| Chủ đề phía trước :: Chủ đề kế tiếp |
| Tác giả |
Nội dung bài viết |
Phanhoamay Trứng cá hồi - Икра лососёвая

Tham gia từ: 16 Aug 2005 Bài viết: 757 Đến từ: Hà nội
|
Gửi: 22-Mar-2006 2:01 pm Tiêu đề: Cho những người xa Hà nội (tiếp)
|
|
|
Đường Thanh niên, hướng nhìn sang hồ Trúc Bạch:
Chỉ còn anh và em, cùng tình yêu ở lại...  _________________
 |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
NguyenAnh Trứng cá hồi - Икра лососёвая

Tuổi: 71 Tham gia từ: 07 Aug 2005 Bài viết: 1325 Đến từ: TP Hồ Chí Minh
|
Gửi: 22-Mar-2006 2:57 pm Tiêu đề: Re: Cho những người xa Hà nội (tiếp)
|
|
|
| Phanhoamay viết: |
Đường Thanh niên, hướng nhìn sang hồ Trúc Bạch:
Chỉ còn anh và em, cùng tình yêu ở lại...  |
Chí ít thì cũng còn ông phó nháy trộm nữa  _________________ Nguyên Anh & blog mới tại vnweblogs.com
 |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
hungmgmi Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tham gia từ: 20 Jun 2005 Bài viết: 2757 Đến từ: hanoi
|
Gửi: 22-Mar-2006 3:03 pm Tiêu đề: Re: Cho những người xa Hà nội (tiếp)
|
|
|
Bác Phan pa pá ra zì
Xin bác pót tiếp cái gì phía sau? _________________ hungmgmi@nuocnga.net |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
FORYTCHIA Trứng cá hồi - Икра лососёвая

Tham gia từ: 12 Dec 2005 Bài viết: 939 Đến từ: Hochiminh city.
|
Gửi: 28-Mar-2006 9:33 am Tiêu đề: Re: Cho những người xa Hà nội (tiếp)
|
|
|
Cảm ơn bạn Ngày mai cho em và bạn RBD nhiều nhiều!
Tôi góp chút xíu vào mạch bài này bằng một bài tôi đọc trên Net của người xa xứ gửi nỗi lòng mình khi nói về Hà Nội.
Giữa mùa đông Hà Nội
10:38' 31/12/2005 (GMT+7)
Bài và ảnh: CÚC DẠI
Một góc Hồ Gươm
"Mùa Đông thường là mùa nhớ nhà..., có phải vì cái lạnh bên ngoài cứ làm cho con tim mình cũng giá lạnh theo và mình càng cần hơn... một thứ gì đó từ quê nhà để trái tim được sưởi ấm!?" - "Về Việt Nam mình, nhìn từ bụi cây tới cọng cỏ cũng thấy thương làm sao...". Một đứa bạn đang sống ở trời Tây gửi e-mail về và í ới tái bút: - “Ta rất rất nhớ quê mình mà chưa về VN được, nên mi có dịp ra Hà nội phải miêu tả tỉ mỉ về người và đất Hà nội mùa đông, nhớ chụp ảnh nhiều nhiều và gửi qua, để ta đỡ “ghiền” nhé!”.
Vốn là một kẻ “nắng không ưa, mưa không chịu, ngại gió, kỵ mù sương” nên những ngày đầu tháng 12 này ra Hà Nội tôi rất sợ… lạnh. Thế nhưng, “Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa”, cái rét đầu đông… vẫn còn nhẹ lắm, trời chỉ se se lạnh và vương vương chút sương mù buổi sớm... Tôi đã được đọc một bài viết về sự “thèm quê hương” da diết sâu sắc của một ông Việt kiều già nên rất đồng cảm với yêu cầu của nhỏ bạn đang héo hắt nhớ quê và tôi tự nguyện trở thành một lữ khách lãng du thích đi lang thang giữa mùa đông Hà Nội.
CÂY & LÁ
Sinh viên Đại học Mỹ thuật ở bãi Tre sông Hồng
Dường như ở Hà Nội, con đường nào cũng rợp bóng cây. Những hàng sấu lá xanh mướt. Những hàng cây sữa giấu biệt mùi hương thơm nồng của mình đi đẩu đi đâu từ mùa thu. Những cây bàng lá bắt đầu chuyển màu, một chút sắc đỏ, sắc vàng, sắc cam rắc rơi trên vòm cây xanh lục làm cho không gian mùa đông chợt vui mắt và ấm áp, mặc dù trên cao mây và trời cứ đùng đục chứ không còn mây trắng trời cao xanh thăm thẳm như vào mùa thu.
