NuocNga.Net

Page Loading... please wait!



This page still doesn't show? Click here
 
Trang chủTrang chủ    Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Danh sách thành viênDanh sách thành viên   Nhóm làm việcNhóm làm việc Ban quản trịBan quản trị   Đăng kýĐăng ký 
 Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắnTin nhắn   Đăng nhậpĐăng nhập 
Trên mảnh đất người đời - Anatôli Ivanôp

 
Gửi bài mới   Trả lời cho chủ đề   printer-friendly view    NuocNga.Net -> Văn học Nga
Chủ đề phía trước :: Chủ đề kế tiếp  
Tác giả Nội dung bài viết
Marutxiadihoc
Bánh mì đen - Черный хлеб
Bánh mì đen - Черный хлеб


Tuổi: 39
Tham gia từ: 27 Oct 2006
Bài viết: 61
Đến từ: Bắc kinh

GửiGửi: 05-Dec-2006 7:59 pm    Tiêu đề:  Trên mảnh đất người đời - Anatôli Ivanôp
Trả lời kèm trích dẫn

Trên mảnh đất người đời
Tác giả: Anatôli Ivanôp
Dịch giả: Thái Hà
Nhà xuất bản Văn Học
Năm 1985



1

Buổi ngày, khi mặt trời lạnh vừa sà xuống thấp thì sương mù bắt đầu lan trên bãi cỏ bên kia sông trên những cánh đồng đã gặt ở phía xa, dâng lên trên những khu đất trũng ngập nước. Đến chiều, những cụm sương thấm lạnh, trở nên dầy đặc và mỗi lúc một nở to hơn. Cuối cùng, chúng lặng lẽ kết lại với nhau. Màn hơi nước mờ đục ngày càng nặng hơn, trườn dần về phía đông, thoạt tiên nó phủ kín bờ bên kia, sau đó che khuất nửa dòng sông Ôbi rộng lớn nhưng đã yếu hẳn đi sau một mùa hè oi ả, rồi cứ thế lan dần sang ngôi làng bên này, đe doạ phủ kín và đè lên ngôi làng bằng cái sức nặng không trọng lượng của nó.
- Cậu nói phét, Samian ạ, - Paven Đêmiđôp thốt lên. Cũng như mọi hôm, ông đang ngồi bên vách túp lều đất của mình, nhìn sang phía những cánh đồng sẫm tối bên kia sông.
- Bố vừa nói gì đấy? – cậu bé Grinka, lên tám, con nuôi của Đêmiđôp, bước vào sân hỏi. Hai bàn tay dính đầy mực của cậu ôm chiếc cặp học trò đã sờn da. – Bố bảo ai nói phét cơ?
- À, bố nói gã sương mù! – Đêmiđôp hất hàm về phía sông Ôbi. – Hắn đúng là thằng bịp.
Grinka khịt một cái, đưa ngón tay lên quệt mũi ngẫm nghĩ.
- Nó bịp thế nào ạ?
- Thì nó đang doạ chúng ta đấy, con không thấy sao?
Cả hai lại im lặng một lúc. Grinka - nhỏ bé, đội mũ lưỡi trai rộng thùng thình của bố, mặc chiếc áo vét dạ vừa mua ở cửa hàng bách hoá xã trước hôm khai trường. Đêmiđôp – người khô gầy, thô kệch, hai đầu gối khẳng khiu nhô hẳn ra phía trước, dưới tấm áo bông dầy cũng thấy rõ đôi vai nhọn. Tuy đã ngoài sáu mươi tuổi, đã về hưu nhưng vẫn không thể gọi ông là ông già được. Mặt ông vẫn cạo, tuy rất hoạ hoằn, hôm nay ông cũng vừa cạo xong, và đôi má vẫn còn đầy đặn, chưa hề bị nhăn nheo của ông bóng lên dưới ánh nắng nhạt lúc trời chiều.
- Có, con có thấy, - Grinka nói, - Buổi chiều sương càng dầy bao nhiêu, thì sáng hôm sau trời càng trong bấy nhiêu. Bố vẫn bảo thế.
- Đúng. Nhưng con còn thấy gì nữa không?
- Không, không thấy gì nữa.
- Lắng tai nghe thật kỹ xem. Thế nào, có thấy gì không?
Grinka nhíu hẳn trán lại, đứng im không nhúc nhích.
- Không thấy gì cả. Chỉ thấy tiếng chó đực sủa thôi.
- Đồ ngốc, đấy là tiếng chó cái. Của anh đội trưởng MitrôFan. Còn gì nữa không?
- Hình như có tiếng xe tải ở sân sau. Cả tiếng gì như tiếng con gái la hét.
- Đấy là tiếng cô con gái bác Artamôn chăn ngựa cho nông trang, tiếng cô Klapka.
- Cả tiếng những cô khác, vì có nhiều tiếng cười khúc khích. – Grinka cãi lại.
- Nhưng có cả tiếng cô Klapka. Trong số đó có cả tiếng cô Klapka. Giờ là tiếng đàn phong cầm của anh lái máy kéo Lenka. Cái anh chàng Lenka khốn khổ. Có cái đàn đắt tiền, bóng như gương, thế mà không biết chơi. Nghe cứ như tiếng cưa gỗ ấy… Nhưng anh chàng cũng là tay khá, có mớ tóc trông cũng bảnh.
Quả nhiên, chỉ một lát sau bắt đầu vẳng đến những âm thanh rời rạc, sai điệu, nghe rất nhỏ vì khoảng cách quá xa, của chiếc phong cầm.
- Đấy, thấy chưa? Thế mà hắn ta lại đe doạ, - Đêmiđôp lại hất đầu về phía bên kia sông, nơi sương mù đang lan đến.
- Hắn doạ cái gì ạ? – Grinka vẫn chưa hiểu. – Hắn doạ ai? Mà làm sao hắn doạ được hả bố?
- Đồ ngốc! – Mắt Đêmiđôp ánh lên giận dữ. – Thôi đi vào nhà. Có khoai tây luộc để phần con đấy. Cả hũ sữa trên bậu cửa sổ nữa… Bố còn ngồi đây lúc nữa đã…
- Bố ơi, nhưng bố đừng đến cửa hàng cô Marka nhé, - Grinka van nài bố giống như Nađegiơđa, người chị nuôi đã hai năm nay vào làm ở trại quy hoạch rừng của cậu, vẫn thường van nài. Rồi cũng bắt chước chị, cậu nói thêm: – Bố đừng uống cái thứ vốtka chết tiệt ấy nữa, bố nhé!
- Thôi, bước đi cho khuất mắt! – Đêmiđôp quát lên. – Đã bảo là bố sẽ ngồi đây, không đi đâu cả.
Grinka bỏ vào trong nhà, và trong lúc ngồi ăn một mình, cậu thầm nghĩ, như đã thành lệ, hễ khi nào cái “mắt sói” sáng lên (“mắt sói” là tên lúc đầu bố cậu đặt ra, sau cả làng bắt chước dùng theo để gọi cái cửa sổ thấp của nhà Maria Maksêeva, cứ tối tối lại sáng ánh đèn và mụ chủ nhà dùng ô cửa ấy làm chỗ bán rượu vốtka “chẵn tiền” cho khách, nghĩa là bốn rúp một chai!), là thế nào bố cậu cũng mò đến đó; những lúc say, bố cậu thường tỏ ra hiền lành, có khi hiền hơn cả lúc tỉnh, ông thường mang về cho cậu có lúc thì những cái kẹo hay bánh đa rẻ tiền, lúc thì một chai nước chanh cũng mua ở ô cửa đó. Và trong lúc chất men chưa giã hẳn, bố cậu cứ đi vòng quanh căn buồng hẹp bảo rằng ông uống thế là đủ rồi, và hứa với cậu, với Grinka, rằng ông sẽ thôi không uống nữa, ông hay xoa đầu cậu, và có lần hình như còn khóc. Nhưng sợ Grinka nhìn thấy nước mắt, nên ông cứ phải lắc đầu thật mạnh, rồi vừa lảo đảo đi hết góc này sang góc kia, vừa lầu bầu trong cổ họng một câu hát kỳ lạ, khó hiểu:
Ta là ai? Ta chẳng là ai, ta chỉ là kẻ ấy…
Kẻ lạ lùng, kỳ quặc chính là ta.
Ông lầu bầu một lúc mấy câu như thế rồi thôi, lăn ra ngủ.
Nhưng dù sao Grinka cũng không muốn tối nào bố cậu cũng say. Cậu vẫn thích bố cậu tỉnh táo hơn là say.
Vừa dọn bàn, Grinka vừa nghĩ: cậu có ông bố quả là kỳ lạ. Và mấy câu hát kia đúng là ông tự hát về ông. Cách đây ba năm ông nhận cậu từ nhà trẻ mồ côi ở Marsanikha về nuôi với một điều kiện kỳ quặc:
- Tên con là Vôpka à? Từ nay ta sẽ gọi con là Grinka!
- Cháu không muốn thế! – Grinka, mà lúc đó hãy còn là Vôpka nói.
- Phải thế thôi. Nếu không thì không xong đâu, ta sẽ nhận đứa khác, mặc dù con có vẻ là đứa bé kháu khỉnh và cũng ngang ngạnh ra trò đấy.
Rồi ông im lặng rít hết một điếu thuốc lá cuốn rõ dài, sau đó dụi mẩu thuốc lá xuống đất, họ nói chuyện với nhau trong vườn của nhà trẻ, rồi bắt đầu nói một tràng dài mà có đến một nửa những điều ông nói cậu chẳng hiểu gì cả.
- Ta là người coi rừng, con ạ, nghĩa là ta canh giữ cây cối ấy mà, ta trông không cho bất cứ loại thú nào được phá rừng. Cái chòi canh của ta ở ngay trong rừng. Cây cối lúc nào cũng rì rào, rì rào… Con tưởng chúng rì rào vì gió phải không? Ồ không đâu, con ạ. Đó là chúng chuyện trò với ta đấy. Chúng kể cho ta nghe chúng có chuyện gì vui, hay chuyện gì buồn… Hoặc giả chúng báo cho ta biết có kẻ nào vừa đi qua, kẻ đó là người tốt hay xấu. Dĩ nhiên, nếu đó là người tốt thì xin mời, cứ việc đi tự nhiên. Nhưng nếu là người xấu thì, anh bạn ạ, đừng có đùa, phải coi chừng! Rừng báo cáo lại với ta tất cả. Cây cối ấy mà. Con biết không, chúng không chỉ là cây cối đâu, mà là người sống thật sự đấy. Chỉ khi nào bị đẵn đi rồi, chúng mới là cây, là khúc gỗ chết, tóm lại là…Ta sống trong túp lều ấy cùng với con gái ta tên là Nađegiơđa. Nó cũng là con nuôi ta. Vì suốt đời ta sống một mình, chưa bao giờ có vợ cả. Tại sao ấy à? Câu hỏi ấy có khi gần hết đời mới giải đáp được con ạ. Có thể là vì ngu ngốc… Ừ, thế cũng được. Ta cứ suy nghĩ mãi, rồi cuối cùng cũng nghĩ ra chuyện đến trại trẻ mồ côi nhận đứa con gái về nuôi. Sau chiến tranh có nhiều trẻ mồ côi lắm… Nhiều hơn bây giờ. Thế là ta đến xem. Ta thích một cô bé, một cô bé thò lò mũi. Mặt cũng đầy tàn nhang như con ấy. Không hiểu sao ta thích những đứa bé mặt tàn nhang. Mỗi tội tên cô bé đó là Anna. Anka – Anka, ăn nhanh cho lớn mà đi lấy chồng. Khi nói chuyện với cô bé lúc ấy như ta đang nói với con bây giờ đây này, không hiểu sao ta bỗng nhớ đến những câu hát ngu ngốc ấy. Ta nghĩ, mình nuôi cho nó lớn rồi nó đi lấy chồng, thế là mình lại ở một mình… Ta bảo cô bé: bây giờ con sẽ là Nađegiơđa. Đối với con đó chỉ là cái tên, nhưng đối với ta nó là cả ý nghĩa cuộc đời. Ta bảo với cô bé như thế. Cứ làm như khi mang cái tên mới thì cô bé sẽ không lo đi kiếm chồng nữa không bằng mà sẽ ở lại mãi mãi với ta. Hồi đó ta ngốc quá, phải không? Con nghĩ thế nào?
- Sao lại ngốc ạ? Không, bác nghĩ thế đúng lắm. Vì một khi bác đã lấy cô ấy về làm con, thì cô ấy phải là con của bác!
- Đấy, ta biết ngay con là cậu bé ghê gớm lắm mà! Nhưng có điều, người anh em ạ, trách nhiệm thì đã đành là trách nhiệm, nhưng là con người thì vẫn phải sống theo tình người, cho ra con người. Mùa xuân thì nở hoa sung sướng, cả mùa hè thì sinh sôi, rồi sau đó lại đến mùa đông gặt hái. Nghĩa là sau đó phải để lại hạt giống của mình. Chỉ có ta là một mình cô độc – một con người kỳ lạ. Phải, cô bé của ta là đứa con gái tốt, Nađegiơđa lớn lên là một đứa con nết na hiền thảo. Có điều bây giờ nó hay bỏ đi Marsanikha quá – lúc thì đến đó xem phim, lúc thì đi nhảy. Ở đó có một anh chàng, con trai của một người kỹ sư trồng rừng, tên là Valentin. Chàng trai ấy, con biết không, cũng là một tay tài ba, nhưng thế mới phải coi chừng… Tóm lại là con biết chuyện đó sẽ đi đến kết thúc thế nào rồi chứ?
- Con gái họ bao giờ chả thế! – Grinka, lúc ấy hãy còn là Vôpka, lại thốt ra một câu. – Nhưng cháu thì không bao giờ cháu bỏ bác đâu.
- A ha, vậy là con bằng lòng rồi phải không?
- Thì ở nhà trẻ mồ côi này có gì thích đâu. Nhưng cháu là Vôpka, thì bác cứ để cháu mang tên ấy.
- Ồ không, không được. Dứt khoát là không thể như thế được, con ạ.
- Sao lại không được ạ?
Người bố tương lai của cậu lúc đó lại im lặng và rít thêm một điếu thuốc lá cuốn nữa.
- Con Nađegiơđa của ta sẽ đi lấy chồng, đó là dĩ nhiên rồi. Nó sẽ lấy Valentin, hay một chàng nào đó… Ta đã nói với con là con bé lớn lên trông khá lắm – xinh xẻo, khoẻ mạnh, đùi phốp pháp. Còn mắt của nó, con biết không, Grinka – ôi cái tên Grinka mới hay làm sao – mắt của nó cứ sáng rực lên, trông thấy phải nheo mắt lại, không thì chói. Nhưng biết làm sao - ông thở dài – ta đã làm tròn bổn phận, ta đã nuôi cho nó khôn lớn. bây giờ hãy để cho nó làm bổn phận của nó. Phải làm sao trên trái đất này có nhiều người có đôi mắt trong sáng như của nó. Nó ra đi, và ta sẽ lại có một mình. Một mình ư? Không được. Nửa đêm tỉnh giấc ta bỗng nghe thấy tiếng gì kêu grin –grin-grin… Tiếng gì vậy? Tiếng cửa kính bị gió đập chăng? Không, đó là tên của con trai ta. Ta đi trong rừng và xung quay chỗ nào cũng nghe thấy grin –grin-grin. Ai thế nhỉ? Hay là tiếng chim hót? Có lẽ đúng là chim hót thật. Nhưng chúng hót về ai? Chúng hót về con trai ta…Vì thế, không thể nào giữ cái tên Vôpka được, con ạ.
…Grinka dọn bàn xong, lấy cái đĩa con úp lên miệng vò sữa mà cậu vừa rót ra uống. Ngoài cửa sổ màn tối đã dầy đặc từ lâu, tựa như có người nào lấy giấy đen bịt cửa kính lại. Bố cậu vẫn chưa thấy về.
Thở dài một tiếng, Grinka thu dọn chỗ ngủ, ra tắt đèn rồi chui vào trong chăn, tiếp tục nhớ lại cái quá khứ chưa xa của cậu. khi ấy, mặc dù rất tiếc rẻ phải bỏ cái tên của mình, nhưng không hiểu sao cậu thấy mến người đàn ông đứng tuổi này, và mấy lần nghe ông ta nói hai tiếng “con ơi” dịu dàng, cậu thấy ngỡ ngàng và cảm động ứa nước mắt.
- Thế những con thỏ con… bác có che chở chúng không? – Lúc ấy, cậu cúi mái đầu cắt ngắn xuống để giấu ánh mắt và hỏi.
- Thỏ con ấy à? Tất nhiên ta phải che chở chứ. Vì chúng là những con vật hiền lành và yếu đuối nhất mà. Chúng chơi đùa nhảy nhót xung quanh lều của ta, như bầy chim sẻ nhảy nhót xung quanh đồng cỏ xuân ấy.
- Vậy thì được, cháu đồng ý.
Mặc dù cậu bé đã đồng ý. Nhưng sau đó còn đẻ ra nhiều chuyện phiền phức, người ta chùng chình mãi không giao cậu cho người này nuôi.
- Nhưng tuổi đồng chí hơi quá nhiều, đồng chí Đêmiđôp ạ. – ông giám đốc trại nói.
- Tuổi tôi thì sao? Tôi còn khoẻ lắm, tôi còn chạy trong rừng nhanh như thỏ hai chục năm nữa ấy chứ? – Người bố nuôi của cậu lúc ấy chứng minh với ông ta như thế - Mà giả dụ có chuyện gì, thì đứa con gái Nađegiơđa của tôi sẽ nuôi dạy thằng bé. Tôi sẽ dẫn nó đến đây để ông xem nó là đứa con gái như thế nào?
Rồi ông dẫn con gái đến. Đó là cô gái cao lớn, khoẻ mạnh, cương quyết và quả thực có đôi mắt hiền hậu và trong sáng một cách kỳ lạ, cô ta cũng chứng minh điều gì đó với ông giám đốc, sau đó cô còn phải nhiều lần chạy đến mấy cơ quan trong tỉnh để xin quyết định. Và cuối cùng xin được.
Grinka sống trong túp lều coi rừng với bố và chị Nađegiơđa được vẻn vẹn có hai năm. Sống ở đó thì tuyệt nhất rồi, chả phải bàn. Có điều những con thỏ không còn đùa nghịch xung quanh lều, và nói chung chúng không dám đến gần ngôi nhà của cậu – có lẽ chúng sợ bầy chó, nhưng được cái ngay cạnh nhà có dòng suối nhỏ nước rất trong, nơi cậu cùng người chị thường câu được những con cá bống rất to, còn hai bên bờ sông thì tha hồ hái quả mâm xôi và phúc bồn tử.
Nađegiơđa là cô gái hoạt bát nhanh nhẹn, lúc nào cũng cười, cả túp nhà nhỏ và cánh rừng lúc nào cũng tràn ngập tiếng cười ròn tan trong trẻo của cô. Lúc nào cô cười mắt cô lại càng rực rỡ hơn. Nhưng thường cứ tối đến thì ánh mắt cô lại thôi cười. Lúc đầu Grinka không hiểu vì sao, nhưng sau cậu đoán ra – Nađegiơđa lo lắng cho bố.
Và cũng phải vì, cứ tối đến là bố cậu lại đi rất lâu không thấy về, mà lúc về thường là say. Nhưng không bao giờ ông quát tháo hay chửi rủa om sòm, còn hôm nào say quá thì ông đi nằm ngay. Cũng có hôm ông cứ đi đi lại lại trong gian nhà bếp rộng rãi và i ỉ hát trong họng cái bài quen thuộc cho đến tận sáng.
Một hôm Grinka nghe thấy Nađegiơđa vừa mếu máo vừa nói với bố:
- Bố đừng uống cái rượu vốtka chết tiệt ấy nữa. Bố thôi uống đi. Con trai của bố bây giờ hãy còn nhỏ, bố còn phải gây dựng cho nó khôn lớn thành người.
- Chúng ta sẽ nuôi nó khôn lớn, Nađegiơđa, nhất định rồi… Bố uống, nhưng bố không để mất trí khôn đâu.
- Bố nói thế. Mùa đông năm ngoái bố chả suýt chết cóng là gì. Giá con không tìm thấy bố ở đống tuyết thì bố đã chết cóng rồi.
- Ừ, quả có thế, con gái của bố ạ. Bố dại dột quá. Hôm ấy thằng Maksêep làm bố điên tiết, thằng chồng của Maria ấy, cầu trời cho nó chết quách đi cho rồi. Nhưng chỉ có mỗi lần ấy thôi. Còn bố bao giờ cũng uống có chừng mực.
- Nhưng sao bố cứ phải uống cái thứ nước chết tiệt ấy.
- Tại bố quen mất rồi… Đời bố khổ quá, đáng ra không nên sống nữa, nhưng bố vẫn phải sống.
- Bố nói đến tay Maksêep ấy không biết đến lần thứ mấy rồi. Giữa bố với tay ấy có chuyện gì vậy? Sao bố không giải quyết cho xong đi?
Và lập tức Grinka cảm thấy bố cậu bỗng nhiên hầm hầm nổi giận, điều chưa bao giờ thấy ở ông cả.
- Thôi câm ngay! Sao mi dám tra khảo ta? Trí óc non choẹt biết gì mà nói vào…
Nađegiơđa oà lên khóc nức nở làm bố cậu phải dịu ngay và bắt đầu xin lỗi:
- Con gái của bố… Bố biết là bố dại dột… Bố sẽ ghìm mình, sẽ bỏ rượu. Hơn nữa bố cũng sắp về hưu, thằng Grinka cũng sắp đến tuổi đi học rồi. Phải, chúng ta sẽ chuyển về ở Đubrôvinô, sẽ mua một túp nhà ở đó. Và bố sẽ thôi không uống nữa. Đúng là uống rượu có gì vui thú đâu!
Và thế là họ đã chuyển về làng sống được hơn một năm. Nađegiơđa đã đi lấy chồng, lấy anh chàng Valentin của mình, bố bây giờ thôi không làm việc nữa mà sống bằng tiền hưu. Nhưng rượu rút cuộc ông vẫn không bỏ.
Mắt Grinka díp lại, giấc ngủ bắt đầu làm nhoà ý nghĩ của cậu. Trong lúc mơ màng cậu lại nghĩ rằng bố cậu là con người kỳ quặc khó hiểu. Sương mù thì ông gọi là Samian, mưa thì gọi là Mumianchê, bão tuyết là Akulia, còn ngày ảm đạm thì gọi là MitroFan. “Sương mù – Saminan thì dễ hiểu thôi, vì nghe cũng hơi giống nhau. Mưa – Mumianchê, cũng bắt đầu cùng một chữ cái. Nhưng tại sao bão tuyết lại là Akulina? Hay trời giá buốt là Filaret? A ha, hình như ông đang về…”
Grinka không sao tỉnh dậy được. Dường như từ nơi nào trong thế giới xa xôi và huyền bí, vẳng đến tai Grinka câu hát quen thuộc mà riêng cậu mới phân biệt được:
Ta là ai? Ta chẳng là ai. Ta chỉ là… kẻ ấy.

