tiểu thư Hà Nội mơ mộng. Hàn San Tự là một trong 10 ngôi chùa nổi tiếng nhất Trung Hoa. Được xây dựng từ thời Nam Triều (nhà Lương, TK- VI), nhưng đến đời Đường nó mới có tên là Hàn San. Chẳng phải có nghĩa là “núi lạnh”, mà đơn giản là theo tên một vị sư hay thơ nổi tiếng trụ trì ở đó. Chuông chùa ở đây vang xa hàng chục dặm vì nó đựơc đúc theo bí quyết 6 phần đồng, 1 phần thiếc. Ban đêm thanh vắng, khí ẩm từ sông hồ bốc lên càng làm cho tiếng chuông chùa ngân nga, lảnh lót, để lại những dư âm đặc biệt. Nhưng chùa này được nổi danh khắp Trung Hoa và ở cả nước ngoài chủ yếu là nhờ bài thơ “Phong Kiều dạ bạc” bất hủ của Trương Kế từ hơn nghìn năm trước:
“Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên.
Giang phong ngư hoả đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền”
Bài thơ này cũng lan tỏa và trở nên rất quen thuộc ở Việt Nam nhờ bản dịch tuyệt vời của thi nhân xứ Đoài Tản Đà:
Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

Trải bao biến cải, thăng trầm, chùa chẳng còn là chùa cũ (vì đã bị phá hỏng rồi xây lại nhiều lần), tiếng chuông cũng chẳng phải là tiếng chuông xưa (quả chuông hiện nay được đúc vào đời vua Quang Tự), nhưng những câu thơ của Trương Kế thì dường như lại càng lung linh rạng rỡ hơn. Nó chính là hấp lực huyền bí dẫn dụ người ta tìm đến với Hàn San Tự. Khách nườm nượp đổ đến từ khắp nơi, nhưng đông nhất vẫn là từ Nhật Bản, hẳn là do sự tương đồng văn hoá lâu đời giữa họ. Cũng có thể còn do mối duyên nợ xa xưa của người Nhật với ngôi chùa này.Chẳng là, quả chuông từng tạo thi hứng cho Trương Kế đời Đường đã bị đưa sang Nhật từ trước thời Minh (TK-14), rồi bị thất lạc đâu mất. Mãi gần 5 thế kỷ sau, vào đời vãn Thanh, năm 1905, một người Nhật mới tặng lại Hàn San Tự phiên bản của quả chuông đó. Và đó chính là quả chuông ta thấy hôm nay. Đường Phong Kiều đâm thẳng ra bến Phong Kiều giờ vẫn rợp bóng phong, nhưng không còn tĩnh lặng nữa mà lúc nào cũng nêm đầy khách hành hương. Cách bến mấy trăm mét là cổng chùa có 3 chữ lớn Hàn San Tự đắp nổi trên tường. Ai cũng muốn có một tấm hình ở đây để chứng tỏ “ta đã đến chùa Hàn San”. Mất gần 15 phút chặn phải gạt trái chúng tôi mới giành được một chỗ khả dĩ gần bức tường để bấm máy. Trong khi các cụ đi “mua” thơ ( bài “Phong Kiều dạ bạc” viết trên giấy Tuyên Thành giá 120 tệ), thì những người trẻ hăm hở đi thỉnh chuông ( mua vé 5 nhân dân tệ được nện 3 tiếng). Trên khu vườn rộng 45 ha này, bên cạnh điện Đại Hùng Bảo, lầu Phong Giang (5 tầng), Tàng Kinh các, Gác Chuông là bộ phận quan trọng bậc nhất của Hàn San Tự, dù nó ẩn mình khá khiêm tốn sau rặng ngân hạnh lá bạc rung rinh. Ở đây, đêm Giao thừa bao giờ sư thầy cũng gióng đủ 108 tiếng chuông. Bởi theo kinh Phật, mỗi người mỗi năm đều nếm trải 108 kiểu tai ương, khó chịu, mỗi tiếng chuông sẽ giúp người ta xoá đi một nỗi ưu phiền. Nghi lễ này bắt đầu từ 10 giờ 40 sao cho tiếng chuông cuối cùng vang lên đúng vào thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Quả chuông rung lên,tiếng vọng trầm sâu của nó hoà quyện với giọng tụng kinh âm âm của các nhà sư gây nên hiệu ứng rất lạ: một cảm giác thành kính thiêng liêng dâng tràn trong mỗi người đến lễ chùa. Tết năm 1979 mở đầu cho một tục lệ mới: hàng năm trước Giao thừa luôn có hàng nghìn người từ khắp Trung Hoa đổ về bến Phong Kiều quanh chùa để nghe 108 tiếng chuông may mắn này. Nhà chùa bèn nghĩ ra một cách quyên tiền độc đáo: cho đấu thầu giành quyền gõ thêm 3 tiếng chuông Phúc - Lộc - Thọ nối tiếp ngày sau đó. Cô Châu kể: kỷ lục trả giá cao nhất thuộc về một thương gia Quảng Đông với số tiền 660.000 tệ ( khoảng 1,3 tỷ VND) trong dịp tết Quý Mùi- một kỷ lục suốt hơn 20 năm mở cửa chưa ai vượt qua. Nghe chuyện , bất giác nghĩ lan man: đơn giản thế mà ở mình chẳng ai nghĩ ra, lại đi đấu giá cái tranh vẽ nguệch ngoạc như Tết năm nào, thật chẳng mấy ý nghĩa.
Vài ngày để khám phá một Di sản văn hoá thế giới như Tô Châu thì quả thật chẳng bõ bèn gì, nhưng chắc chắn sẽ đủ gây ấn tượng suốt đời về một Tô Châu thơ mộng, giàu đẹp mà từ thế kỷ 13 đã từng được Marco Polo mệnh danh là “Venice Phương Đông” . Tự hẹn lòng: sẽ quay lại nơi đây ít nhất lần nữa để được nghe giọng nói như hát, như ru của người Tô Châu, được nếm món ốc ngọc lục bảo và nhất là đến thăm những danh thắng mà chỉ nguyên tên gọi và những giai thoại đầy chất thơ gắn liền với chúng cũng đủ hấp dẫn mời mọc .
Bài và ảnh: Thu Tâm

Tổng hợp các bài đã đăng trên báo điện tử tuoitre.com.vn, tạp chí Quốc Tế - Thị Trường Tiêu Dùng, Tạp chí Truyền hình VTV

- Xem hình trong file attached:


[/url]

_________________
Nheva
Trở về đầu trang
nheva is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Yahoo Messenger
[ IP : Logged ]
Xem các bài viết từ:   
Chủ đề phía trước :: Chủ đề kế tiếp

Gửi bài mới   Trả lời cho chủ đề   printer-friendly view    NuocNga.Net -> Địa lý Thời gian: [GMT + 7 Giờ]
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển nhanh tới:  
Bạn không thể gửi chủ đề mới
Bạn không thể trả lời các chủ đề
Bạn không thể sửa đổi bài viết của mình
Bạn không thể xoá bài viết của mình
Bạn không thể tham gia các bình chọn
You cannot attach files in this forum
You cannot download files in this forum

Designed by TekCIZ Co., Ltd
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group