Tôi còn nhận ra, ngoài giống cây bàng thay sắc lá vào mùa đông, còn có một lọai cây khác cũng đang âm thầm thay màu áo mới. Lá nó cũng đang chuyển sang gam màu ấm nóng… Thấy tôi có vẻ thích thú, một người bạn già “gốc” Hà Nội bảo đó là cây hoa ban trắng. Thế nhưng khi tôi chỉ cho một cô bạn nhỏ (là dân Ninh Bình ra Thủ Đô học Đại học và ở lại đây được 8 năm) thì cô ấy khẳng định đó là cây hoa bằng lăng. Bằng lăng hay ban trắng nhỉ? Sao chẳng có cây nào chịu nở sót một bông hoa vào thời điểm thay sắc lá này để khẳng định tên của mình, nên tôi cứ băn khoăn không biết tin ai. Thôi thì ban trắng hay bằng lăng đều cùng họ nhà mộc và cùng làm đẹp phố phường Hà Nội. Cô bạn nhỏ còn giới thiệu cho tôi biết ở Hà Nội còn có một loài cây có tên là cây hoa xưa. Cô nhấn mạnh “hoa xưa chứ không phải hoa sữa”. Cô tả: "Hoa xưa nở vào mùa Xuân, cánh hoa xưa bé xíu, rất mong manh và có màu trắng muốt khi nở thì nở thành từng chùm như một đám mây bé xíu". Đó là loại hoa mà cô đặc biệt ưa thích. Còn tôi, tuy mới nghe tên lần đầu nhưng cũng rất thích vì cái tên hay hay: hoa xưa - hoa của ngày xưa - nó gợi nên sự lưu luyến của một thời đã qua, tuy xa rồi nhưng vẫn phảng phất một làn hương gần gũi…
QUANH HỒ GƯƠM
Nhóm sinh viên năm thứ nhất Khoa Sử, Đại học Sư phạm
Buổi sáng, tôi xách máy ảnh lang thang trên bờ Hồ Gươm. Màu nước Hồ xanh tựa màu rong rêu, những nhành liễu non tơ rủ phất phơ trong gió nhẹ và in bóng xuống mặt nước phẳng lặng. Phong cảnh thật nên thơ. Những người đàn ông đứng tuổi đang ngồi ghế đá ung dung đọc báo, hoặc cùng nhau bàn luận sự đời. Những cô cậu thanh niên xúm xít bên nhau. Rồi khách du phương xa tản bộ quanh hồ… Tất cả thật bình yên và hiền hòa.
Tôi làm quen với hai anh chị trung niên khá đẹp đôi đang ngắm nhau qua ống kính máy ảnh. Anh chị cho biết hai người là dân Sài Gòn, một doanh nghiệp tư nhân chuyên thiết kế thời trang. Anh chị ra Hà nội để chào mẫu hàng thời trang mùa Hè và nhân dịp thực hiện một chuyến du lịch dài ngày nhằm thư giản đầu óc sau những ngày làm việc căng thẳng. Anh chị rất vui và cười thật tươi khi tôi giơ máy ảnh lên bấm. Hai người phụ nữ trung niên đang ngồi gần đó là Việt kiều Pháp, họ về nước để thăm thân nhân và kết hợp du lịch. Họ cho biết rất hài lòng khi đi theo tour lẽ của Saigon tourist, ngày mai họ sẽ đi Sapa, sau đó là Hạ Long... Trên một chiếc ghế đá ngang Bưu điện, một ông khách nước ngoài đang ngồi hí hoái viết thư, có lẽ anh ta đang kể chuyện Hà Nội cho người thân của mình bên trời Tây (như là tôi bây giờ chăng?!)
Tôi cười chào một chị phụ nữ cũng đeo máy ảnh như tôi (nhưng chị ấy có thêm cái bảng tên nhỏ trên ngực). Đó là một tổ viên trong tổ thợ chụp ảnh khu vực Hồ Gươm. Chị cho biết chị chụp cho khách khoảng 15 phút là có hình, giá 6.000 đồng mỗi kiểu, khách chỉ cần đặt trước một ít tiền, khi nào đến lấy hình thì trả nốt. Tổ thợ chụp ảnh của chị có 60 thành viên và họ không muốn bổ sung quân số vì du khách tuy ngày càng nhiều hơn, nhưng phần đông du khách đếu mang theo máy chụp ảnh. Quay sang một bà cụ đang đẩy xe nôi, chị giơ tay về phía đứa bé: “Hôm nào hai bà cháu cũng đi dạo bờ hồ nhỉ. Nào, cho bác bế một cái lấy hên đi, từ sáng đến giờ bác chưa có khách mở hàng đấy!”. Tôi chợt nhớ đến chuyến du lịch Hong Kong, lên trên đỉnh đồi Victory, nơi du khách có thể đứng chụp ảnh kỷ niệm để thấy hậu cảnh là những khu nhà cao ốc của Hong Kong. Rất đông du khách phải xếp hàng chờ đến lượt mình được đứng tựa vào lan can để anh thợ ảnh bấm một vài kiểu ảnh bằng máy kỹ thuật số, rồi chờ thêm khoảng 10 - 15 phút nữa để lấy tấm ảnh khổ 15x20 cm được lộng trong một khung giấy với giá tiền tương đương 40.000 đồng Việt Nam mỗi tấm. Tất nhiên, số tiền ấy rất mắc so với Việt Nam, nhưng khi đi du lịch sang nước khác thì ai cũng muốn có ảnh kỷ niệm và ai cũng thoải mái trong những việc chi tiêu vặt vãnh. Giá mà những người thợ ảnh Việt Nam có thể sang Hong Kong hành nghề nhỉ?
Gần đó một đám bạn trẻ đang chụp ảnh cùng nhau với những nét tinh nghịch tuổi học trò. Theo yêu cầu của nhỏ bạn, tôi làm quen với các em. Đấy là Bích Liên, Đại Dương, Thu Ba, Tương Phùng, Tùng , Ngọc Hiền… nhóm sinh viên năm thứ nhất Khoa Sử, Đại học Sư phạm. Các em đến từ nhiều tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang, Nam Định…. Mỗi đứa một quê nhưng lại giống nhau ở chỗ chữ “n” phát âm thành chữ “l”. Ở Hà Nội, tôi nghe rất nhiều người phát âm chữ “n” thành chữ “l” như thế. Tôi trêu: “Ở quê thì có thể “lói” như thế, nhưng bây giờ đã lên Đại học, là sinh viên Thủ đô rồi, phải sửa đi chứ!”. Các em cười chống chế: “Cô giáo cũng có sửa nhưng bọn em cứ hay quên, chị ạ”. Các em ghi cho tôi e.mail liên lạc và cả số máy di động. Sinh viên bây giờ năng động và “cập nhật thông tin” nhanh thật.