_________________
Anh ơi đợi em về!
Đợi em về, anh nhé!
Mưa có rơi dầm dề
Ngày có buồn lê thê
Thì anh ơi cứ đợi!
Trở về đầu trang
Marutxiadihoc is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi
[ IP : Logged ]
Marutxiadihoc
Bánh mì đen - Черный хлеб
Bánh mì đen - Черный хлеб


Tuổi: 39
Tham gia từ: 27 Oct 2006
Bài viết: 61
Đến từ: Bắc kinh

GửiGửi: 05-Dec-2006 8:00 pm    Tiêu đề:  Re: Trên mảnh đất người đời - Anatôli Ivanôp
Trả lời kèm trích dẫn

2

Suốt mấy ngày nay hết mưa lại đến tuyết, đất nhão ra, đi đường phải khó khăn lắm mới nhấc được chân khỏi lớp bùn dính nhem nhép. Bầu trời xám xịt, thấp và ẩm xì, không gian như hẹp lại, những túp nhà sũng nước có vẻ như díu lại với nhau và mỗi lúc một sụt xuống lớp đất đã trở nên nhão nhợt. Lại còn có cảm giác: bầu trời phía trên ngôi làng không bao giờ còn sáng ra được, tựa hồ như mặt trời sẽ không bao giờ mọc trên đó nữa.
Cái ngày ngắn ngủi và ảm đạm ấy trông chẳng khác gì một buổi chiều u ám kéo dài.
Paven Đêmiđôp, tay cầm chiếc gậy lớn, bước ra ngoài hàng rào khi ngoài đường trời đã tối đen như mực. Đây đó thấp thoáng vài ô cửa sổ sáng mờ, hắt ra con đường trơn ướt lầy lội những chấm sáng màu vàng, khiến lớp bùn trông bóng nhẫy. Trước mặt ngôi nhà đối diện có nhiều cây to rậm rạp, ánh sáng từ những ô cửa của ngôi nhà này dường như bị vướng những cành cây trụi lá, không hắt ra được tới ngoài đường.
Như mọi lần, ô cửa “mắt sói” vẫn le lói sáng ở cuối con đường. Đêmiđôp bước chậm lại, thở dài một tiếng, rồi tiến về phía ánh sáng đỏ nhờ của nó.
Chiếc cửa sổ, mà qua một ô kính nhỏ xíu vừa đủ để Maria Maksêeva thò tay nhận tiền của khách đêm và đưa ra cho họ những chai rượu, được che kín bởi một chiếc rèm. Đêmiđôp lấy gậy gõ gõ vào cửa kính. Sau tấm rèm che màu hồng có một bóng đen lay động sau đó tấm rèm được kéo sang một bên, và Đêmiđôp nhìn thấy sau ô cửa không phải Maria, mà là bộ mặt lông lá, bóng nhẫy những mỡ trông rất đáng ghét của tên Maksêep, chồng mụ.
- Bao nhiêu? – Maksêep mở cánh cửa con ra, thờ ơ hỏi, hắn chưa nhận ra ngay Đêmiđôp.
- Một chai cũng đủ rồi… Vì do bàn tay của mày đưa.
Cặp lông mày hung hung của Maksêep hơi cau lại, hắn tì hẳn trán vào cửa kính, như muốn kiểm tra tra xem có phải hắn nghe nhầm hay không, xem ở ngoài cửa sổ có đúng là con người có giọng nói ấy hay không.
- Đưa tiền đây!
Khi hắn nói, hai chiếc răng giả bằng thép của hắn hơi ánh lên dưới ánh đèn.
Sau khi thò tay đưa trả lại đầy đủ tiền thừa của tờ năm rúp, - Đêmiđôp có lẽ là người duy nhất được vợ chồng Maksêep bán rượu vốtka theo đúng giá của nó, - Maksêep định đóng cửa lại, nhưng Đêmiđôp đã thọc cái đầu gậy dính đầy bùn vào ô cửa.
- Mày còn muốn gì nữa?
- Rượu không có thuốc độc đấy chứ? Vì có lần mày đã dọa tao.
- Cứ yên tâm mà nốc, không ngoẻo đâu mà sợ.
- Thế Maria đi đâu?
- Thôi xéo đi! Kẻo dân say rượu kéo đến bây giờ đấy! Tao đã bảo mày rút gậy ra đi!
- Tao hỏi vợ mày đâu?
- Nó chạy đi gặp mày đấy. Thế mà mày còn đứng đây…- Trong giọng nói của Maksêep có pha chất xỏ xiên đểu cáng. – Hay mày muốn tao đi gọi công an?
- Việc đó thì con vợ mày sẽ tự làm, Maksêep ạ, rồi có ngày tao sẽ lấy giầy dẫm nát mày ở chỗ nào đó, như giẫm nát con gián vậy.
Chòm ria mép của Maksêev run lên vì tức giận. Nhưng nỗi tức giận của hắn chỉ là nỗi tức giận bất lực, chính hắn cũng cảm thấy như vậy. Và hắn im bặt không nói gì, mặt mỗi lúc một đỏ dừ.
- Tao sẽ giẫm nát và nghiền vụn mày ra, cho xác mày không còn một tí gì trên mảnh đất này nữa.
Maksêep vẫn đứng im không nhúc nhích, hai tay buông thõng như hai sợi dây. Mặt hắn lúc này đã chuyển sang tái nhợt, tựa như có cái bơm nào đang bắt đầu hút máu ở mặt hắn ra. Còn Đêmiđôp thì hiểu rõ tâm trạng lo sợ của Maksêep, nên tiếp tục nói một cách tàn nhẫn:
- Công an đối với tao là cái gì? Tao đã sống gần hết đời chuẩn bị xuống lỗ rồi. Nhưng trước khi chết tao phải tiễn mày sang thế giới bên kia đã. Tao chắc mày cũng phải cảm thấy cái đầu mày càng ngày càng kề gần máy chém chứ, đúng thế không?
Maksêep chỉ nhếch mép cười nhạt.
- Nói láo, mày phải cảm thấy. Tất cả mọi sinh vật đều cảm thấy điều đó. Cả đến con gà mái, khi bị người ta thò tay vào chuồng bắt để làm thịt, cũng cảm thấy điều đó.
- Đừng có doạ. Tao sợ mày rồi mà!
- Sợ là phải. Mày cứ sợ đi. – tựa như không nghe thấy lời của Maksêep, Đêmiđôp vẫn tiếp tục nói, vừa nói vừa mở cánh cửa nhỏ cho rộng thêm chút nữa. – Lẽ ra tao đã làm chuyện ấy lâu rồi, nhưng tao muốn chờ khi nào con cái mày lớn lên. Tao không đang tâm bắt chúng phải mồ côi từ bé. Nhưng bây giờ thì sao – cả hai đứa con của mày đều đã lớn và lấy vợ lấy chồng ở thành phố, nghe nói chúng đã sống tự lập được rồi… Bây giờ cho hàng trăm công an đên tìm tao tao cũng cóc sợ. Nhà tù đối với tao bây giờ cũng đếch cần, vì tao già rồi. Cho nên họ sẽ không thể tìm thấy tao còn sống được. Thằng Grinka nhà tao thì đã có con Nađegiơđa đem về nuôi.
Nói đoạn Đêmiđôp rút gậy ra khỏi ô cửa sổ, rồi ghé sát mặt vào đó nói với Maksêep như người ta nói những điều tốt đẹp với người bạn thân:
- Tất nhiên, mày sử dụng cái đời mày không lấy gì làm thành công lắm đâu, Maksêep ạ.
Maksêep đóng sập cửa, kéo soạt tấm rèm lại. Nhưng cứ nhìn cái bóng đen, Đêmiđôp thấy hắn vẫn đứng im không nhúc nhích cạnh cửa sổ. Nhếch mép cười khẩy, Đêmiđôp lăn lăn chai rượu nặng lạnh buốt trong lòng tay, rồi thốt nhiên giơ lên ném bốp vào bức tường gỗ của ngôi nhà. Chai rượu đập vào tường vỡ tan, nhưng không hiểu sao những mảnh vụn văng xuống đất không một tiếng động. Cái bóng đen sau bức màn cửa giật mình, tựa như chai rượu không phải rơi vào tường, mà rơi vào chính Maksêep, và ánh đèn sau ô cửa vụt tắt.
Ban nãy, lúc Đêmiđôp trên đường đến nhà Maksêep, trời lắc rắc mấy hạt mưa ảm đạm, tựa như bầu trời đã cạn, giỏ xuống những giọt nước cuối cùng của nó. Và quả thực lúc này mưa thôi không rơi xuống nữa, chỉ còn những cơn gió nặng và ẩm thổi, không đủ sức làm khô các mái nhà, những thân cây trần trụi ướt sũng, cùng tấm áo vét dạ của Đêmiđôp.
Đêmiđôp không về nhà, mà cứ theo cái ngõ hẹp đi về hướng khác, chẳng rõ để làm gì. Cách đây nửa tiếng đồng hồ đúng là ông thèm uống kinh khủng, nhưng bây giờ tự nhiên cảm giác thèm rượu biến đi đâu mất. Bao nhiêu năm sống trong rừng đã luyện cho tai ông thêm thính, mắt ông có thể nhìn rất tinh trong bóng tối. Và lúc này ông nghe thấy có tiếng chân người đang giẫm lép nhép trong bùn đi ngược về phía ông. Ông ngẩng đầu lên và nhận ra ngay đó là Maria Maksêeva.
Maria thì có thể không nhận ra ông, mà cũng có thể không muốn nhận ra – cứ cắm đầu đi thẳng. Ông cất tiếng gọi mụ ta bằng cái tên mà hồi trẻ ông thường gọi và bây giờ thỉnh thoảng ông vẫn còn gọi:
- Marka!
Mụ ta ngoái đầu lại, rồi lại tiếp tục đi nhanh hơn, nhưng đi được vài bước thì dừng lại:
- Sao, anh muốn gì?
- Tôi muốn… - Đêmiđôp vừa nói vừa tiến lại gần mụ - Tôi có làm gì cô đâu?
- Anh có vẻ hãy còn tỉnh lắm nhỉ. – Đôi mắt Maria hơi ánh lên trong bóng tối, Đêmiđôp biết rằng, cũng như mọi khi, mụ ta nhìn ông với vẻ lạnh lùng và căm thù. – Không biết bao giờ rượu vôtka mới thiêu cháy anh đi?
- Chờ khi nào tôi giẫm nát thằng Maksêep chồng cô đã.
- Đồ ác thú, anh đúng là ác thú! Anh ấy đã làm gì cản đường anh? Sao lúc nào anh cũng theo đuổi anh ấy thế?… Anh ấy có lỗi gì với anh? Cứ cho là tôi có lỗi cũng được, vì tôi đã chọn anh ấy chứ không chọn anh. Nhưng cũng may là tôi không lấy anh. Vì anh như con ma rừng, lúc nào cũng say khướt. Anh hành hạ tôi như thế là đủ lắm rồi!… - Nói đoạn, Maria oà lên khóc.
- Cô nói dối. – Đêmiđôp khẽ thở dài. – Tất cả những gì cô nói đều là dối trá hết!
- Tôi đã van xin anh hết cách rồi, là anh để chúng tôi được sống yên ổn. Tôi có gia đình, con cái… Hồi đó tôi biết làm thế nào khác được… một khi tôi yêu anh ấy, chứ không yêu anh.
- Nói dối. – Đêmiđôp nhắc lại. – Nếu trước chiến tranh tôi không bị ngồi tù thì cô đã lấy tôi rồi.
- Không đời nào! – mụ đàn bà kêu lên.
- Cô đúng là kẻ ngoắt ngoéo, - Đêmiđôp nói giọng có vẻ hơi buồn. - Ừ, có thể là cô không lấy tôi thật. Nhưng đối với tên Maksêep, thì nếu muốn, ngay bây giờ cô cũng có thể bỏ hắn ta được cơ mà! Nhưng không. Hắn đã lôi cô vào những việc bán hàng bẩn thỉu. Cô như con ruồi sa mạng nhện rồi… Bây giờ cô sợ bị tù tội. Cái khăn quàng trên đầu cô kia cũng là đồ ăn cắp.
- Đừng có đụng vào tôi! – Maria bước lùi lại hất cánh tay Đêmiđôp đang chỉ vào mặt mụ ra, như thể sợ ông giật mất cái khăn trên đầu mụ.
- Hắn bắt cô đêm đêm phải đứng bán rượu. Chỉ có tôi là các người phải bán đúng giá thôi. Thế bao nhiêu tiền hắn giấu vào đâu?
- Sao tôi căm thù anh thế, đồ đỉa đói! – Maria vừa rít lên vừa bước lùi lại, như chực nhảy tránh sang một bên.
- Cả điều đó cô cũng nói dối, - ông nói hơi có vẻ trách móc.
Maria úp mặt vào hai đầu khăn khóc nức lên. Ông kiên nhẫn chờ mụ ta khóc hết.
- Không, đó là sự thật. – Mụ ta vừa chùi nước mắt vừa nói, - Quả thực tôi bắt đầu căm thù anh từ cái hôm ở trong rừng… anh lấy dây súng quất tôi thâm tím mình mẩy… Cho đến chết tôi sẽ thù anh về chuyện đó.
- Cô đừng nhầm, cô là người đàn bà ngu ngốc – Đêmiđôp nói.
- Hừ, còn anh thì tốt đẹp, xem cái mặt kìa. Sau khi anh nói ra những lời đó tôi càng thấy tởm anh thêm!
Nói rồi mụ ta thoăn thoắt bước đi, đôi ủng cao su làm bùn bắn tung toé. Đêmiđôp chống gậy đứng nhìn theo, như chờ mụ ta quay lại.
Và mụ ta quay lại thật. Lúc đầu mụ ta đứng lại, sau đó quay ngoắt người, chạy vội đến chỗ Đêmiđôp.
- Anh bảo tôi là con đàn bà ngu ngốc phải không?
- Phải.
- Nhưng tại sao?
- Vì bây giờ cô không phải là đàn bà, mà cũng chẳng phải con người. Mà lẽ ra cô có thể là con người.
Ô cửa sổ trong ngôi nhà gần đó bỗng bật sáng, ánh sáng từ trong nhà hắt ra chiếu thẳng vào mặt Đêmiđôp, còn Maria thì vẫn bị khuất trong bóng tối. Nhưng Đêmiđôp vẫn nhìn thấy khuôn mặt của mụ ta quay về phía ông, khuôn mặt đúng là lạnh lùng và căm thù.
Nhưng dù sao khuôn mặt của Maria vẫn xinh đẹp. Mụ trẻ hơn Đêmiđôp mười bốn tuổi, năm nay mụ gần năm mươi, nhưng thời gian hầu như không có ảnh hưởng đến nhan sắc của mụ. Vẫn đôi má mịn màng lúc nào cũng ửng hồng (“Và đó không phải vì gió quất: - Paven nhận xét), vẫn đôi môi tươi tắn mà xưa kia mụ đã từng hôn ông một cách nồng nàn, điên dại, vẫn mái tóc dầy đen nhánh, chưa hề có sợi bạc. Chỉ có hai bên khoé mắt bắt đầu xuất hiện đôi ba nếp nhăn, nhưng cũng chỉ hơi mờ mờ.
- Anh hãy để tôi và Maksêep được yên, Paven! – bỗng nhiên mụ chuyển sang giọng van xin, - Chúng ta đã già cả rồi không thể bắt đầu cuộc sống lại từ đầu được nữa… Anh hãy đi nơi khác, hoặc tôi và Maksêep sẽ đi, nhưng xin anh đừng đi theo chúng tôi, anh hãy cho chúng tôi được sống yên ổn nốt chút tuổi già, anh đừng theo đuổi nữa. Anh đã đốt kho thóc của nông trang, bị ngồi tù, anh đã tự làm đời anh tan nát. Chứ Maksêep có lỗi gì trong chuyện đó?
- Mi? – ông kêu lên một tiếng rồi thở hổn hển. – Nghĩa là mi bảo Maksêep không có lỗi gì trong chuyện ấy? Hắn không có lỗi gì? Thế nào, có đúng thế không, mi trả lời đi?
Ông bóp chặt vai mụ lắc mạnh
- Trời ơi, anh làm gì thế?! Tôi kêu lên bây giờ đây này, Paven!
Ông run lên, hất văng mụ ra, suýt làm mụ ngã bắn xuống bùn, rồi hấp tấp bỏ đi, gần như chạy…

_________________
Anh ơi đợi em về!
Đợi em về, anh nhé!
Mưa có rơi dầm dề
Ngày có buồn lê thê
Thì anh ơi cứ đợi!
Trở về đầu trang
Marutxiadihoc is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi
[ IP : Logged ]
Marutxiadihoc
Bánh mì đen - Черный хлеб
Bánh mì đen - Черный хлеб


Tuổi: 39
Tham gia từ: 27 Oct 2006
Bài viết: 61
Đến từ: Bắc kinh

GửiGửi: 05-Dec-2006 8:01 pm    Tiêu đề:  Re: Trên mảnh đất người đời - Anatôli Ivanôp
Trả lời kèm trích dẫn

3

Những con sóng đen vỗ mạnh vào mạn thuyền. Đêmiđôp cứ nghiến răng chèo, bất chấp tiếng mái chèo kêu răng rắc như sắp gẫy. Trong bóng tối đen như mực, không nhìn rõ hòn đảo nhỏ trên sông, nhưng Đêmiđôp linh cảm thấy ông đang bơi đúng hướng và mũi thuyền sắp sửa chạm vào chỗ đá sỏi.
Sau đó, ông ngồi lặng trong hốc đất khuất vắng, rít hết điếu thuốc rẻ tiền này đến điếu khác, nghe tiếng hút buồn thảm trong những bụi cây trụi lá trên bờ đảo, tiếng nước sông Ôbi mùa xuân đánh vào chân.
Đối diện với hòn đảo, nằm dọc theo bờ sông là làng Đubrôvinô, lúc này có thể nhận ra qua những ánh đèn thưa thớt. Đêmiđôp đưa mắt tìm trong số những ánh đèn đó cái ô cửa “mắt sói”, giờ đây lại bắt đầu cháy sáng.
“Anh đốt kho thóc của nông trang chứ Maksêep có lỗi gì?”. Những lời đó văng vẳng bên tai Đêmiđôp từ lúc ông chèo thuyền tiến gần đến hòn đảo, đến lúc này vẫn chưa thôi.
“Tội gì à? – Đêmiđôp nhếch môi cười nhạt. – Chuyện đó có lẽ phải cắt nghĩa cho mi lần nữa. Nhưng cắt nghĩa cái gì, chẳng cần cắt nghĩa thì mi cũng đã hiểu rõ cả rồi…”
Sau đó Đêmiđôp lại nghĩ đến chuyện nhiều người gọi ông, Đêmiđôp, là con người kỳ quặc. Kể ra thì cả cuộc đời này nghĩ cũng kỳ quặc thật. Trái đất rộng là thế, trên đó có biết bao nhiêu chỗ. Vậy mà có khi chỉ hai người sống với nhau vẫn thấy chật. Nhưng lại không có cách nào rời nhau ra được. Con người ta đúng là kỳ quặc… Trái đất này có biết bao sinh vật, nhưng không có sinh vật nào như con người, vì chỉ có con người là có lý trí, có ý thức. Nhưng nếu vậy, thì cứ việc sống, đừng cản trở người khác, trên trái đất này thiếu gì chỗ tốt, cứ việc tìm lấy chỗ của mình, việc gì phải đi tranh giành của người khác. Nhưng sự đời lại không thể… và lại nảy ra vấn đề là nếu xét về mặt khác… Thôi thì cứ cho rằng có kẻ nào đó có làm điều ác đối với anh. Tất nhiên là vì hắn ít trí khôn. Vậy thì dù cho điều ác đó có lớn như thế nào chăng nữa, anh cũng hãy rộng lượng mà tha thứ cho hắn. Vì dù sao anh vẫn là con người. Thế nhưng ông, Paven Đêmiđôp lại không thể nào tha thứ được. Kể ra giá mọi người hiểu cho rằng ông không có lỗi gì đối với bản thân, đối với cuộc sống, đối với mọi người, thì có thể ông sẽ tha thứ, sẽ bỏ được rượu, sẽ sẵn sàng làm tất cả. Nhưng mọi người lại không hiểu, không tin… Nhưng đó lại vẫn chỉ là mới xét có một mặt. Còn mặt khác, - lại chẳng có ai để hiểu, để tha thứ. Ở đây, ở Đubrôvinô này, chẳng ai hay biết gì về số phận ông, trừ có Maksêep và vợ hắn. Người ta chỉ biết ông là người coi rừng và một kẻ say rượu, và cùng lắm chỉ đoán là giữa ông và vợ chồng Maksêep có điều gì bất hoà. Nghĩa là, bây giờ ông đã về hưu, ở đó, ở Ênitxây, vùng Kraxnôirkơ, người ta biết ông. Nhưng ở đó, ở làng Kômmôgôrôvô cũ, con người cũng đã thay đổi – người thì bỏ đi nơi khác, người thì từ nơi khác đến, nhiều người thậm chí đã chết vì kể từ cái ngày mà… đến nay cũng đã hơn ba chục năm. Ở đó còn ai nhớ đến ông, đến Paven Đêmiđôp nữa? Ông muốn kêu to với mọi người: mọi người ơi, tôi không có lỗi! Nhưng kêu với ai và để làm gì? Cứ cho rằng ông có thể kêu lên như thế cho cả thế giới này biết. Thì sẽ ra sao? Thì có khi mọi người sẽ tròn mắt nhìn ông kinh ngạc, - hắn ta điên hay sao mà gào lên như vậy? Mà đúng thế thật… Tóm lại là nếu cứ suy ngẫm như thế thì có thể tha thứ cho hắn ta, tha thứ cho tên Maksêev được chăng? Nhưng mình lại không tha thứ được, mình mang nỗi hận trong người, như con gà mang trứng mà không sao đẻ được. Mình đang tự đầu độc cả cuộc đời mình lẫn cuộc đời hắn.
Paven Đêmiđôp cứ nghĩ ngợi như vậy mà cảm thấy hình như ông không còn là ông mới vừa hôm qua nữa, tựa như trong con người ông xảy ra điều gì khó hiểu, có một lòng tốt nào đó, không cần thiết cho ông, và nói chung là cái lòng tốt phản bội, đang len lỏi vào tim ông. Thằng Grinka lớn lên chắc sẽ không tán thành cái kiểu tốt ấy của ông.
Những ánh đèn trên bờ sông càng ngày càng thưa dần, rồi lần lượt tắt đi. Riêng cái “mắt sói” là vẫn cứ sáng, chọc thủng màn đen bằng thứ ánh sáng đỏ nhờ khó chịu. Đêmiđôp nhìn ánh đèn ấy, và trong lồng ngực ông, trong đầu ông – chỗ nào trong cơ thể ông máu cũng như sôi lên: “Ta sẽ không tha thứ, không… Không thể tha thứ được!”
Ông nhắm mắt lại, ngả người ra phía sau, đập gáy vào cái bờ đất. Ông nhắm thật chặt, chặt đến đau buốt cả con ngươi, nhưng vẫn nhìn thấy rõ cái “mắt sói”: nó vẫn sáng và sáng mãi…

_________________
Anh ơi đợi em về!
Đợi em về, anh nhé!
Mưa có rơi dầm dề
Ngày có buồn lê thê
Thì anh ơi cứ đợi!
Trở về đầu trang
Marutxiadihoc is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi
[ IP : Logged ]
Marutxiadihoc
Bánh mì đen - Черный хлеб
Bánh mì đen - Черный хлеб


Tuổi: 39
Tham gia từ: 27 Oct 2006
Bài viết: 61
Đến từ: Bắc kinh

GửiGửi: 05-Dec-2006 8:03 pm    Tiêu đề:  Re: Trên mảnh đất người đời - Anatôli Ivanôp
Trả lời kèm trích dẫn