NHỮNG GÁNH HÀNG RONG
Sắc màu ấm áp giữa mùa đông Hà Nội
Buổi sáng, phố phường Hà Nội vừa mở mắt vươn vai đã thấy những gánh trái cây, những gánh hoa kẽo kẹt trên vai những người phụ nữ. Các chị rảo bước qua từng con đường, từng ngỏ nhỏ, làm cho những khu phố bừng lên sắc màu ấm áp. Màu đỏ của những mẹt dâu tươi và mận chín, màu vàng cam của giống cam xứ Thanh, màu xanh tươi của táo, màu tím rịm của nho… Rồi những mảng trắng - đỏ - hồng - cam - tím - vàng của những gánh hoa cứ tưng bừng khoe sắc.
Chính những gánh hàng rong như thế đã vẽ nên một bức tranh Hà Nội sinh động và nhiều sắc màu ấm áp giữa những ngày lập đông. Chỉ có ở Hà Nội mới có những gánh hàng hoa như thế và còn có cả những chiếc xe đạp thồ chở đầy hoa phía sau. Hoa thật tươi, giá thật mềm. Thế nên cửa hàng nào cũng chưng một bình hoa tươi lung linh làm mát mắt khách đến. Có một loại hoa hồng nụ nhỏ nhưng rất đẹp và có nhiều màu tên là hồng tỉ muội, giá một chục chỉ khoảng 4.000 đồng. Tôi băn khoăn: người trồng hoa sẽ bán với giá bao nhiêu nhỉ, có lẽ chỉ có 2 -3 ngàn đồng một chục. Quá rẻ! Thế thì trừ tiền phân bón, công vun xới chăm sóc, nhà vườn còn lời lãi được bao nhiêu, có lẽ họ chỉ lấy công làm lời.
Ở Hà Nội, có rất nhiều cửa hàng hoa tươi trên những con phố lớn. Ở đấy bày khá nhiều bó hoa đã được kết sẵn, thật xum xuê. Nhìn vào bó hoa đã thấy “hoành tráng” và rất màu mè, kiểu cách - bởi các lớp giấy dún được xếp gấp một cách công phu. Nhưng nhìn vào bó hoa tôi có cảm giác “giả nhiều hơn thật”. Thế nhưng giá cả phải từ 1 đến 2 trăm nghìn đồng/bó. Chắc chắn những bó hoa này chỉ có dân thượng lưu sành điệu mới mua. Cuộc sống ngày càng đi lên thì nhu cầu làm đẹp làm sang cũng lên theo.
Tôi cứ thắc mắc: hoa tươi cung cấp cho Hà Nội được trồng ở đâu trong khi đất đai cho hoa cứ bị những công trình xây dựng dân dụng lấn chiếm? Hương - chủ một cửa hàng hoa trên phố Huế bảo: Hoa của cửa hàng em lấy từ đại lý của công ty Hasfarm - Đà Lạt. Em cũng không biết đất trồng hoa của Hà Nội bây giờ chính xác ở đâu. Chỉ biết là chợ Quảng Bá là chợ hoa đầu mối.
Chúng tôi đã tìm đến chợ hoa Quảng Bá lúc hơn 9 giờ sáng. Chợ Quảng Bá họp chợ bán hoa từ lúc 2 giờ khuya đến 6 giờ sáng. Giờ này những xe tải chở hoa bán sỉ từ những khu vườn trồng hoa ở các tỉnh giáp Hà Nội đã về hết rồi, chỉ còn những người ngồi bán lẻ và các xe đạp thồ chở hoa đang nấn ná chờ trưa. Một chị đang chăm sóc “xe hoa” của mình lên tiếng mời chúng tôi: "Cô mua mở hàng dùm tôi đi". Tôi mua 2 bó hồng tỉ muội, mỗi bó có gần 20 cành mà chỉ có 6.000 đồng. Tôi thấy trong một số quán ăn sang trọng ở Hà Nội có chưng một lọai hoa lạ mà ở Sài Gòn không có, đó là hoa chuối rừng, màu đỏ thật rực rỡ - như trong câu thơ “rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”, chắc là chúng được lấy từ rừng Việt Bắc về chăng? Tôi hỏi chị: "Bao nhiêu một cây hoa chuối?". Chị bảo: "15 ngàn đồng, nếu mua nhiều thì sẽ bớt giá". - "Sao trưa rồi mà chị chưa đạp xe đi bán?". Chị bảo: "Buổi sáng công an không cho các xe đạp bán hoa rong qua các nẻo đường vì sợ bị tắt đường". Chị cho biết chị tên Tĩnh, chồng chị tên Xuyên. Hai vợ chồng chị từ Bắc Giang lên Hà Nội lập nghiệp với 2 chiếc xe đạp như thế. Vốn liếng mỗi “xe hoa” khoảng hơn 100.000 đồng, mỗi ngày kiếm lời được khoảng 30 ngàn. Vợ chồng chị thuê phòng ở trọ cùng một đôi vợ chồng khác, giá thuê hàng tháng chị phải trả là 300.000 đồng. Chiếm khỏang 1/6 “thu nhập” của vợ chồng chị.
Nụ cười của cô gái bán đồng nát
Tôi chợt nhớ lại, ở trên phố buổi sáng tôi đã gặp một cô gái rất trẻ cũng quảy đôi quang gánh mà không có hoa quả gì. Tôi đã hỏi “Em bán gì thế, bán hết rồi à”? Em cười bảo: "Em bán đồng nát". Nụ cười thật tinh khôi nhưng ánh mắt em đượm vẻ u buồn. Em tên Nguyễn Thị Hà, bố mẹ làm ruộng ở xã Xuân Phú, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Do gia đình nghèo, em chỉ học đến lớp 8. Hai năm nay, hai mẹ con em lên Hà Nội thuê phòng ở trọ tại phường Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm, với giá 100.000 đồng/người. Cả ngày, hai mẹ con rảo bước khắp Hà Nội cùng những người “đồng nghiệp” buôn đồng nát và kiếm lời vài mươi ngàn. "Em có mơ ước mình sẽ tìm được một công việc nào khác để thay đổi cuộc sống hiện tại không? - tôi buộc miệng hỏi một câu và tự thấy mình thật ngớ ngẩn. Em lại cười với vẻ cam phận: “Có chứ chị, nhưng em cũng chẳng biết phải bắt đầu từ đâu và bằng cách nào”. Tôi mua tặng em một quyển lịch và chúc em có điều kiện thực hiện được những mơ ước của mình.