4
Đoạn đầu cuộc đời của Đêmiđôp trôi qua không sướng cũng không khổ. Anh sinh ra và lớn lên trên bờ sông Ênitxây, con sông tuy ít cá, nhưng được cái đẹp không thể nào tả xiết. Bố anh hi sinh khi đang là du kích – ông ở trong đội du kích của Kalanđarasvin thần thoại. Mẹ anh là người phụ nữ nhỏ nhắn rụt rè, ít nói – không hiểu sao lúc nào bà cũng giấu đôi tay sần sùi thô kệch sau cái vạt áo trước, như xấu hổ không dám giơ chúng cho mọi người thấy, - và như tất cả những người phụ nữ khác, bà cũng gia nhập nông trang Kônmôgôrôvô. Và Đêmiđôp lúc đầu cũng làm việc cho nông trang này, sau đó phục vụ trong quân đội thường trực, và đến đầu năm ba mươi thì phục viên về làng.
- Bây giờ thì con hãy lo cưới vợ đi, Pasenka, - mẹ anh mấy lần thúc giục anh, - Mẹ yếu lắm rồi.
Nhưng rồi chuyện cưới xin của anh không hiểu sao không thành. Sau đó anh bắt đầu chờ đến khi Maria khôn lớn.
Maria lớn lên là một cô gái hay cười – và đó chính là điểm khiến anh chú ý ngay từ đầu. Năm mười bốn tuổi cô đã là một cô gái có thân hình cân đối, khoẻ mạnh, có bộ ngực rất nở. Đến năm mười sáu tuổi cô đã biết hôn thành thạo và anh, Paven, đã dạy cô ta chuyện đó. Tuy hôn cô, nhưng ngay trong ý nghĩ cũng không bao giờ anh có ý định đụng đến thân thể cô, anh hiểu rằng - trong khi chưa cưới làm như vậy là quá sớm và chẳng để làm gì?
- Thế bao giờ chúng ta mới cưới? - cô thường hỏi anh như vậy.
- Sắp rồi, em cứ lớn thêm chút nữa đi. Để cho giống của chúng ta càng khoẻ hơn.
Đến năm Maria mười bảy thì trong uỷ ban xã xuất hiện một cán bộ mới - Đênix Maksêep. Hắn ta cũng trạc tuổi Đêmiđôp, cũng mãn hạn quân thường trực từ lâu, nhưng về làng thì đi đâu cũng vẫn mặc chiếc áo khoác cổ đứng của quân đội, chiếc quần màu xanh sẫm, cho vào trong đôi ủng da mềm. Không những thế người hắn lúc nào cũng sực mùi nước hoa. Bấy giờ ở nông thôn hãy còn cho chuyện đó là chuyện quái gở. Con gái mà bôi thứ nước gì thơm thì bị mọi người nhiếc móc, còn con trai mà làm chuyện đó thì thật là nhục nhã.
Đênix Maksêep là người ở đâu - không ai biết. Cánh đàn bà con gái trong làng xì xào với nhau rằng hình như anh chàng người ở thành phố Kraxnôiarxkơ, nơi trước kia bố anh ta có cửa hàng bán bột mì hay hay bánh mì gì đó. Nhưng đàn bà vẫn là đàn bà, chẳng ai hơi đâu tin vào những lời ngồi lê đôi mách của họ. Vả lại cũng chẳng thấy ai cần bận tâm để ý chuyện gốc gác của con người mới đến làm gì. Người nào cử anh ta giữ chức vụ ký vào các loại giấy chứng nhận của uỷ ban, chắc họ phải biết họ cử ai, nghĩa là họ phải biết rõ hơn về anh ta.
Một hôm Đêmiđôp bắt gặp Maria đi chơi với Maksêep trên bờ sông Ênitxây. Maksêep đang say sưa kể chuyện gì cho Maria nghe, một chân bó chặt trong ống quần màu xanh của hắn đặt lên một hòn đá lớn. Maria thì ngồi trên mũi thuyền cứ cười như nắc nẻ.
- Anh ấy nói chuyện dí dỏm lắm. - Maria nói với Đêmiđôp khi anh dẫn cô từ bờ sông về.
Chuyện đó xảy ra đâu vào tháng năm năm ba mươi tám. Đêmiđôp định hết mùa xuân năm đó sẽ làm lễ cưới, và mẹ anh đã lặng lẽ chuẩn bị tất cả những thứ cần thiết cho ngày cưới.
- Con nhỏ trông kháu đáo để, chỉ tội hiểu biết nông cạn lắm. - Một hôm gặp Đêmiđôp ở giữa làng, Maksêep nói với anh như vậy.
- Nghĩa là thế nào? - Đêmiđôp thấy chột dạ.
- Cô ta cần có người chồng hiểu biết. Mà chú mày hiểu biết quái gì? Chú mày ngửi hoa mà không biết mùi thơm.
Đêmiđôp không bao giờ đề cao mình, nhưng cũng không cho phép ai hạ thấp anh. Hơn nữa, anh cũng không phải là một đứa trẻ nhút nhát sợ sệt, nên lập tức anh túm ngay lấy cổ áo Maksêep:
- Mày! Tao mà nhấc bổng mày lên ném xuống thì mày chỉ có tan xương.
- Bỏ cái bàn tay bẩn thỉu ra! - Maksêep đỏ bừng mặt, nắm cổ tay Đêmiđôp giật ra khỏi cổ áo. Hắn cũng là tay có sức khoẻ. - Tao sẽ bẻ gãy xương mày rồi quăng xuống sông Ênitxây. Tao đã nói là làm đấy, chú mày ạ. Tao đã ở trong đội kỵ binh, đã từng giơ kiếm chém đứt cả thân cây đấy.
Sau đó hai người chia tay nhau, mặt đỏ tía tai, quần áo xộc xệch, cả hai đều cảm thấy trước sau sẽ còn chạm trán nhau.
- Việc gì cô đi kể với nó chuyện cưới xin? - Ngay tối hôm đó Đêmiđôp trách Maria.
- Anh ấy nói chuyện dí dỏm lắm - cô trả lời giống lần trước - Mà anh ấy có làm gì chúng ta đâu, anh đừng nghĩ oan…
Nhưng Đêmiđôp vẫn phải suy nghĩ, vì chỉ sau đó ít lâu anh lại bắt gặp Maria đi cặp kè với Đênix Maksêep. Cô ta lại cười giòn khanh khách thề rằng cô ta gặp hắn chỉ do tình cờ và vừa mới đây thôi.
Một hôm cô ta còn bênh vực cho Maksêep:
- Em biết là anh không ưa anh ấy. Nhưng hiểu biết của anh ấy còn nhiều hơn tất cả đám con trai trong làng.
- Thế hả? Nếu vậy cô đi mà lấy hắn!
Lập tức Maria gục đầu vào ngực anh thổn thức:
- Pasenka! Em yêu anh, yêu anh. Nhưng lúc ở bên anh ấy, hình như em… em lại yêu anh ấy, chứ không phải anh… Anh hãy giữ em khỏi rơi vào tay anh ấy. Em không biết làm thế nào, anh hãy giữ lấy em. Nếu không em có tội mất…
- Được rồi, - Đêmiđôp thốt lên bằng giọng đe doạ rồi đi thẳng đến uỷ ban xã.
Tại uỷ ban xã hai người nói chuyện với nhau một cách rất bình tĩnh, nhẹ nhàng như hai người bạn thân. Sau đó cả hai bước ra khỏi uỷ ban, sóng bước đi ra phía sau làng. Maksêep vừa đi vừa cắn hạt hướng dương và phun vỏ một cách rất thản nhiên.
Đi hết làng Kônmôgôrôvô là bắt đầu đến rừng taiga, họ tìm một chỗ quang đãng vắng vẻ. Maksêep cởi áo khoác bộ đội còn Đêmiđôp thì cởi áo vét và áo sơ mi ngoài ra. Cả hai xếp thật cẩn thận quần áo của mình lại rồi đặt lên cỏ.
Họ lặng lẽ quần nhau một trận rất lâu, không ai nói với ai câu nào, đấm đá nhau đến chảy máu, mỗi lúc một ác liệt hơn, xé rách nát những tấm áo lót của nhau. Họ đã thoả thuận sẽ đánh nhau đến khi nào một người bị ngã bất tỉnh. Theo luật chung, khi một kẻ đã ngã thì kẻ kia sẽ không đánh nữa, nhưng người nào không ngã sẽ được Maria.
Rốt cuộc cả hai đều đứng vững, nhưng người nào cũng kiệt sức. Thậm chí máu Đêmiđôp còn chảy ra cả đằng tai, Maksêep thì nhổ ra hai chiếc răng cửa.
- Rồi mày sẽ còn biết tay, - Maksêep vừa lấy đống quần áo lau máu trên mặt, vừa nói không thành tiếng.
- Mày đã nhận là mày thua chưa? - Đêmiđôp nói giọng cũng lạc hẳn đi.
- Không đời nào.
- Thế thì khoan hãy mặc quần áo, thằng lái buôn! Tiếp tục cho đến khi nào phân thắng bại, như đã thoả thuận.
Đêmiđôp định xông vào Maksêep, nhưng hắn đã vội vã nhặt ngay cành thông ở dưới đất lên:
- Mày làm gì thế? Đã thoả thuận chỉ đánh nhau tay không thôi cơ mà!
Đề phòng xa Đêmiđôp cũng đưa tay sờ dưới gốc cây và tìm được một chiếc gậy to.
- Tao nói cho mày biết, đồ con lợn kia, - Maksêep vừa thở hổn hển vừa nói. - Dù tao có là lái buôn hay gì đi nữa thì mày cũng không hòng được trông thấy Maria đâu. Tốt nhất là mày hãy tình nguyện bỏ cô ấy đi. Nếu không sẽ hối không kịp đấy. Tao sẽ có cách bắt mày phải từ bỏ. Tao nói là làm đấy, chú mày ạ.
- Thì mày cứ việc chờ. Cứ ngồi ngó ra đường mà chờ thằng Paven này cầm tay Marka dắt đến cho mày và bảo: đây, mời ông hãy lấy đi!
- Thôi, tao đã nói, và mày đã nghe thấy rồi đấy. Nghĩa là mày hãy tự chọn lấy số kiếp của mày…
Bấy giờ Đêmiđôp chưa rõ Maksêep là người như thế nào nên cũng không hình dung được hắn định âm mưu dành cho anh một số phận ra sao.
Mùa hè đã thôi nóng, bầu trời cũng nhạt đi, và chẳng bao lâu sau lá cây đã rụng đầy. Một hôm Đêmiđôp ngồi ở nhà bố mẹ Maria cho đến tận khuya để bàn về số khách mà một tuần sau sẽ được mời đến dự cưới. Cuối cùng mọi người nếm thử món rượu do bà mẹ Maria tự tay cất lấy để dùng cho ngày cưới. Bình rượu do chính tay Maria bưng ra, trông cô ta xanh xao nhợt nhạt, mặt cúi gầm xuống đất. Khi rót rượu ra mấy cái cốc, mấy ngón tay cô ta cứ run run.
Mãi khi tiễn Đêmiđôp ra về, cô ta mới ngước đôi lông mi rậm của mình lên. Hai đồng tử trong con mắt cô ta giãn ra, và trong đôi mắt bây giờ đã mở tròn đọng lại một nỗi hoảng hốt tựa như một tiếng kêu không thành tiếng.
- Em làm sao thế, Marka? - Đêmiđôp hỏi.
- Paven… Không hiểu sao em thấy như có cái gì đè nặng trong lòng. - Cô ôm chầm lấy anh. Paven nghe thấy tim cô đập thình thịch.
- Chắc tại em mệt quá đấy. Thôi, em đi nghỉ đi.
- Vâng, em đi đây, em đi đây… Anh uống thêm một chén nữa nhé?
- Được thôi, em rót đi.
Khi rót ra chén rượu cuối cùng ấy, không phải chỉ có tay mà cả tấm lưng Maria run lên.
- Xin mời anh.
Giọng nói của cô lúc này nghe rất xa lạ, và trong ánh mắt không còn thấy cả nỗi hoảng hốt lẫn tiếng kêu thầm lặng nữa. Đôi mắt cô ta trông trống rỗng, nguội lạnh như đã cháy thành tro. Dù Paven có say đến mấy anh vẫn nhận ra tất cả những dấu hiệu đó, anh hỏi lại:
- Nhưng em làm sao thế?
- Ôi, Paven! Người ta bảo… trái tim đàn bà rất nhậy cảm… - cô thở dài, tựa hẳn người vào tường. - Em có linh cảm đây là lần cuối cùng chúng mình trông thấy nhau.
Tuy không phải lần cuối cùng, nhưng quả thực sau đó rất lâu, đúng hơn chục năm sau, họ mới lại gặp nhau.
Chén rượu đó hoá ra là chén rượu mạnh, đầu Paven rức như búa bổ, những ngôi sao tháng tám trên đầu anh như quay cuồng. Khi anh đi ngang qua kho thóc của nông trang thì từ sau một đụn rơm lớn Maksêep bước ra.
- Đây rồi… Tao chờ mãi dịp này.
- Tránh ra, tao đang say đây - Đêmiđôp bảo hắn.
- Thì chính tao đang cần mày như thế, chú em ạ, - Maksêep vừa nói vừa phang một vật gì rất cứng vào đầu Đêmiđôp. Đêmiđôp lảo đảo, ngã gục xuống đất.
Sau đó Maksêep cứ lấy mũi ủng đá vào đầu, vào ngực, vào mặt anh. Đêmiđôp chỉ còn biết nằm rên không thành tiếng cho đến khi ngất đi. Anh bị ngất chắc không lâu lắm, vì khi mở được mắt ra thì Maksêep vẫn còn ở cạnh đó. Hắn đang ngồi xổm cạnh đụn rơm như người đi ngoài. Bỗng nhiên Đêmiđôp nhìn thấy từ dưới tay Maksêep một con rắn lửa bò ra, bắt đầu liếm sang đụn rơm và lan dần sang kho thóc giống. Mặc dù trời tối cũng nhìn thấy rõ một cột khói đen nặng bốc lên.
- Mày, mày làm gì thế? - Đêmiđôp cố nhỏm người dậy hét lên như bị sặc khói - Mày làm gì thế?
- Không phải tao… Đó là mày làm đấy, chú mày ạ. - Maksêep đáp rồi nheo nheo mắt một cách nham hiểm từ chỗ kho thóc bốc cháy hắn tiến lại gần chỗ anh. - Ngay từ bây giờ mọi người sẽ biết chuyện này.
Đầu Paven ngoẹo hẳn sang một bên; như muốn rời ra. Sau đó, bằng ý thức mơ hồ, anh nhận ra Maksêep lại lấy ủng đá túi bụi vào người anh, nhưng anh không còn cảm thấy đau nữa. có một khối mầu đỏ da cam khổng lồ bùng lên trước mắt anh, loang rộng ra, rồi tắt đi một cách lặng lẽ…
Vì tội đốt kho thóc (mấy kho lúa mạch, một máy đập và hai máy quạt thóc bị cháy ra tro), Đêmiđôp bị kết án mười năm tù. Dù anh cố thanh minh đến mấy, mọi người thấy những lời lẽ của anh thật đáng thương và không có sức thuyết phục - vì tất cả cái trò đó là do Maksêep sắp đặt hết, và theo những tin đồn lẻ tẻ đến tai Paven, thì bây giờ hắn được mọi người suy tôn như vị anh hùng, vì đã bắt quả tang tên đốt kho thóc nông trang.
Từ đó cuộc sống của Paven như có bánh xe cứ lăn xuống vực mỗi lúc một sâu hơn.