Vâng! Thủ đô Hà Nội vẫn còn một đội quân buôn bán rong như thế.
HOA ĐÀO VEN BÃI SÔNG HỒNG
Hà Nội có làng đào Nhật Tân, Nghi Tàm nhưng bây giờ đất dành cho những vườn hoa đào ngày càng thu hẹp vì đất đã được quy hoạch thành khu đô thị. Cô bạn trẻ ở Hà Nội đã nhiệt tình chạy xe len lõi trong những ngỏ nhỏ để đưa tôi đến bãi sông Hồng thuộc phường Phú Thượng, quận Tây Hồ để tôi được “làm quen” với những nhà vườn có những vườn hoa màu vươn dài ra sát mép nước sông Hồng. Vườn hoa màu ở đây chỉ là những mảnh đất nho nhỏ, được đo đạc theo mét ngang chứ không tính theo mét tới. Nhưng ở đây, mọi người vẫn cố níu giữ một làng nghề truyền thống, đó là nghề trồng hoa đào.
Chúng tôi hỏi thăm một bác chủ vườn đang lui cui bên một cây đào sum xuê. Đó là bác Vũ Văn Nga, người nông dân 64 tuổi sinh quán tại làng Phú Thượng này. Ông cho biết ông đang tuốt lá đào chuẩn bị cho nó trổ hoa đúng vào dịp Tết. Và ông diễn giải: “Tùy theo giống đào mà nhà vườn phải tuốt lá sớm hay muộn. Với loại đào dài ngày như là đào phai thì tuốt trước Tết 60 ngày; với các loại đào lá xoăn, hoặc đào hạt… thì tuốt lá sớm nhất là cách Tết 50 ngày, 45 ngày. Và cũng tùy theo thực tế của “mắt” từng cây đào…”. Ông cầm một nhánh cây đào vừa tuốt hết lá và chỉ cho chúng tôi xem những chùm 4 mắt hoa, hay 3 mắt hoa và bảo “Tùy theo mắt lá mà có thể giữ nguyên đợi đến Tết, hoặc có thể tích cực tưới nước và bón thúc phân cho nó. Nếu “lở” (nở) lộc cách nhau 3-4 ngày thì có khi phải nhặt bớt hoa già đi để giữ cho cây đào đẹp… Nhưng tất cả còn phụ thuộc vào thời tiết, do rét sớm hay muộn, mưa nhiều hay ít mà hoa sẽ nở đúng hay trễ hẹn, màu hoa thắm hay không thắm... “
Tùy theo giống đào mà nhà vườn phải tuốt lá sớm hay muộn.
Tôi hỏi: “Tết thì mình bứng các cây đào này vào chậu đem bán hả bác? Năm nay chắc là đào sẽ có giá nhỉ? Năm ngoái thu nhập từ khu vườn đào của bác có khá không ạ?”. – “Nếu là đào cây, mình “đánh vừng” cách gốc 50 phân rồi cho cả bộ rễ có đất vào trong chậu. Nếu là đào tán (đào cắt gốc - một năm thu hoạch một lần), mình cắt ngang “chốt” đi bán (chốt là phần thân cây đào được mọc lại sau khi đã cắt ngang gốc thu hoạch từ năm trước). Khu vườn của tôi, tầm Tết năm ngoái thu được khoảng 10 triệu đồng. Giá đào năm nay chắc cũng không cao đâu. Làm đào nhàn hơn các nghề nông nghiệp khác. Mỗi mùa thì chỉ 2 lần tưới phân, 2 lần phun thuốc.. Nhưng nghề này quyết định của mình chỉ có 30%, còn 70% phụ thuộc vào thời tiết. Nhiệt độ khoảng 17 đến 22 độ và có mưa xuân lấm tấm là hoa đào đẹp nhất, hoa rất tươi và sắc rất thắm... Nhìn hoa là thấy nao lòng".
Từ lâu, hoa đào không còn là “đặc sản ngày Tết” của riêng miền Bắc, mà những ngày Tết ở đất phương Nam, rất nhiều gia đình vẫn chưng hoa đào. Những ngày giáp Tết, khắp các chợ Hoa và một số góc phố Sài Gòn, hoa đào vẫn được bày bán khắp nơi, được rao bán với giá tương đối mềm, tất nhiên cánh hoa không thể thắm tươi bằng, dáng hoa không thể đẹp bằng so với hoa đào ngày Tết miền Bắc được.
Những ngày đầu đông ở Hà Nội còn có biết bao điều để nói, để kể… cho nhỏ bạn bên kia trời Tây của tôi đỡ nhớ quê nhà. Nhưng tôi đang bận "mơ" đến những cánh hoa đào màu hồng thắm nổi bật giữa những nhánh lá mong manh màu xanh non tơ. Hai sắc màu hồng thắm và xanh nõn ấy sẽ hòa quyện và tôn nhau lên trong không gian ngan ngát trầm hương của những ngày Xuân mới. Thật đẹp biết bao! Ấm áp và hạnh phúc biết bao!