Đêmiđôp bị giam trong một trại giam ở gần làng, nghe đâu như phải đi xây một cái mỏ gì đó trên khu đất đóng băng rất cứng. Vào mùa thu năm bốn mươi hai, đột nhiên anh bị người ta tống lên một toa tầu có cửa sổ bịt chấn song cùng với nhiều người khác, và chuyến đi không rõ nơi nào. Họ bị chở đi ròng rã gần một tháng, cuối cùng mới nhận ra là bị đưa ra mặt trận xung và tiểu đoàn phạm binh.
Tuy là tiểu đoàn phạm binh nhưng vẫn dễ chịu hơn vì dù sao tầm mắt cũng được mở rộng hơn, đó là thế giới của những con người bình thường vẫn sống trên trái đất. Đêmiđôp tự đặt cho mình nhiệm vụ: dù anh có bị oan ức như thế, anh vẫn phải cố chứng minh rằng anh vẫn là con người, và mãi mãi vẫn là con người.
Nhưng, có lẽ người ta nói đúng: số phận thì hẩm hiu còn cuộc đời thì đen bạc. Có cảm tưởng như anh đã uống cạn chén rượu cay đắng của số phận, vậy mà dưới đáy vẫn còn lại cái cay đắng nhất. Và lại phải uống nốt cả chỗ cay đắng ấy.
Ngay trong trận đánh đầu tiên anh bị bắt làm tù binh.
Chuyện đó xảy ra vào tháng mười một, ở gần ga Katsalinxkaia. Bấy giờ đang có tin đồn hồng quân đang chuẩn bị mở những cuộc tấn công lớn để hất bọn phát xít ra khỏi Xtalingrat. Và căn cứ vào tất cả mọi dấu hiệu thì những cuộc tấn công đó đã bắt đầu.
Đại đội phạm binh của anh được giao nhiệm vụ bằng bất cứ giá nào cũng phải vượt qua sông Đông hãy còn đóng băng một nửa, sang được bờ bên kia thì đóng chốt ở đấy và bất luận thế nào cũng phải bám chốt.
- Người ta sẽ vượt sông ở đoạn khác, còn chúng ta thì bị đưa đi làm vật hi sinh, để đánh lạc hướng bọn Đức, - có một phạm binh mắc tội hình sự nói với Paven như vậy trước khi bắt đầu chiến dịch.
- Thì có sao, vì đằng nào phạm binh vẫn là phạm binh.
- Đã đành như thế… nhưng dù sao đưa đi làm vật thí mạng thì thật là… Nghe nói ở giữa sông băng mỏng lắm. Mà chúng ta phải đi qua chỗ đó.
- Thôi câm đi!- Paven cáu tiết quát lên.
- Này, cậu… Những lúc tập bắn, tớ để ý thấy cậu bắn súng trường cừ lắm, - gã tóc hung vẫn không chịu thôi. - Mà việc của chúng ta là - chỉ cần làm sao bị thương…
- Sao? - Paven thấy ngờ vực.
- Trong bao đạn của tớ còn hai viên đây. Và cả một túi vàng nữa.
- Cái gì? Cái gì?…
- Tớ nói là tớ có hai nghìn rúp. Cả đồng hồ nữa. Đây cậu cầm lấy. Và một viên đạn… Sắp sửa tấn công rồi và trước khi tấn công thế nào cũng có đợt bắn pháo. Chúng ta ra cái hốc kia đi? Cậu sẽ bắn một phát vào tay trái mình… Thế này này… Chỉ một tiếng vang nhỏ thôi - không ai nghe thấy đâu. Còn viên thứ hai mình sẽ bắn cho cậu… Nếu còn lành lặn, sau sẽ có ích đấy…
- Đưa đây! - Paven cau mặt nói - Đưa tất cả đây! Cả nghìn rúp kia nữa.
Những ngày đầu mới vào trại giam, Đêmiđôp rất sợ những tên lưu manh trộm cắp, nhưng sau đó anh rút ra bài học: loại người đê tiện này chỉ kính nể có sức mạnh, chúng phục tùng nó vô điều kiện, và một cái nữa, đó là sự đểu cáng, trắng trợn. Và anh đã học được cách sống với tụi này. Vì thế bây giờ, sau khi đã cầm lấy hai nghìn và chiếc đồng hồ, anh thong thả nhét nó vào túi. Sau đó quay lại, hít một hơi thật dài, giơ nắm đấm cứng như sắt thoi thẳng vào bộ mặt to bè của tên ăn cắp. Tên này ngã bay vào tuyết, ngồi phắt ngay dậy, lấy tay lau máu ở cằm.
- Đồ chó đẻ, - Paven bình thản nói. - Nếu khi xảy ra chiến sự mà mày định nấp sau lưng người khác thì tao sẽ nhằm không phải vào tay, mà vào đầu mày đấy. Và đừng có hi vọng tao bắn trượt. Mày sẽ phải đi trước tao, và coi chừng tao đấy!
Qua ánh mắt ngơ ngác hoảng hốt của tên lưu manh, Paven nhận thấy anh đã làm hắn khiếp sợ, đã bắt nó phải hoàn toàn phục tùng, mặc dù anh hiểu rằng, khi gặp cơ hội thuận tiện, tất nhiên tên tóc hung này sẽ không hề do dự bắn chết anh ngay. Nhưng cơ hội ấy còn chưa đến. Paven hiểu rõ điều đó như ai…
Câu chuyện đó không hiểu sao gieo vào lòng Paven niềm tin là anh sẽ sống.
Quả nhiên anh đã sống sót, nhưng giá anh đừng sống có khi lại hay hơn.
Ý đồ vượt sông ngày hôm đó thế là không thực hiện được. Hầu như cả đại đội phạm binh đã ngã xuống mặt băng một cách vô ích. Cả tên ăn cắp tóc hung, lúc nào cũng ngoan ngoãn chạy trước Paven, cũng bị ngã vì đạn của bọn phát xít, nằm phơi bụng trên băng. Chính Paven cũng ngã va đầu rất mạnh vào băng, đầu anh choáng váng như lần nào anh bị tên Maksêev lấy ủng đá túi bụi. Mấy đốt xương cổ của anh đau ê ẩm.
Đó là chi tiết cuối cùng mà Paven còn cảm thấy, hay nhớ ra được bằng một chút ý thức. Khi anh tỉnh lại thì thấy mình đã nằm trong một túp lều bẩn thỉu, chật chội, nghe thấy những tiếng nói xa lạ bằng tiếng Đức, và ngay lập tức, không ngạc nhiên và không hiểu sao thậm chí không hối tiếc, khi hiểu ra mình rơi vào đâu. “Chà, Maksêev, mày cứ chờ đấy!” – Anh chỉ nghĩ như vậy, như anh vẫn hằng nghĩ bao nhiêu ngày và bao nhiêu đêm trước đây, nhưng lần này không hiểu sao anh nghĩ với vẻ dửng dưng, không hề tức tối với hắn. Tựa như trong con người Paven lúc này không còn cái gì sống nữa, tất cả đã câm lặng.
Và với cảm giác câm lặng, hờ hững, thờ ơ với tất cả những gì xảy ra với anh như thế, anh đã sống thêm nhiều năm sau này nữa. Có lẽ chính cái đó đã giúp anh sống nổi.
Bọn Đức biết anh ở đại đội phạm binh, và cho anh là tên tù phạm hình sự, nên đã tuyển anh vào quân đội, thậm chí còn dỗ dành anh. Paven không hiểu đó là đội quân gì, nhưng anh từ chối. Và cuộc thuyết phục đã chuyển thành cuộc tra tấn dã man.
Sau đó không hiểu sao tự dưng chúng không động đến anh nữa, mà chuyển anh đến trại tập trung trên lãnh thổ Ba Lan. Ở đó sáng nào anh cũng phải đi thu nhặt xác chết trong toàn trại, chất lên lưng con ngựa khoang và chở về nhà thiêu xác.
Anh cứ đi thu nhặt xác chết như thế cho đến mãi tháng giêng năm bốn nhăm. Đám tù nhân và ngay cả bọn Đức cũng đã quen với cảnh đó. Không bao giờ anh cạo râu, tóc cũng ít khi cắt. Râu tóc anh rậm rạp, lởm chởm trông như lão già, đến nỗi từ bọn Đức cho đến đám tù nhân hình như không ai xem anh là tù nhân nữa, mà coi là người đi nhặt xác thuê, không những thế lại là con người dở hơi.
Hồng quân đánh chiếm được trại tù binh một cách chớp nhoáng và bất ngờ. Thậm chí lúc đầu không ai nghe thấy tiếng súng bắn nhau, mãi về sau người ta mới thấy những chiếc máy bay hồng quân bay rất cao trên nóc trại, và sáng ra trước lúc rạng đông, trong các khu trại bỗng nghe thấy tiếng sắt kêu loảng xoảng. Người ta xua hết cả tù binh ra sân. Paven cũng nhảy bổ ra – sau hàng rào dây thép gai bao quanh khu trại, những chiếc xe tăng cứ lao đi rất nhanh, tiếng xích sắt kêu ầm ầm. “Không hiểu chúng đi đâu vội thế?” – Paven nghĩ thầm vì vẫn đinh ninh đó là xe tăng Đức.
Bỗng nhiên một chiếc quay ngoắt lại, đâm thẳng vào hàng rào dây thép gai, chọc thủng nó như chọc thủng cái mạng nhện, rồi dừng lại, quay nòng súng dài từ bên này sang bên kia, như lựa chọn xem nên nhả đạn vào đâu. Và Paven, nhìn thấy trên thành xe tăng hình ngôi sao năm cánh.
… Buổi sáng, khi mặt trời vừa mọc, Paven, tay bóp nát chiếc mũ trại, đứng trong đám tù binh đang la hét và khóc lên rưng rức vì sung sướng, xếp hàng chờ đến lượt trình diện người đại diện của Hồng quân đang kê khai danh sách tù binh.
- Khoan đã, người ngợm gì thế này? – Có tiếng người hỏi khi Paven vừa bước qua ngưỡng cửa. - Ở đâu ra mà gớm ghiếc thế này?
- Tôi là người Nga. Tên tôi là Đêmiđôp.
- Nhưng trông anh chẳng còn gì hình dạng người cả.
- Ai giữ anh ta ở đây vậy?
- Bị bắt làm tù binh ở đâu?
- Ở một nơi trên sông Đông. Tôi ở đại đội phạm binh.
- Vì sao anh bị vào đại đội phạm binh?
- Tôi là tù phạm cũ. Tôi bị tù hình như vì tội đốt kho thóc nông trang.
- Sao? Sao lại hình như?
- Vì tôi không đốt. Kẻ đốt là Đênix Maksêev. Mà tôi thì muốn cưới cô Maria. Tất cả nguyên do là ở đấy.
- Khoan đã, khoan đã, lão già… Lão ta hình như bị điên.
- Không, tôi rất tỉnh. Và cũng chưa phải ông già. Tôi chưa đến bốn mươi tuổi. Các ông hãy nghe tôi hẵng.
Người ta nhẫn nại nghe câu chuyện của Paven. Trong khi kể lại tất cả những gì xảy ra với mình, Paven nhận thấy người ta không tin anh.
- Chà, chuyện rắc rối đấy, - viên sĩ quan có hai vạch trên cầu vai nói. – Và không phải việc chúng tôi.
- Dù là việc của ai đi nữa thì cũng không ai hiểu được đâu. – Paven khoát tay một cách tuyệt vọng. – Tốt nhất là cứ cho tôi ngồi nốt hạn tù của tôi.
… Và thế là Paven lại phiêu bạt nhiều nơi, nếm mùi nhiều trại giam thêm ba năm nữa, và vẫn dửng dưng với tất cả những gì xảy ra xung quanh.
Anh chỉ cảm thấy: những người chịu trách nhiệm về số phận của anh không biết làm gì với anh bây giờ nữa.
Cuối cùng, năm bốn tám, người ta thả anh ra và ra lệnh quản thúc anh thêm ba năm nữa tại một làng cũng vẫn ở miền Bắc, nơi có trại giam ấy.
Nhưng tất cả rồi cũng trôi qua- cả ba năm quản thúc rồi cũng trôi qua. Bây giờ Paven có thể muốn sống ở đâu thì sống. Nhưng đi đâu? Sống nốt cuộc sống ở đâu bây giờ? Mẹ anh đã chết từ khi chưa có chiến tranh, một lần anh nhận được tin báo như thế. Còn Maria, Maksêev, ngôi làng Kômôgôrôvô thân thuộc, tất cả những cái đó dường như ở một thế giới nào khác, ở sau chân trời xa xăm mờ ảo nào đó, mà đến đó bây giờ đối với anh đã thành vô nghĩa, mà anh cũng chẳng còn thiết.
Có thể Paven đã sống nốt những ngày cuối cùng của mình trên mảnh đất phương Bắc xa lạ, mà trong những năm tương đối tự do sau này anh đã hơi quen với nó, và có thể nó đã trở thành khá thân thuộc với anh, bởi cái số phận lạnh lùng và cuộc sống vất vả của mình, nếu như không có lời khuyên của người phụ trách thuế quan một vùng nọ, Paven cảm thấy những lời khuyên của ông ta là cái cay đắng nhất trong tất cả những gì mà anh từng nếm trải.
- Anh muốn ở lại vùng chúng tôi ư? – người đó nói với anh như thế. – Nhưng loại người như anh chúng tôi cần gì?
- Loại người như tôi là thế nào?
- Là thế nào ấy à?… à, nghĩa là anh không phải là người, mà chỉ là… một tên gọi.
- Nghĩa là tôi chỉ là cái tên?
- Đúng thế. Đất nước chúng tôi cần gì loại người như anh? Người dân chúng tôi cần gì loại người như anh?
- Nhưng tôi có làm gì tồi tệ cho đất nước và cho mọi người đâu? Có thể tôi cũng chưa làm điều tốt. Nhưng ông hãy tạo cho tôi một khả năng.
- Khả năng à? Trước kia cũng như bây giờ anh chỉ có một khả năng thôi – là tự sát. Tôi vẫn không hiểu sao đến bây giờ anh vẫn chưa sử dụng khả năng ấy?
Mọi vật trở nên xám đen trước mắt Paven, những tấm kính cửa trong phòng làm việc của con người đó phút chốc như tối sầm cả lại, trong giây lát một màn tối đen như mực bao trùm cả ngôi làng phương bắc.
Đã lâu lắm, hồi mới bị kết án, Paven đã tự thề sẽ không bao giờ uống rượu nữa. Sau khi được tự do anh đã giữ đúng lời thề, không bao giờ uống một giọt rượu nào. Nhưng hôm ấy ở nhà viên phụ trách ra, anh đi thẳng đến cửa hàng, mua một chai rượu, rót ra cốc lớn và chỉ uống ba bốn ngụm là hết. Anh uống rượu mà cảm thấy như uống nước lã, không biết gì là đắng nữa. Anh ngạc nhiên nhận thấy tim như giãn ra, bao cơ bắp trong cơ thể như chùng cả lại.
Rồi Paven nức nở khóc. Anh đã chịu đựng tất cả những gì xảy ra với anh một cách câm lặng, vậy mà lần này anh không kìm được tiếng khóc.
- Ta sẽ không tha thứ, không… Không thể! – Và đêm hôm đó, khi nghĩ đến Maksêev, anh đã nguyền như vậy.