Xin được gửi một lời chúc an lành trong sắc đào hồng thắm rất nao lòng ấy cho những người đang xa quê...
http://www.nguoivienxu.vietnamnet.vn/quenhanoinho/2005/12/527974/
TRỞ VỀ VÀ NHÌN LẠI
Bài 1: Tôi và cuộc sống ở một nơi nào khác
08:08' 25/03/2006 (GMT+7)
NGUYỄN VĂN LỤC (USA)
Nối khúc ruột máu mủ, đó là những gì tôi cầu mong tìm lại được sau 30 năm xa rời quê hương. Ước mong đó đã được thực hiện. Nhưng tôi lại “rơi” vào một trạng thái khác: lạc lõng và xoay mòng trong một “thế giới” mà tôi thấy mình như từ “trên trời rơi xuống”. Cái “thế giới” ấy là quê hương tôi với tất cả những đổi thay mà tôi không hề hình dung được sau hành trình 30 năm xa cách.
Đặt chân đến Sài Gòn, tôi chỉ có một ý nghĩ là về: về với gia đình. Nhìn lại anh chị em mình còn ở lại. Gặp lại con cháu mình mà từ hơn 30 năm chưa gặp mặt. Đứa chưa gặp thì lạ hoắc. Nhìn nhau mà ngỡ ngàng, mà cười. Tất cả là hơn 60 đứa cháu lớn nhỏ. Tiền lì xì trong dịp Tết phải có danh sách lần lượt mỗi nhà. Vui ơi là vui. Nhiều đứa đã lớn cái đầu, đã có dâu rể còn tỵ nạnh, mè nheo đòi cậu, đòi ông trẻ cho thêm. Thì cũng cho. Đứa gặp lúc thuở nhỏ thì nay cũng đã đứng tuổi hoặc chập chững bước vào tuổi già. Mừng vui lẫn lộn, cười chảy nước mắt. Lúc ra đi, cả một bầy vẫy tay la hét. Cứ nhốn nháo cả lên. Ra đi mà lòng không đặng. Nhưng cuối cùng, điều mà tôi đã làm được là nối lại khúc ruột mà nhiều năm nay đứt đoạn.
Phần tôi chỉ mới nối được khúc ruột máu mủ!
Phần còn lại, Việt Nam còn nhiều “khúc ruột” đứt như thế lắm. Cần phải nối. Trước mặt là “khúc ruột” 75 của 3 triệu người di tản. Bài học thống nhất nước Đức chẳng dạy được chúng ta điều gì, cũng chẳng rút ra được bài học gì. Vì thế mà thống nhất đất nước thì đã xong từ lâu, nhưng thống nhất lòng người thì vẫn còn nhiều chuyện phải làm. Hơn 30 năm rồi. Hận oán vẫn chưa nguội. Và qua chuyến về này, tôi cũng thấy là chưa phải lúc, hay làm mà chưa tới!
Tôi chỉ thấy an bình khi về nhà. Ra khỏi bầu không khí đó tôi có cảm tưởng cuộc sống ở đây như thể một cuộc sống ở nơi nào khác. Cái gì cũng chổn rổn, lạ lẫm và không quen thuộc.
Vòng quay của thời gian và cuộc sống
Ở nơi đây, nơi mà tôi đã lớn lên, đã trưởng thành, tôi có thể đong đếm mỗi năm cuộc đời bằng thời gian ngày, tháng, năm. Bằng thứ hai, thứ ba và thứ bảy, chủ nhật. Có thứ bảy cuối tuần, có lúc hẹn hò, có lúc dong chơi cuộc đời. Có ngày làm, ngày nghỉ như hai nhịp bước chân, có nhịp đi thì có nhịp nghỉ. Tôi đã mất một cảm giác về thời gian như thế.
Thời gian bây giờ là thời gian liên tục, triền miên đến không còn ý niệm thời gian nữa. Việt Nam, đất nước tôi, Sài Gòn, Hà Nội. Thời gian lúc nào cũng là lúc không giờ. Thời gian chuyển động triền miên cũng có nghĩa thời gian lúc nào cũng chỉ là không giờ. Nó xoay chuyển liên tục, chóng mặt như một vòng xoáy, như một cơn lốc, như một cơn mê. Nó không có lúc nào bắt đầu nên cũng không có lúc nào dứt điểm.
Người ta làm việc liên tục, như thể không biết mệt. Ai không làm thì ăn uống suốt từ sáng đến đêm. Lúc nào cũng là ăn, lúc nào cũng là uống và như thể không có công việc gì khác ngoài chuyện ăn uống. Sáng trưa chiều tối. Đêm là ngày, ngày là đêm. Thứ hai, thứ sáu, thứ bảy, chủ nhật. Lúc nào là nghỉ, lúc nào là làm! Xe cộ như mắc cửi như thể không ai làm việc gì, ngoài việc phóng xe ngoài đường!
Tiếng động triền miên
Ai mới đặt chân đến Sài Gòn là bị tiếng động tra tấn. Đó là một cảm giác có thật. Tiếng động của đủ mọi loại xe, tiếng bóp còi inh ỏi. Mà không có tiếng động thì không còn là Hà Nội, Sài Gòn nữa! Đó là chu kỳ tần số âm thanh như những đợt sóng bất tận đập vào màng nhĩ. Tôi chỉ thực sự nhận ra Sài Gòn ngưng nghỉ có một lần. Đó là lúc 5 - 6 giờ chiều 30 tết. Nhưng chỉ độ 9 giờ tối, “nó” lại rơi vào cơn mê điên cuồng của tiếng động.
Rồi trong cơn mê điên cuồng ấy, con người đánh mất bản thân mình, không còn là mình. Đó là cuộc vong thân trong tiếng động. Con người không có thì giờ để nghĩ, để yêu thương, để nhìn lại mình. Mất hẳn cuộc sống riêng tư một mình. Tiếng động len lỏi vào bất cứ ngõ hẻm nào, bất cứ chỗ nào có thể gọi là đường. Cứ chỗ nào không có nhà thì chỗ đó là đường đi, xe cộ chen chúc, lách mà đi và chỗ đó sẽ có tiếng động. Tiếng động trấn áp tất cả. Đến gà không thể gáy, chó không thể sủa. Hết rồi tiếng chim hót trên cành. Còn ngay ở Hà Nội, đường phố còn khá nhiều cây xanh mà tôi cứ tấm tắc khen mãi, nơi ít ra cũng còn có mảng da trời, ít ra còn có cây xanh hai bên đường phố. Ít ra Hà Nội còn mang vóc dáng con người. Vậy mà tôi cũng chưa hề nghe tiếng hát của loài chim, dù là chim sẻ.