_________________
Anh ơi đợi em về!
Đợi em về, anh nhé!
Mưa có rơi dầm dề
Ngày có buồn lê thê
Thì anh ơi cứ đợi!
Trở về đầu trang
Marutxiadihoc is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi
[ IP : Logged ]
Marutxiadihoc
Bánh mì đen - Черный хлеб
Bánh mì đen - Черный хлеб


Tuổi: 39
Tham gia từ: 27 Oct 2006
Bài viết: 61
Đến từ: Bắc kinh

GửiGửi: 05-Dec-2006 8:05 pm    Tiêu đề:  Re: Trên mảnh đất người đời - Anatôli Ivanôp
Trả lời kèm trích dẫn

5
Đầu mùa xuân, khi những con sếu bắt đầu kêu nháo nhác trên dòng sông Enitxây, Đêmiđôp trở lại quê nhà.
Nhưng bắt tay vào cuộc sống từ phía nào đây? Ông không còn hi vọng gì vào điều tốt nào nữa, ông đã quên mất khái niệm lòng tốt. Và trong thâm tâm cảm thấy đây là lần cuối cùng thử định mệnh, ở tàu xuống, ông đi thẳng ngay đến trụ sở Uỷ ban Xô viết tỉnh.
- Ông chủ tịch, xin ông cắt nghĩa cho tôi biết, tôi là hạng người như thế nào? Nghĩa là ông bảo tôi có nên sống nữa hay không, hay đúng là tôi không có quyền nhìn thấy mặt trời nữa? – Ông bước thẳng vào phòng làm việc của ông chủ tịch tỉnh, không thèm xin phép cô thư ký mũi nhỏ, rồi cất tiếng hỏi.
Tên ông chủ tịch là AgaFônôp. Đó là một người to béo dáng thô kệch, với cái cổ ngấn lên toàn mỡ bệnh, ông ta nhíu lông mày, tò mò ngắm nghía người khách lạ.
- Chủ tịch như tôi, chắc anh thấy đấy… người cứ phì ra. Nhưng dù sao tôi cũng không phải là ông, mà là đồng chí… Anh mới bị tù ra phải không?
- Đối với tôi thì cả trái đất này là nhà tù không có chấn song.
- Ề, cái anh này, - ông chủ tịch béo phị cười khẩy – Ăn nói gì độc ác thế! Có lần tôi đọc được câu thơ: “Mặt trời chiếu cho cả người sáng lẫn người mù. Và đó chính là điều kỳ diệu của nó”. Như thế nghĩa là thế nào?
- Thơ thì mỗi người có thể sáng tác một cách khác nhau.
- Phải – AgaFônôp vẫn chăm chú quan sát Đêmiđôp – Thôi được, vậy anh hãy kể cho tôi nghe chuyện của anh đi…
Lần đầu tiên trong bao nhiêu năm nay, Đêmiđôp mới cảm thấy trái đất không phải chỉ toàn những người đểu giả, vì nó quá lớn.
Thế là ông đã kể cho vị chủ tịch to béo về toàn bộ cuộc đời ông, không giấu giếm cả những chi tiết nhỏ nhất.
Ông này cứ ngồi nghe từ đầu đến cuối không ngắt lời, chỉ cau mặt và đưa nắm tay hộ pháp lên xoa cái cằm mỡ.
- Hừm… - khi Đêmiđôp nói xong, ông ta lại lên tiếng – Tôi biết nói gì với đồng chí bây giờ, đồng chí Paven! Cái ác thì tự nó phơi bầy ra, nhưng cái tốt thì phải biết nhìn mới thấy.
- Nghĩa là thế nào, tôi chưa hiểu?
- Nghĩa là thế này… Tôi nghĩ thế này: cái tốt nhất đối với đồng chí bây giờ là sống ở một nơi nào xa mọi người, sống một mình với thiên nhiên. Tôi có thể bố trí cho đồng chí làm người coi phao tiêu ở sông Enitxây. Hay tốt hơn nữa là làm người coi rừng.
- Nghĩa là bây giờ tôi không còn chỗ ở bên cạnh mọi người? – Bao nhiêu cay đắng chất chứa trong lòng phút chốc lại trào lên cổ họng Đêmiđôp.
- Đồng chí hãy tin tôi, đồng chí Paven. Bà nội trợ khi rút miếng bánh nóng trong lò ra lúc đầu bao giờ cũng phải đặt nó vào chỗ lạnh, lấy khăn sạch đậy lên cho nó bớt nóng đi đã. Chiếc bánh sẽ mềm ra, sẽ có hơi thở của đất. Còn con người ấy à? Trong rừng cũng có nhiều người lắm chứ.
- Chắc ông cũng xuất thân là nông dân? – Nỗi cay đắng trong cổ họng tự nhiên biến mất, có điều không hiểu sao khi nhìn AgaFônôp, tự dưng Đêmiđôp cảm thấy lúng túng, như thể ông có lỗi với con người này.
- Không, trước kia tôi đã là thợ rừng, và một thời gian dài tôi cũng làm nghề coi rừng. Bây giờ khi nhớ đến những ngày ấy tim tôi bỗng thấy nhức nhối vì nhớ tiếc. Rừng, hay nói chung thiên nhiên, là lý trí cao siêu nhất trong số tất cả những gì có ở dưới mặt trời. Đồng chí hãy gắng học cách cảm nhận và hiểu biết nó, thì đồng chí sẽ phát hiện ra con người trong mình. Và điều đó đối với đồng chí còn là nhiệm vụ nữa – đồng chí hãy tin lời tôi.
Paven vừa hiểu mà vừa không hiểu ông AgaFônôp định nói gì. Nhưng ông cảm thấy là nên tin ông ta. Và thốt nhiên, ông nói cho riêng mình:
- Phải, chắc hẳn ông phải là người tốt…
- Cái đó cũng còn tuỳ cách nghĩ của mỗi người – ông AgaFônôp cười nhạt. – Vậy để tôi gọi điện đến ban lâm nghiệp về việc bố trí cho đồng chí làm người coi rừng nhé? Đồng chí không lừa tôi đấy chứ?
- Ông đã nghe hết chuyện đời tôi. Có biết bao người đã lừa tôi, nhưng tôi thì hình như chưa lừa ai bao giờ.
- Nhưng xin đồng chí bớt cái giọng ác độc ấy đi một chút – AgaFônôp bỗng giận đỏ mặt – “Bao nhiêu người lừa dối”. Thế cụ thể là bao nhiêu? Đồng chí làm như mọi người chỉ chuyên sống bằng chuyện đó thôi vậy. Mà thực ra chỉ có một lần, và chỉ có một tên đểu cáng đó thôi… Đồng chí cần phải hiểu dứt khoát điều đó!
- Một lần nhưng cũng đủ cho cả đời rồi. Cái thằng chó đẻ ấy nói với tôi: “Rồi mày sẽ ân hận suốt đời”, và đúng là tôi khổ suốt đời thật! Cho nên cũng cần để cho người ta hiểu tôi.
- Nghĩa là đồng chí sẽ không tha thứ cho nó? Đồng chí định trả thù? – AgaFônôp đã chực giơ tay với ống điện thoại bỗng nhiên lại bỏ xuống.
- Thế thằng Maksêep ấy còn sống à? – Đêmiđôp nói rất nhanh. – Ông biết hắn ta à?
- Giá tôi không biết hắn ta, có thể tôi đã nghĩ tất cả những chuyện đồng chí vừa kể là bịa đặt.
- Thế hiện hắn ta sống ở đâu?
- Vẫn ở làng Kônmôgôrôvô ấy. Và đã cưới Maria của đồng chí.
Đêmiđôp ngồi chống khuỷu tay lên đầu gối, úp mặt vào lòng bàn tay, thở một cách nặng nhọc. AgaFônôp lúc này không nói một lời nào nữa. Paven hiểu là ông đang chờ đợi câu trả lời cho câu hỏi cuối cùng của ông ta.
- Thế nếu chuyện đó xảy ra với ông, ông có tha thứ không? Ông sẽ không trả thù chứ?
- Tôi ấy à? Tha thứ - tôi không biết nữa, có lẽ tôi sẽ không tha thứ. Còn trả thù hắn, chịu bẩn tay vì hắn thì có lẽ tôi cũng chẳng thèm. Tôi quý bản thân mình hơn.
- Nhưng bây giờ tôi thấy đời tôi chẳng còn ý nghĩa gì nữa. – Paven thốt ra một câu hằn học.
Rồi họ im lặng, tựa như mỗi người đang thầm nghĩ xem họ phải làm gì bây giờ, chia tay nhau như thế nào. Mãi sau Đêmiđôp mới nói một cách khó nhọc, mắt không nhìn AgaFônôp:
- Thế họ… có con không?
- Hình như có hai đứa, một trai, một gái.
Đêmiđôp lại ngồi im một lúc nữa, rồi nặng nề đứng dậy, xô ghế ầm ầm.
- Thôi được… Giá tôi không được gặp một người như ông có lẽ tôi sẽ bắt nó trả nợ máu. Nhưng bây giờ thì tôi sẽ không đụng đến nó. Tôi sẽ không có hành động gì chạm đến nó. Nhưng tha thứ thì… như chính ông vừa nói, tôi không thể tha thứ được.
- Đồng chí nói “không có hành động gì chạm đến nó” là như thế nào?
- Chả lẽ ông không hiểu sao?
- Thế thì đồng chí sẽ chạm đến nó bằng cách gì?
- Không biết. Tôi không biết gì cả. Ông gọi điện đến ban lâm nghiệp đi.
Sau khi chào tạm biệt, ông bước ra cửa, nhưng đi nửa chừng, ông dừng lại, nói:
- Còn về mấy câu thơ ông đọc thì đúng là hay thật. Mặt trời chiếu cho tất cả - cả người sáng lẫn người mù. Đơn giản quá, nhưng rất đúng.
- Chính thế đấy, Paven ạ! – Paven cảm thấy khi nói ra câu đó, AgaFônôp có vẻ sung sướng như vừa trút được gánh nặng.
- Còn điều nữa ông nói có lẽ cũng đúng: nhiệm vụ của tôi bây giờ là phát hiện ra con người trong mình. Ông đã nói trúng cái cội nguồn sâu xa của vấn đề.
- Chưa phải cả nhiệm vụ mà mới chỉ nửa nhiệm vụ thôi. – AgaFônôp mỉm cười.
- Không, ông nói dối, - Đêmiđôp bướng bỉnh nhắc lại. – Cái gì đầu óc đã nghĩ ra rồi, còn phải cho thấm vào trái tim nữa. Mà cái đó đúng là nhiệm vụ.

6
Thế là Đêmiđôp bắt đầu làm người coi rừng ở gần Kônmôgôrôva.
Hoá ra cái ông AgaFônôp to béo ấy nói đúng. Tiếng xào xạc bất tận của cây cối, tiếng chim hót líu lo, tiếng suối róc rách chảy đã có tác dụng, tâm hồn Paven dần dần lắng dịu. Điều nữa ông ta nói cũng đúng: quả là trong rừng cũng có nhiều người: những người đi săn, đánh cá, hái quả rừng, hái nấm… Không có ngày nào Paven không gặp người trong rừng, thậm chí ông còn làm quen được với nhiều người. Ông chỉ cho họ những vùng có nhiều quả rừng, những nơi có nhiều cá và nấm nhất.
Ông ngạc nhiên nhận ra rằng mọi người chóng trở nên thân thiết với ông, nhiều thanh niên gọi ông là bác Pasa, còn những người đứng tuổi thì kêu ông là Paven Grigôrievits. Ông còn nhận ra điều nữa – không hiểu sao những phụ nữ đi hái quả rừng bao giờ cũng tỏ ra tin cậy ông, họ đi theo ông vào mãi sâu trong rừng mà không hề e ngại. Bất cứ ông dẫn họ đi đâu họ cũng tin tưởng đi theo. Chắc hẳn có nhiều lời đồn đại tốt về ông. Và những lời đồn đại quả không sai – chưa bao giờ ông có một lời xúc phạm đến một người phụ nữ nào.
Chỉ có mỗi một bận ông không kìm được, đó là khi một người đàn bà lạ ở làng Kônmôgôrôva, trông có vẻ người nơi khác đến, tên là Naxtaxia, với ánh mắt cầu khẩn lộ liễu bắt ông ngồi xuống đám cỏ mịn với chị ta. Chị ta khoảng bốn mươi tuổi, dáng người khoẻ mạnh, gọn gàng, sau này chị ta thường hay đến chơi nhà ông trong rừng, lần nào đến mặt cũng đỏ ửng và bẽn lẽn, đôi khi còn ngủ lại nhà ông. Chị ta goá chồng từ năm bốn mươi tư, đã sưởi ấm ông bằng cái hơi ấm đàn bà tràn đầy của mình, gợi lên trong ông một cảm giác buồn bã khó chịu.
- Giá em lấy anh, Paven ạ, - một hôm chị ta nói với ông. – Thì có lẽ không người đàn bà nào hạnh phúc hơn em… Nhưng em không thể, những đứa con em nhớ bố chúng lắm, sẽ không bao giờ chúng nhận anh đâu. Tâm hồn chúng sẽ tan nát mất.
- Naxtaxia ạ, cô là người phụ nữ tốt, cô có tấm lòng vàng. – Đêmiđôp trả lời chị ta. – Nhưng cô đừng nghĩ ngợi nhiều. Tôi cũng không lấy cô đâu. Tôi sẽ không bao giờ lấy ai cả. Sẽ sống một mình thôi.
- Tại sao vậy, anh Paven? – chị ta nhìn Đêmiđôp với vẻ lo lắng của người mẹ và hỏi. – Từ lâu em để ý thấy hình như tâm hồn anh đã nguội lạnh, bị khép kín rồi thì phải. Trong đời anh có chuyện gì thế? Anh là con người hiền lành, nhân hậu, vậy sao anh lại sống độc thân? Và hầu như ngày nào cũng uống say bét… Vì sao thế?
- Cô đừng hỏi chuyện ấy. Mọi người chẳng cần biết đến chuyện đó làm gì… Gia đình Maksêep ở làng cô sống thế nào?
- Cái lão Maksêep có cô vợ bán hàng là Maria ấy à? Ai mà hiểu được họ… Cái gã Maksêep ấy chắc phải là thằng cha sâu bọ nhất trong số những loài sâu bọ. Nhưng sao tự nhiên anh lại hỏi đến họ? – chị ta hỏi, đôi lông mày dướn lên có vẻ ghen tuông.
- À… vì hồi trẻ tôi có biết họ. Sau đó… sau đó tôi phải bỏ nơi ấy ra đi rất lâu. Nhưng… cô bảo sâu bọ là thế nào cơ?
- Hắn hút máu hút mủ người đàn bà. Hắn cũng đi mặt trận, khi về có chống nạng, mang về hai xe ngựa đầy các thứ đồ - em không biết ai cho hắn. Hắn nói đó là quà người ta thưởng cho người anh hùng mặt trận. Rồi hắn dựng ngay một căn nhà to lắm. Mà chả cần những thứ quà ấy thì gia đình họ sống cũng đã sung túc lắm. Cái cô Maria bán hàng thì chuyên cân đo đong đếm thiếu của khách. Ngoài ra họ còn ăn cắp không biết ngượng.
- Sao cô biết? – Đêmiđôp hỏi, giọng còn vẻ tức giận.
- Em có mù đâu? Mà mọi người cũng bảo thế. Trước khi ra mặt trận, hắn đã thu xếp cho vợ đứng bán hàng. Người ta bảo trước chiến tranh hắn còn làm chủ tịch uỷ ban xã. Nghe đâu hắn phát hiện được một kẻ định đốt kho thóc nông trang, và vì chuyện đó người ta cử hắn làm chủ tịch.
- Hừm, ra thế. – Đêmiđôp lẩm bẩm. – Như người anh hùng.
- Anh hùng gì cái đồ hắn. Khoẻ như vâm ấy nhưng không chịu làm gì cả. Là thương binh, hắn bảo thế. Nhưng hắn bỏ nạng từ lâu rồi. Còn cô vợ thì hắn bắt kẽo kẹt bán hàng mãi. Nghe đâu như hắn hắn còn đánh đập cô này nếu hàng tháng không đem đủ tiền về cho hắn.
- Hắn còn đánh kia à? Nghĩa là hắn còn bầy mưu cho cô ta ăn cắp? – Đêmiđôp lại nói với vẻ tức giận không giấu được.- Ai là người chứng kiến điều đó?
- Có gì che được mắt thiên hạ!
- Nhưng đồn đại thì cũng nhiều chuyện lắm…
- Paven! Anh hỏi thì biết thế nào em nói thế. Vậy mà hình như anh lại giận em. Thế họ là gì với anh, Paven?
- Chẳng là gì cả.
Cuối cùng ông vẫn không kể gì cho chị ta nghe, cứ để cho chị ta thắc mắc.
Tất cả những điều Naxtaxia kể, Đêmiđôp còn được biết bằng cách kín đáo dò hỏi những người khác. Tất cả mọi người đều nói gần đúng như vậy. Và lòng căm thù con người đó cứ chồng chất hết lớp này đến lớp khác, như tuyết dần dần đọng thành tảng lớn, lăn xuống chân núi.
Song, mặc dù nhiều lúc ở ngay sát cạnh Maksêep , Đêmiđôp vẫn chưa lần nào giáp mặt hắn. Những lúc Maksêep vào rừng kiếm củi hay đi câu cá – hắn là tay rất mê câu cá, nhưng công bằng mà nói, bao giờ cũng câu bằng cần câu chứ không đánh cá trộm, - thì Paven, biết cách đi trong rừng rất êm, đã có lần đi theo hắn hằng mấy cây số, ngồi rình trong bụi cây hàng giờ để theo dõi xem tên Maksêep câu cá hồi hay cá thy man… như thế nào. Trong lúc câu cá, Maksêep gần như điếc với mọi vật xung quanh, nét mặt hắn trông có vẻ hả hê, mãn nguyện rất đáng ghét. Cứ mỗi lần gỡ xong con cá to ở lưỡi câu, bao giờ hắn cũng cầm trong tay con cá ngắm nghía hồi lâu rồi mới cho vào xô. Và Đêmiđôp, khi nhìn Maksêep , thì đoán ra và hiểu rằng hắn thích xem con cá đáng thương cố uốn mình thoát ra khỏi tay hắn, nhưng không thoát nổi.
Những phút đó trong người Đêmiđôp máu bốc lên giần giật, mắt nhoè đi vì một ý nghĩ thoáng qua: giơ súng nhằm vào cái bộ mặt đẫm mồ hôi vì niềm sung sướng thú vật kia, và… Nhưng lần nào trong ông cũng vẳng lên lời của AgaFônôp: “Nhưng tôi ghê tởm không muốn bẩn tay vì hắn”…
Với Maria, Đêmiđôp cũng chưa có dịp gặp lại, vì rượu vôtka, mà ông đã thực sự mắc nghiện, mặc dù chưa hiểu rõ toàn bộ cái độc hại của nó, hồi này ông mua ở các làng bên cạnh. Nhưng một hôm, sau khi ngồi rình xem tên Maksêep câu cá như thế, ông ngang nhiên bước ra khỏi bụi cây, hất súng ra sau lưng và đi về làng Kônmôgôrôva. Maksêep nhìn thấy người đàn ông râu ria xồm xoàm từ bụi cây bước ra thì giật mình đứng phắt dậy. Đêmiđôp không hiểu hắn có nhận ra ông hay không, chỉ thấy mặt hắn lộ vẻ khiếp đảm, thậm chí quai hàm hắn trễ xuống một cách thảm hại.
“Hắn không nhận ra, mà sao nhận ra được…” - trên đường đi về làng Đêmiđôp nghĩ thầm trong bụng – “Rồi mày cũng đến ngày con ạ. Rõ ràng bây giờ mày không còn như ngày đó nữa. Được, cứ đợi đấy… Thực sự tao không cần dính tay vào mày…”
Đêmiđôp định đi thẳng đến cửa hàng, nhưng nhìn thấy chiếc khoá treo ở cửa ông bèn hỏi thăm một người gần đó xem vợ chồng Maksêep sống ở đâu.
Ông bước vào nhà vợ chồng hắn, bụng đã suy tính trước sẽ trả thù con người đã làm hại cả đời mình ra sao. Ông bước vào và nói với vợ Maksêep lúc ấy đang là quần áo bằng cái bàn là điện:
- Chào Marka. Tôi đến đây… Tôi đến trả nợ cho chồng cô đây.
- Nợ nào? – mụ ta quay khuôn mặt xinh đẹp về phía Đêmiđôp. – Ông là ai? Ông nợ Maksêep cái gì?
- Tôi chẳng nợ gì hết. Mà hắn vay của tôi. Hắn vay tôi cả cuộc đời…
- Ông nói lảm nhảm gì thế? Cuộc đời nào
- Cuộc đời bình thường mà mỗi người đều có chứ cuộc đời nào! Hắn đã lấy cắp cuộc đời tôi, và lấy đầu gối bẻ gãy như thanh củi khô!
Nhưng ông chưa nói hết câu, mụ đã nhận ra con người đang đứng trước mặt mình là ai, mụ đặt phịch cái bàn là đang nóng xuống tấm áo sơmi đắt tiền của chồng. Trong giây lát máu đã biến mất trên khuôn mặt mụ, mắt mụ mở tròn, mụ kêu lên nhưng vì quá sợ hãi nên không thành tiếng. Rồi bằng giọng tắc nghẹn ấy, mụ ta thốt lên:
- Paven!…
Vừa lúc đó cửa mở toang và Đênix Maksêep bước vào – có lẽ hắn đã đi theo Đêmiđôp về nhà lòng vô cùng kinh hãi. Vừa chạy vào nhà, hắn đứng ngay ở cửa nhìn Đêmiđôp, cằm hắn vẫn chảy thượt và lúc này đang run run. Trong cái miệng tối ánh lên những chiếc răng thép. Maria vội chạy đến bên chồng và cả hai sợ hãi đứng nép vào tường.
- Hắn, hắn đấy… Paven Đêmiđôp! – Maria kêu kên. – Ông ở đâu đến thế?
- Tôi biết, tôi nhìn thấy… - Maksêep nói ấp úng như đứa trẻ. Đôi mắt hắn đảo đi đảo lại một cách sợ sệt.
- Từ thế giới bên kia. – Đêmiđôp cười nhạt.
- Em đã nói là thế nào hắn cũng mò đến mà.
Có mùi vải cháy. Đêmiđôp, súng vẫn đeo sau lưng, đi đến gần bàn, nhấc chiếc bàn là lên.
- Cô làm hỏng cái áo đẹp quá, - ông nói giọng bình thản, không hề tiếc rẻ. Sau đó ngồi xuống chiếc ghế đẩu cạnh bàn, tháo súng đặt giữa hai chân.
- Nghe đây, Maria, nghe xem hắn đã vay của tôi cái gì, và tôi phải đòi hắn món nợ gì. Tôi sẽ kể hết, còn cô hãy nhớ lấy, Maria ạ.
Rồi chậm rãi, không vội vã, ông kể lại đầu đuôi cho chúng nghe, như đã kể cho ông AgaFônôp cách đây không lâu, giọng ông không hề có vẻ độc ác. Ông kể như kể với người khác, còn chúng thì đứng nép sát vào nhau không dám nhúc nhích, không dám ngắt lời ông. Mặt Maksêep mỗi lúc một ướt đẫm, mồ hôi bắt đầu chảy thành giọt.
- Bây giờ quãng đời còn lại của tao chẳng có tích sự gì, tao cũng chẳng thiết tha gì nó, - Đêmiđôp bắt đầu kết thúc. – Nhưng tao sẽ sang thế giới bên kia chậm hơn mày một chút, Maksêep ạ. Nghĩa là trước hết tao phải thanh toán với mày sòng phẳng đã. Tao đã có hàng trăm dịp để thanh toán với mày. Từ lâu rồi – Biết bao lần mày đi bộ hay đi xe vào rừng, tao đều bí mật đi theo mày, rình mày như rình một con vật. Như hôm nay chẳng hạn, từ sáng sớm tao đã ngồi xem mày câu cá. Hay như lúc này có gì có thể ngăn tao tính nợ với mày? Viên đạn cho mày tao đã chuẩn bị từ lâu rồi. – Đêmiđôp vỗ vỗ vào khẩu súng. – Nhưng chú mày ạ, tao muốn xem chú mày sẽ chuẩn bị đón cái chết như thế nào. Vậy thì hãy chuẩn bị đi. Tao sẽ không đập mày như mày đã làm với tao đâu. Tao sẽ chờ cơ hội gặp mày ở chỗ thuận tiện, trong rừng, hay trên cánh đồng, là tao cho mày phát đạn, thế thôi.
Nói đoạn, ông đứng dậy đàng hoàng bước ra cửa.
- Nói láo… Mày không dám! – Maksêep không nén nổi uất ức thốt lên, đưa tay vuốt mồ hôi mặt.
- Tao đã nói, và mày đã nghe thấy rồi đấy. – Đêmiđôp vẫn thản nhiên nói vì biết rằng Maksêep sẽ nhớ lời ông. – Chính mày đã chọn cho mày số kiếp như thế.
Rồi không nhìn chúng nữa, ông bước thẳng ra ngoài.