Cuộc sống trí tuệ và tình cảm con người đã bị khô chồi và tàn lụi vì tiếng động. Tiếng động làm rối loạn các cơ năng thần kinh não bộ. Người ta không thể tập trung tư tưởng được, không thể học được, không thể nhớ được, nói chi có thể sáng tạo được. Chẳng thế mà người ta đã xếp tiếng ồn vào một trong những tác nhân gây ô nhiễm môi trường. Và rồi trong cơn mê điên cuồng của tiếng động, tiềm lực của bản năng bị đánh thức với những động lực vô thức, bản năng sinh tồn. Tất cả cơ chế vận hành của con người sẽ chỉ là những bản năng tự tồn. Thật nguy hiểm khi con người sẽ như những bộ máy biết đi, biết ăn, biết ngủ, biết làm, biết kiếm tiền,... Trẻ con thì hùng hục đi học từ sáng tới tối, tới đêm. Bừng con mắt dậy là học. Học như nhét, như nhồi. Học như tống vào đầu mà đầu óc như một kho chứa. Rồi trí óc sẽ trì độn. Người lớn thì làm, ăn, ngủ nghỉ theo sự vận hành, điều chỉnh, thúc đẩy của các “then máy” tự động của đời sống. Cuộc sống cứ thế trôi đi triền miên. Người ta tưởng là làm, nhưng thật ra chỉ là những vận hành cử động của một guồng máy xã hội đẩy người ta đi.
Một đất nước mà tôi xa lạ đến không hiểu được như cuộc sống ở một nơi nào khác. Đó là cái cảm tưởng mà tôi cần phải nhắc lại. Tôi như bị vất vào một tinh cầu nào đó, một cái gì đó mà tôi chưa rõ mặt. Tôi chưa thể hội nhập vào cái dòng chảy sự sống với tiếng động đêm ngày, với tốc độ, với thời gian vô tận. Xin từ từ để tôi còn có thể nhận ra quê hương mình. Bài viết này, không phải để nói xấu quê hương mình, nhưng muốn bày tỏ những điều tôi đã nghe, đã thấy và đã cảm nghiệm như thế nào với tư cách một người Việt.
Bài 2: Hà Nội - Một phần đời tôi ở đó
TRỞ VỀ VÀ NHÌN LẠI
Bài 2: Hà Nội - Một phần đời tôi ở đó
08:15' 26/03/2006 (GMT+7)
NGUYỄN VĂN LỤC (USA)
Trở về. Tôi đã ra Hà Nội và tôi đã thấy gì? Thăm Hà Nội là để tìm lại một phần đời mình, một chút kỷ niệm, một chút mảnh đời tuổi trẻ.
Tuổi thơ tôi ở đó...
Tôi còn nhớ trước đây vào những buổi sáng tinh mơ, mặt nước hồ Tây (hay còn gọi là Dâm Đàm, có nghĩa là đồng sương mù còn mờ hơi sương) một màn sương la đà mặt đất, phủ nhẹ trên các lá cây một lớp bụi trắng đọng lại thành từng giọt nước. Phải lâu lắm, ánh sáng mặt trời mới làm tan lớp sương mỏng. Trên cao, một đàn chim sâm cầm lượn đi ăn sáng, chân duỗi thẳng ra đằng sau, thân mình nhọn dài, đâm chéo lên chân trời như trong một bức tranh.
Tôi lúc ấy còn là một cậu bé co ro trong chiếc áo len nhiều màu chặt đến muốn nứt ra, chân đất chân không tới trường. Hà Nội của tôi thế đấy, nghèo mà thân thương. Nhớ từng bụi cỏ, những buổi tối đi bắt ve sầu để xem nó nở vào lúc nửa khuya, để xem một cuộc hóa thân diệu ảo; đến những ngày dông gió lớn, rét căm chạy ra đường buổi tối lúi húi nhặt sấu, ăn cho đỡ đói; đến những buổi trưa ra gốc cây bàng, nhặt quả khô rồi lấy đá đập ăn cái nhân bùi ở trong. Những buổi trưa leo lên gác chuông nhà thờ bắt chim sẻ; những ngày làm lấy lưỡi câu, ra hồ Tây câu cá. Những ngày lang thang đi quanh co trại lính Tây để may ra nhặt được mẩu thuốc lá Philipp Moris, hay một bao thuốc lá không thì mừng vô tả. Những lúc nhặt được một nút chai La bière Ô Mền, rồi ra đường tầu điện để cán thành những đồng xèng. Những lúc ấy, cái gì cũng thèm, cái gì cũng đẹp, cái gì cũng thích, cái gì cũng nhớ! Đẹp ngay cả trong những khốn khổ lầm than, đói rét. Thương ngay cả những cái nghèo tồi tàn đến tội nghiệp. Nhìn ai ăn cái gì cũng thèm, nước dãi chảy ra. Cái gì cũng gần gũi thân thương. Từ tiếng ve sầu inh ỏi lúc trưa hè, tiếng rao phá xa của một ông Tàu già, tiếng tục tắc, tiếng leng keng của đường tàu điện...
Cảnh đó không còn nữa. Kỷ niệm đó cũng không còn nữa.