_________________
Anh ơi đợi em về!
Đợi em về, anh nhé!
Mưa có rơi dầm dề
Ngày có buồn lê thê
Thì anh ơi cứ đợi!
Trở về đầu trang
Marutxiadihoc is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi
[ IP : Logged ]
Marutxiadihoc
Bánh mì đen - Черный хлеб
Bánh mì đen - Черный хлеб


Tuổi: 39
Tham gia từ: 27 Oct 2006
Bài viết: 61
Đến từ: Bắc kinh

GửiGửi: 05-Dec-2006 8:06 pm    Tiêu đề:  Re: Trên mảnh đất người đời - Anatôli Ivanôp
Trả lời kèm trích dẫn

5
Đầu mùa xuân, khi những con sếu bắt đầu kêu nháo nhác trên dòng sông Enitxây, Đêmiđôp trở lại quê nhà.
Nhưng bắt tay vào cuộc sống từ phía nào đây? Ông không còn hi vọng gì vào điều tốt nào nữa, ông đã quên mất khái niệm lòng tốt. Và trong thâm tâm cảm thấy đây là lần cuối cùng thử định mệnh, ở tàu xuống, ông đi thẳng ngay đến trụ sở Uỷ ban Xô viết tỉnh.
- Ông chủ tịch, xin ông cắt nghĩa cho tôi biết, tôi là hạng người như thế nào? Nghĩa là ông bảo tôi có nên sống nữa hay không, hay đúng là tôi không có quyền nhìn thấy mặt trời nữa? – Ông bước thẳng vào phòng làm việc của ông chủ tịch tỉnh, không thèm xin phép cô thư ký mũi nhỏ, rồi cất tiếng hỏi.
Tên ông chủ tịch là AgaFônôp. Đó là một người to béo dáng thô kệch, với cái cổ ngấn lên toàn mỡ bệnh, ông ta nhíu lông mày, tò mò ngắm nghía người khách lạ.
- Chủ tịch như tôi, chắc anh thấy đấy… người cứ phì ra. Nhưng dù sao tôi cũng không phải là ông, mà là đồng chí… Anh mới bị tù ra phải không?
- Đối với tôi thì cả trái đất này là nhà tù không có chấn song.
- Ề, cái anh này, - ông chủ tịch béo phị cười khẩy – Ăn nói gì độc ác thế! Có lần tôi đọc được câu thơ: “Mặt trời chiếu cho cả người sáng lẫn người mù. Và đó chính là điều kỳ diệu của nó”. Như thế nghĩa là thế nào?
- Thơ thì mỗi người có thể sáng tác một cách khác nhau.
- Phải – AgaFônôp vẫn chăm chú quan sát Đêmiđôp – Thôi được, vậy anh hãy kể cho tôi nghe chuyện của anh đi…
Lần đầu tiên trong bao nhiêu năm nay, Đêmiđôp mới cảm thấy trái đất không phải chỉ toàn những người đểu giả, vì nó quá lớn.
Thế là ông đã kể cho vị chủ tịch to béo về toàn bộ cuộc đời ông, không giấu giếm cả những chi tiết nhỏ nhất.
Ông này cứ ngồi nghe từ đầu đến cuối không ngắt lời, chỉ cau mặt và đưa nắm tay hộ pháp lên xoa cái cằm mỡ.
- Hừm… - khi Đêmiđôp nói xong, ông ta lại lên tiếng – Tôi biết nói gì với đồng chí bây giờ, đồng chí Paven! Cái ác thì tự nó phơi bầy ra, nhưng cái tốt thì phải biết nhìn mới thấy.
- Nghĩa là thế nào, tôi chưa hiểu?
- Nghĩa là thế này… Tôi nghĩ thế này: cái tốt nhất đối với đồng chí bây giờ là sống ở một nơi nào xa mọi người, sống một mình với thiên nhiên. Tôi có thể bố trí cho đồng chí làm người coi phao tiêu ở sông Enitxây. Hay tốt hơn nữa là làm người coi rừng.
- Nghĩa là bây giờ tôi không còn chỗ ở bên cạnh mọi người? – Bao nhiêu cay đắng chất chứa trong lòng phút chốc lại trào lên cổ họng Đêmiđôp.
- Đồng chí hãy tin tôi, đồng chí Paven. Bà nội trợ khi rút miếng bánh nóng trong lò ra lúc đầu bao giờ cũng phải đặt nó vào chỗ lạnh, lấy khăn sạch đậy lên cho nó bớt nóng đi đã. Chiếc bánh sẽ mềm ra, sẽ có hơi thở của đất. Còn con người ấy à? Trong rừng cũng có nhiều người lắm chứ.
- Chắc ông cũng xuất thân là nông dân? – Nỗi cay đắng trong cổ họng tự nhiên biến mất, có điều không hiểu sao khi nhìn AgaFônôp, tự dưng Đêmiđôp cảm thấy lúng túng, như thể ông có lỗi với con người này.
- Không, trước kia tôi đã là thợ rừng, và một thời gian dài tôi cũng làm nghề coi rừng. Bây giờ khi nhớ đến những ngày ấy tim tôi bỗng thấy nhức nhối vì nhớ tiếc. Rừng, hay nói chung thiên nhiên, là lý trí cao siêu nhất trong số tất cả những gì có ở dưới mặt trời. Đồng chí hãy gắng học cách cảm nhận và hiểu biết nó, thì đồng chí sẽ phát hiện ra con người trong mình. Và điều đó đối với đồng chí còn là nhiệm vụ nữa – đồng chí hãy tin lời tôi.
Paven vừa hiểu mà vừa không hiểu ông AgaFônôp định nói gì. Nhưng ông cảm thấy là nên tin ông ta. Và thốt nhiên, ông nói cho riêng mình:
- Phải, chắc hẳn ông phải là người tốt…
- Cái đó cũng còn tuỳ cách nghĩ của mỗi người – ông AgaFônôp cười nhạt. – Vậy để tôi gọi điện đến ban lâm nghiệp về việc bố trí cho đồng chí làm người coi rừng nhé? Đồng chí không lừa tôi đấy chứ?
- Ông đã nghe hết chuyện đời tôi. Có biết bao người đã lừa tôi, nhưng tôi thì hình như chưa lừa ai bao giờ.
- Nhưng xin đồng chí bớt cái giọng ác độc ấy đi một chút – AgaFônôp bỗng giận đỏ mặt – “Bao nhiêu người lừa dối”. Thế cụ thể là bao nhiêu? Đồng chí làm như mọi người chỉ chuyên sống bằng chuyện đó thôi vậy. Mà thực ra chỉ có một lần, và chỉ có một tên đểu cáng đó thôi… Đồng chí cần phải hiểu dứt khoát điều đó!
- Một lần nhưng cũng đủ cho cả đời rồi. Cái thằng chó đẻ ấy nói với tôi: “Rồi mày sẽ ân hận suốt đời”, và đúng là tôi khổ suốt đời thật! Cho nên cũng cần để cho người ta hiểu tôi.
- Nghĩa là đồng chí sẽ không tha thứ cho nó? Đồng chí định trả thù? – AgaFônôp đã chực giơ tay với ống điện thoại bỗng nhiên lại bỏ xuống.
- Thế thằng Maksêep ấy còn sống à? – Đêmiđôp nói rất nhanh. – Ông biết hắn ta à?
- Giá tôi không biết hắn ta, có thể tôi đã nghĩ tất cả những chuyện đồng chí vừa kể là bịa đặt.
- Thế hiện hắn ta sống ở đâu?
- Vẫn ở làng Kônmôgôrôvô ấy. Và đã cưới Maria của đồng chí.
Đêmiđôp ngồi chống khuỷu tay lên đầu gối, úp mặt vào lòng bàn tay, thở một cách nặng nhọc. AgaFônôp lúc này không nói một lời nào nữa. Paven hiểu là ông đang chờ đợi câu trả lời cho câu hỏi cuối cùng của ông ta.
- Thế nếu chuyện đó xảy ra với ông, ông có tha thứ không? Ông sẽ không trả thù chứ?
- Tôi ấy à? Tha thứ - tôi không biết nữa, có lẽ tôi sẽ không tha thứ. Còn trả thù hắn, chịu bẩn tay vì hắn thì có lẽ tôi cũng chẳng thèm. Tôi quý bản thân mình hơn.
- Nhưng bây giờ tôi thấy đời tôi chẳng còn ý nghĩa gì nữa. – Paven thốt ra một câu hằn học.
Rồi họ im lặng, tựa như mỗi người đang thầm nghĩ xem họ phải làm gì bây giờ, chia tay nhau như thế nào. Mãi sau Đêmiđôp mới nói một cách khó nhọc, mắt không nhìn AgaFônôp:
- Thế họ… có con không?
- Hình như có hai đứa, một trai, một gái.
Đêmiđôp lại ngồi im một lúc nữa, rồi nặng nề đứng dậy, xô ghế ầm ầm.
- Thôi được… Giá tôi không được gặp một người như ông có lẽ tôi sẽ bắt nó trả nợ máu. Nhưng bây giờ thì tôi sẽ không đụng đến nó. Tôi sẽ không có hành động gì chạm đến nó. Nhưng tha thứ thì… như chính ông vừa nói, tôi không thể tha thứ được.
- Đồng chí nói “không có hành động gì chạm đến nó” là như thế nào?
- Chả lẽ ông không hiểu sao?
- Thế thì đồng chí sẽ chạm đến nó bằng cách gì?
- Không biết. Tôi không biết gì cả. Ông gọi điện đến ban lâm nghiệp đi.
Sau khi chào tạm biệt, ông bước ra cửa, nhưng đi nửa chừng, ông dừng lại, nói:
- Còn về mấy câu thơ ông đọc thì đúng là hay thật. Mặt trời chiếu cho tất cả - cả người sáng lẫn người mù. Đơn giản quá, nhưng rất đúng.
- Chính thế đấy, Paven ạ! – Paven cảm thấy khi nói ra câu đó, AgaFônôp có vẻ sung sướng như vừa trút được gánh nặng.
- Còn điều nữa ông nói có lẽ cũng đúng: nhiệm vụ của tôi bây giờ là phát hiện ra con người trong mình. Ông đã nói trúng cái cội nguồn sâu xa của vấn đề.
- Chưa phải cả nhiệm vụ mà mới chỉ nửa nhiệm vụ thôi. – AgaFônôp mỉm cười.
- Không, ông nói dối, - Đêmiđôp bướng bỉnh nhắc lại. – Cái gì đầu óc đã nghĩ ra rồi, còn phải cho thấm vào trái tim nữa. Mà cái đó đúng là nhiệm vụ.