Con đường Cổ Ngư, phía tay mặt, nay dựng lên những quán ăn che mất mặt hồ. Tầm nhìn thu hẹp lại, chỉ còn ngửi thấy mùi thịt nướng từ quán ăn xông ra. Phía cuối đường là chùa Trấn Quốc nay bị những khối bê tông chắn hết tầm nhìn. Bờ hồ Hoàn Kiếm thì nay sừng sững một tòa nhà lớn của công ty Bưu điện. Bệnh xây cất tùy tiện là thứ bệnh dịch lan tràn khắp nơi.
Tôi cứ tự hỏi tại sao làm như thế. Mà hình như mọi người ở đây thấy chuyện đó là bình thường, thấy tự nhiên và không có gì để nói. Nhưng chính vì thế, người dân và chính quyền phải có con mắt, phải có sự thức tỉnh để nhìn ra được cái điều bình thường, chính là bất bình thường. Ngồi tiệm ăn vứt bừa bãi giấy chùi tay không là bình thường mà là bất bình thường. Bài toán giải trừ nếp sống văn hóa chưa lành mạnh của người Việt là nhận ra cái bất bình thường trong cái bình thường. Cái quá quen thuộc, chính là cái cần sửa đổi.
Phần tôi, tôi thấy không bình thường và khó chịu. Như thế thì tôi có còn là người Việt nữa không để sống và ứng xử như những người xung quanh tôi. Hay tôi là người ở đâu đến, từ một hành tinh lạ mà đến? Không, tôi từ đây mà ra đi và nay trở lại cội nguồn của tôi. Nhưng tôi đã thấy nó không còn như trước nữa, ngay cả những dấu hiệu thay đổi, phát triển cũng đầy những bất cập, bất thường, xuống cấp. Nó không cho tôi có cảm giác một xã hội có trật tự, có tổ chức.
Hà Nội xưa trong ký ức tôi
Tôi đạp xe xuống phía Giám để về Hà Đông vào thăm dinh Hoàng Cao Khải, nơi mà tôi đã từng học nhiều năm với biết bao kỷ niệm. Gần đấy là gò Đống Đa giống như một cái lúm đất mỗi ngày mỗi thấp đi, bị khuất lấp bởi những nhà xây cất phía trước mặt. Hỏi thăm mãi mới tìm ra được. Lên trên, ở phía tay trái, người ta lại tham lam làm một cái sân chơi với các cây đu cho trẻ con. Sân chơi cho trẻ con là cần lắm, tốt lắm. Nhưng phải làm ở chỗ khác, không được đụng đến di tích lịch sử. Nếu đã đụng như thế thì nên dẹp gò Đống Đa đi cho rồi. Còn gì là di tích lịch sử nữa!
Dinh Hoàng Cao Khải, vào thời trước 54, trước mặt là một cái hồ bán nguyệt, rộng mênh mông nay người ta làm hồ nuôi cá. Giữa hồ là cái bè nổi với các thùng phuy có cái bảng đề “Hồ thả cá. Cấm câu cá, đổ rác”. Cổng vào dinh thì nay trở thành trụ sở tuần tra nhân dân. Dinh Hoàng Cao Khải là nơi có thể biến thành khu di tích lịch sử, nhưng người ta lại chỉ lấy cái lợi nhỏ, cục bộ mà quên cái lợi lớn. Óc tham lam địa phương che mờ cái nghĩa lớn. Buồn thay! Vậy mà đi đến đâu tôi cũng nghe nói đến việc phải bảo tồn văn hóa - cả thành phố Sài Gòn, cứ mỗi cổng vào các phường khóm đều có cái bảng đề “Khu phố văn hóa”. Thế nhưng, công nhân vệ sinh vừa thu dọn rác xong, chưa đi hết dãy phố, đã có người khác mang một túi rác ra để vào chỗ cũ. Cảnh đó ta có thể nhìn thấy xảy ra hằng ngày, ở bất cứ đâu.
Trên đường về, tôi nhớ đến hai toa tàu điện kêu kính keng với cái sào điện trên nóc. Nay đã không còn nữa. Tôi thử tìm hiểu xem đường tàu điện đã được gỡ bỏ từ năm nào. Tôi kiếm được tờ National geographic, nằm ở xó kẹt tủ sách của tôi, số tháng 11.1989, có bức hình xe điện chiếm tràn hai trang báo. Tôi ngắm đi ngắm lại. Dĩ nhiên nó không đẹp và xấu xí hơn thời 1950. Nhưng tàu điện vẫn còn đó, dù không mấy đẹp. Nhưng chỉ cần nó còn đó, xấu và cũ cũng được, sơn quét lại mấy hồi. Lớp vỏ bên hông tàu điện tróc sơn từng mảng, xù xì. Cửa sổ bằng then gỗ cái còn cái mất. Nó chỉ chạy có một toa. Và đằng trước toa, đứng ở bên ngoài, vẫn có một người mặc áo xanh, quần đen, đi dép, đang kéo một sợi dây hay cái gì đó để điều khiển cho tàu điện có thể chạy được. Cái kỷ lục của xe điện thành phố Hà Nội, trong hàng thế kỷ, theo ý nghĩ riêng tư của tôi, có lẽ nó chưa cán chết một người nào, chỉ vì nó đi chậm. Chậm đến độ, tôi có thể nhảy lên lúc nào tôi muốn và xuống bất cứ chỗ nào để khỏi trả vé. Cách nhảy lên cũng cần kỹ thuật lắm, phải chạy nhanh theo hướng xe điện, rồi thuận đà nhảy lên. Xuống cũng vậy, nếu không thì ngã dập mặt. Tôi đếm được tất cả hơn 20 chiếc xe đạp đi ngược đi xuôi chung quanh xe điện, sắp quẹo. Chắc là Ngã Giám. Trong đó chỉ có một xe Honda.
Sau 14 năm thống nhất, qua chiếc tàu điện, Hà Nội vẫn như chưa bừng tỉnh khỏi những gì chiến tranh để lại.