6
Thế là Đêmiđôp bắt đầu làm người coi rừng ở gần Kônmôgôrôva.
Hoá ra cái ông AgaFônôp to béo ấy nói đúng. Tiếng xào xạc bất tận của cây cối, tiếng chim hót líu lo, tiếng suối róc rách chảy đã có tác dụng, tâm hồn Paven dần dần lắng dịu. Điều nữa ông ta nói cũng đúng: quả là trong rừng cũng có nhiều người: những người đi săn, đánh cá, hái quả rừng, hái nấm… Không có ngày nào Paven không gặp người trong rừng, thậm chí ông còn làm quen được với nhiều người. Ông chỉ cho họ những vùng có nhiều quả rừng, những nơi có nhiều cá và nấm nhất.
Ông ngạc nhiên nhận ra rằng mọi người chóng trở nên thân thiết với ông, nhiều thanh niên gọi ông là bác Pasa, còn những người đứng tuổi thì kêu ông là Paven Grigôrievits. Ông còn nhận ra điều nữa – không hiểu sao những phụ nữ đi hái quả rừng bao giờ cũng tỏ ra tin cậy ông, họ đi theo ông vào mãi sâu trong rừng mà không hề e ngại. Bất cứ ông dẫn họ đi đâu họ cũng tin tưởng đi theo. Chắc hẳn có nhiều lời đồn đại tốt về ông. Và những lời đồn đại quả không sai – chưa bao giờ ông có một lời xúc phạm đến một người phụ nữ nào.
Chỉ có mỗi một bận ông không kìm được, đó là khi một người đàn bà lạ ở làng Kônmôgôrôva, trông có vẻ người nơi khác đến, tên là Naxtaxia, với ánh mắt cầu khẩn lộ liễu bắt ông ngồi xuống đám cỏ mịn với chị ta. Chị ta khoảng bốn mươi tuổi, dáng người khoẻ mạnh, gọn gàng, sau này chị ta thường hay đến chơi nhà ông trong rừng, lần nào đến mặt cũng đỏ ửng và bẽn lẽn, đôi khi còn ngủ lại nhà ông. Chị ta goá chồng từ năm bốn mươi tư, đã sưởi ấm ông bằng cái hơi ấm đàn bà tràn đầy của mình, gợi lên trong ông một cảm giác buồn bã khó chịu.
- Giá em lấy anh, Paven ạ, - một hôm chị ta nói với ông. – Thì có lẽ không người đàn bà nào hạnh phúc hơn em… Nhưng em không thể, những đứa con em nhớ bố chúng lắm, sẽ không bao giờ chúng nhận anh đâu. Tâm hồn chúng sẽ tan nát mất.
- Naxtaxia ạ, cô là người phụ nữ tốt, cô có tấm lòng vàng. – Đêmiđôp trả lời chị ta. – Nhưng cô đừng nghĩ ngợi nhiều. Tôi cũng không lấy cô đâu. Tôi sẽ không bao giờ lấy ai cả. Sẽ sống một mình thôi.
- Tại sao vậy, anh Paven? – chị ta nhìn Đêmiđôp với vẻ lo lắng của người mẹ và hỏi. – Từ lâu em để ý thấy hình như tâm hồn anh đã nguội lạnh, bị khép kín rồi thì phải. Trong đời anh có chuyện gì thế? Anh là con người hiền lành, nhân hậu, vậy sao anh lại sống độc thân? Và hầu như ngày nào cũng uống say bét… Vì sao thế?
- Cô đừng hỏi chuyện ấy. Mọi người chẳng cần biết đến chuyện đó làm gì… Gia đình Maksêep ở làng cô sống thế nào?
- Cái lão Maksêep có cô vợ bán hàng là Maria ấy à? Ai mà hiểu được họ… Cái gã Maksêep ấy chắc phải là thằng cha sâu bọ nhất trong số những loài sâu bọ. Nhưng sao tự nhiên anh lại hỏi đến họ? – chị ta hỏi, đôi lông mày dướn lên có vẻ ghen tuông.
- À… vì hồi trẻ tôi có biết họ. Sau đó… sau đó tôi phải bỏ nơi ấy ra đi rất lâu. Nhưng… cô bảo sâu bọ là thế nào cơ?
- Hắn hút máu hút mủ người đàn bà. Hắn cũng đi mặt trận, khi về có chống nạng, mang về hai xe ngựa đầy các thứ đồ - em không biết ai cho hắn. Hắn nói đó là quà người ta thưởng cho người anh hùng mặt trận. Rồi hắn dựng ngay một căn nhà to lắm. Mà chả cần những thứ quà ấy thì gia đình họ sống cũng đã sung túc lắm. Cái cô Maria bán hàng thì chuyên cân đo đong đếm thiếu của khách. Ngoài ra họ còn ăn cắp không biết ngượng.
- Sao cô biết? – Đêmiđôp hỏi, giọng còn vẻ tức giận.
- Em có mù đâu? Mà mọi người cũng bảo thế. Trước khi ra mặt trận, hắn đã thu xếp cho vợ đứng bán hàng. Người ta bảo trước chiến tranh hắn còn làm chủ tịch uỷ ban xã. Nghe đâu hắn phát hiện được một kẻ định đốt kho thóc nông trang, và vì chuyện đó người ta cử hắn làm chủ tịch.
- Hừm, ra thế. – Đêmiđôp lẩm bẩm. – Như người anh hùng.
- Anh hùng gì cái đồ hắn. Khoẻ như vâm ấy nhưng không chịu làm gì cả. Là thương binh, hắn bảo thế. Nhưng hắn bỏ nạng từ lâu rồi. Còn cô vợ thì hắn bắt kẽo kẹt bán hàng mãi. Nghe đâu như hắn hắn còn đánh đập cô này nếu hàng tháng không đem đủ tiền về cho hắn.
- Hắn còn đánh kia à? Nghĩa là hắn còn bầy mưu cho cô ta ăn cắp? – Đêmiđôp lại nói với vẻ tức giận không giấu được.- Ai là người chứng kiến điều đó?
- Có gì che được mắt thiên hạ!
- Nhưng đồn đại thì cũng nhiều chuyện lắm…
- Paven! Anh hỏi thì biết thế nào em nói thế. Vậy mà hình như anh lại giận em. Thế họ là gì với anh, Paven?
- Chẳng là gì cả.
Cuối cùng ông vẫn không kể gì cho chị ta nghe, cứ để cho chị ta thắc mắc.
Tất cả những điều Naxtaxia kể, Đêmiđôp còn được biết bằng cách kín đáo dò hỏi những người khác. Tất cả mọi người đều nói gần đúng như vậy. Và lòng căm thù con người đó cứ chồng chất hết lớp này đến lớp khác, như tuyết dần dần đọng thành tảng lớn, lăn xuống chân núi.
Song, mặc dù nhiều lúc ở ngay sát cạnh Maksêep , Đêmiđôp vẫn chưa lần nào giáp mặt hắn. Những lúc Maksêep vào rừng kiếm củi hay đi câu cá – hắn là tay rất mê câu cá, nhưng công bằng mà nói, bao giờ cũng câu bằng cần câu chứ không đánh cá trộm, - thì Paven, biết cách đi trong rừng rất êm, đã có lần đi theo hắn hằng mấy cây số, ngồi rình trong bụi cây hàng giờ để theo dõi xem tên Maksêep câu cá hồi hay cá thy man… như thế nào. Trong lúc câu cá, Maksêep gần như điếc với mọi vật xung quanh, nét mặt hắn trông có vẻ hả hê, mãn nguyện rất đáng ghét. Cứ mỗi lần gỡ xong con cá to ở lưỡi câu, bao giờ hắn cũng cầm trong tay con cá ngắm nghía hồi lâu rồi mới cho vào xô. Và Đêmiđôp, khi nhìn Maksêep , thì đoán ra và hiểu rằng hắn thích xem con cá đáng thương cố uốn mình thoát ra khỏi tay hắn, nhưng không thoát nổi.
Những phút đó trong người Đêmiđôp máu bốc lên giần giật, mắt nhoè đi vì một ý nghĩ thoáng qua: giơ súng nhằm vào cái bộ mặt đẫm mồ hôi vì niềm sung sướng thú vật kia, và… Nhưng lần nào trong ông cũng vẳng lên lời của AgaFônôp: “Nhưng tôi ghê tởm không muốn bẩn tay vì hắn”…
Với Maria, Đêmiđôp cũng chưa có dịp gặp lại, vì rượu vôtka, mà ông đã thực sự mắc nghiện, mặc dù chưa hiểu rõ toàn bộ cái độc hại của nó, hồi này ông mua ở các làng bên cạnh. Nhưng một hôm, sau khi ngồi rình xem tên Maksêep câu cá như thế, ông ngang nhiên bước ra khỏi bụi cây, hất súng ra sau lưng và đi về làng Kônmôgôrôva. Maksêep nhìn thấy người đàn ông râu ria xồm xoàm từ bụi cây bước ra thì giật mình đứng phắt dậy. Đêmiđôp không hiểu hắn có nhận ra ông hay không, chỉ thấy mặt hắn lộ vẻ khiếp đảm, thậm chí quai hàm hắn trễ xuống một cách thảm hại.
“Hắn không nhận ra, mà sao nhận ra được…” - trên đường đi về làng Đêmiđôp nghĩ thầm trong bụng – “Rồi mày cũng đến ngày con ạ. Rõ ràng bây giờ mày không còn như ngày đó nữa. Được, cứ đợi đấy… Thực sự tao không cần dính tay vào mày…”
Đêmiđôp định đi thẳng đến cửa hàng, nhưng nhìn thấy chiếc khoá treo ở cửa ông bèn hỏi thăm một người gần đó xem vợ chồng Maksêep sống ở đâu.
Ông bước vào nhà vợ chồng hắn, bụng đã suy tính trước sẽ trả thù con người đã làm hại cả đời mình ra sao. Ông bước vào và nói với vợ Maksêep lúc ấy đang là quần áo bằng cái bàn là điện:
- Chào Marka. Tôi đến đây… Tôi đến trả nợ cho chồng cô đây.
- Nợ nào? – mụ ta quay khuôn mặt xinh đẹp về phía Đêmiđôp. – Ông là ai? Ông nợ Maksêep cái gì?
- Tôi chẳng nợ gì hết. Mà hắn vay của tôi. Hắn vay tôi cả cuộc đời…
- Ông nói lảm nhảm gì thế? Cuộc đời nào
- Cuộc đời bình thường mà mỗi người đều có chứ cuộc đời nào! Hắn đã lấy cắp cuộc đời tôi, và lấy đầu gối bẻ gãy như thanh củi khô!
Nhưng ông chưa nói hết câu, mụ đã nhận ra con người đang đứng trước mặt mình là ai, mụ đặt phịch cái bàn là đang nóng xuống tấm áo sơmi đắt tiền của chồng. Trong giây lát máu đã biến mất trên khuôn mặt mụ, mắt mụ mở tròn, mụ kêu lên nhưng vì quá sợ hãi nên không thành tiếng. Rồi bằng giọng tắc nghẹn ấy, mụ ta thốt lên:
- Paven!…
Vừa lúc đó cửa mở toang và Đênix Maksêep bước vào – có lẽ hắn đã đi theo Đêmiđôp về nhà lòng vô cùng kinh hãi. Vừa chạy vào nhà, hắn đứng ngay ở cửa nhìn Đêmiđôp, cằm hắn vẫn chảy thượt và lúc này đang run run. Trong cái miệng tối ánh lên những chiếc răng thép. Maria vội chạy đến bên chồng và cả hai sợ hãi đứng nép vào tường.
- Hắn, hắn đấy… Paven Đêmiđôp! – Maria kêu kên. – Ông ở đâu đến thế?
- Tôi biết, tôi nhìn thấy… - Maksêep nói ấp úng như đứa trẻ. Đôi mắt hắn đảo đi đảo lại một cách sợ sệt.
- Từ thế giới bên kia. – Đêmiđôp cười nhạt.
- Em đã nói là thế nào hắn cũng mò đến mà.
Có mùi vải cháy. Đêmiđôp, súng vẫn đeo sau lưng, đi đến gần bàn, nhấc chiếc bàn là lên.
- Cô làm hỏng cái áo đẹp quá, - ông nói giọng bình thản, không hề tiếc rẻ. Sau đó ngồi xuống chiếc ghế đẩu cạnh bàn, tháo súng đặt giữa hai chân.
- Nghe đây, Maria, nghe xem hắn đã vay của tôi cái gì, và tôi phải đòi hắn món nợ gì. Tôi sẽ kể hết, còn cô hãy nhớ lấy, Maria ạ.
Rồi chậm rãi, không vội vã, ông kể lại đầu đuôi cho chúng nghe, như đã kể cho ông AgaFônôp cách đây không lâu, giọng ông không hề có vẻ độc ác. Ông kể như kể với người khác, còn chúng thì đứng nép sát vào nhau không dám nhúc nhích, không dám ngắt lời ông. Mặt Maksêep mỗi lúc một ướt đẫm, mồ hôi bắt đầu chảy thành giọt.
- Bây giờ quãng đời còn lại của tao chẳng có tích sự gì, tao cũng chẳng thiết tha gì nó, - Đêmiđôp bắt đầu kết thúc. – Nhưng tao sẽ sang thế giới bên kia chậm hơn mày một chút, Maksêep ạ. Nghĩa là trước hết tao phải thanh toán với mày sòng phẳng đã. Tao đã có hàng trăm dịp để thanh toán với mày. Từ lâu rồi – Biết bao lần mày đi bộ hay đi xe vào rừng, tao đều bí mật đi theo mày, rình mày như rình một con vật. Như hôm nay chẳng hạn, từ sáng sớm tao đã ngồi xem mày câu cá. Hay như lúc này có gì có thể ngăn tao tính nợ với mày? Viên đạn cho mày tao đã chuẩn bị từ lâu rồi. – Đêmiđôp vỗ vỗ vào khẩu súng. – Nhưng chú mày ạ, tao muốn xem chú mày sẽ chuẩn bị đón cái chết như thế nào. Vậy thì hãy chuẩn bị đi. Tao sẽ không đập mày như mày đã làm với tao đâu. Tao sẽ chờ cơ hội gặp mày ở chỗ thuận tiện, trong rừng, hay trên cánh đồng, là tao cho mày phát đạn, thế thôi.
Nói đoạn, ông đứng dậy đàng hoàng bước ra cửa.
- Nói láo… Mày không dám! – Maksêep không nén nổi uất ức thốt lên, đưa tay vuốt mồ hôi mặt.
- Tao đã nói, và mày đã nghe thấy rồi đấy. – Đêmiđôp vẫn thản nhiên nói vì biết rằng Maksêep sẽ nhớ lời ông. – Chính mày đã chọn cho mày số kiếp như thế.
Rồi không nhìn chúng nữa, ông bước thẳng ra ngoài.

_________________
Anh ơi đợi em về!
Đợi em về, anh nhé!
Mưa có rơi dầm dề
Ngày có buồn lê thê
Thì anh ơi cứ đợi!
Trở về đầu trang
Marutxiadihoc is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Tới website của người gửi
[ IP : Logged ]
Xem các bài viết từ:   
Chủ đề phía trước :: Chủ đề kế tiếp

Gửi bài mới   Trả lời cho chủ đề   printer-friendly view    NuocNga.Net -> Văn học Nga Thời gian: [GMT + 7 Giờ]
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển nhanh tới:  
Bạn không thể gửi chủ đề mới
Bạn không thể trả lời các chủ đề
Bạn không thể sửa đổi bài viết của mình
Bạn không thể xoá bài viết của mình
Bạn không thể tham gia các bình chọn
You cannot attach files in this forum
You cannot download files in this forum

Designed by TekCIZ Co., Ltd
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group