Vậy mà đến hôm nay, sau 16 năm nữa, tôi về lại, Hà Nội đã khác nhiều rồi. Xe máy chiếm trọn vẹn đường phố. Xe đạp hầu như rất hiếm. Nhờ có tôi và một người bạn mà Hà Nội có thêm được hai người đi xe đạp.
Chúng tôi thích thú và vui lại cái hồn nhiên tuổi trẻ. Mỗi lần lạc nhau, đứng chờ, sợ xanh mặt. Tôi cảm thấy mình trẻ ra như một người thanh niên hồi còn xanh tóc. Vui và phơi phới. Hai đứa đạp không biết mệt. Vừa đạp vừa ngó nhìn sợ lạc nhau. Có lẽ đây là những giây phút tôi cảm thấy đẹp nhất khi ở Hà Nội. Nhớ mãi. Sài Gòn thì không thể có những giây phút thư giãn bằng xe đạp được. Mỗi đoạn tôi lại dừng xe hỏi đường.
Hà Nội chỉ có hai nơi có thể hấp dẫn khách du lịch là khu phố cổ và đường tàu điện. Bỏ đường tàu điện là mất một nửa. Tàu điện làm nghẽn tắc lưu thông thì ta làm xe điện ngầm. Lấy nguồn lợi tức từ di tích lịch sử đường tàu điện để bù khuyết vào. Ai đến San Francisco cũng bắt buộc phải đi thăm cầu Golden Gate và đoàn xe điện. Đường có ùn tắc giao thông thì ta giải tỏa. Du lịch là nguồn vốn sẽ thu lại sau.
May mắn là khu phố đối diện nhà thờ cửa Bắc, xưa gọi là thành cổ Hà Nội, Bắc Môn còn giữ lại được vết tích hai vết đạn đại bác của quân đội Pháp bắn vào thành Hà Nội. Dưới đó có ghi: thành cổ Hà Nội, Bắc Môn 25 tháng tư, năm 1882. Bombardet de la citadelle par les cannonières surprise et fanfare.
Tôi cũng thấy thiếu cái thi vị của đất Hà thành mà mỗi buổi sáng tinh mơ, từng đoàn người lũ lượt từ hướng làng Ngọc Hà, phía sau vườn Bách Thảo, làng Nghi Tàm, khu vực cạnh Hồ Tây quang gánh những tinh hoa của trời đất với những bông hồng, bông sen trắng đỏ, những cụm sói bông trắng lá xanh, rồi những cành mai vàng, cụm quất đem vào thành phố. Ngược chiều là những người đi đổ thùng phân đi ra khỏi thành phố.
Hà Nội nay như thiếu vắng một cái gì xác lập nó là Hà Nội. Hàng Đảo chẳng cần lụa nữa và Hàng Bạc nay cũng chẳng cần vàng nữa.
Hà Nội chỉ còn một nét đẹp cố hữu là các hàng cây me, cây sấu bên đường. Có thể nói Hà Nội có nét đẹp xanh. Những buổi trưa nắng gắt. Hà Nội vẫn rợp bóng mát. Hà Nội hãy giữ mãi vẻ đẹp thiên nhiên ấy như thế, nhưng không biết còn được đến bao giờ...
Hà Nội và chả cá Lã Vọng
Như mọi người, tôi đã đến ăn chả cá Lã Vọng.
Ăn chả cá Lã Vọng là ăn cái lịch sử, cái cội nguồn của nó hơn là ăn chính miếng chả cá đó. Ăn để biết được hương vị, cái ngon Hà Nội trăm năm về trước. Và đây là lần đầu tiên tôi ăn chả cá Lã Vọng. Thời tuổi trẻ có muốn ăn cũng không có tiền. Điều đó cho thấy rằng chả cá Lã Vọng thời xa xưa là một món ăn xa xỉ, không phải ai muốn ăn cũng được.
Năm thế hệ gia đình chả cá Lã Vọng đã đi qua, kể từ năm 1871. Cái gì còn lại và cái gì không còn lại trong tiệm chả cá ấy? Người đã thay đổi, nhiều thế hệ người đã đội nón ra đi, nhưng huyết thống vẫn còn đó. Nó giống như tiệm trồng răng Minh Sinh Hà Nội, ở số 172 Hàng Bông, thời năm 1950. Đã hơn nửa thế kỷ mà nó vẫn còn đó. Nay đổi là Sinh Sinh. Tôi đã vui mừng vào tiệm để hỏi gốc gác. Một nha sĩ, con trai của bà vợ hai của ông Minh Sinh, hiện đang đứng làm chủ. Vẫn chuyên khoa răng giả. Nay thì có thể gắn thêm kim cương, nắn chỉnh hàm, vẩu, ngược, lệch lạc... Điều mà thế hệ trước không làm được. Cũng vậy, hiệu thuốc cam Hàng Bạc thời 45 nay vẫn còn đó. Vẫn quảng cáo, đây là đời thứ ba. Thuốc cam chuyên trị trẻ em biếng ăn, biếng ngủ, gầy, xanh xao và hay ra mồ hôi trộm. Vẫn cao dán chữa nhọt mụn như trước. Gần như không có gì thay đổi, không thêm cũng không bớt.
Phần quán chả cá vẫn với căn nhà lụp xụp, cầu thang gỗ hẹp và ọp ẹp là cố ý để như vậy, để câu khách hay chỉ là vô tình. Nhưng nó cho tôi có cảm tưởng là mọi sự vẫn như thế, không có gì thay đổi. Cái tồi tàn, cái dơ bẩn một chút, cái vứt bừa bãi giấy chùi miệng dưới sàn nhà cái nhếch nhác chỗ này chỗ kia, cái bức tường loang lổ không trang trí. Đó là cố ý, muốn giữ như một nét riêng của quán hay là một nếp sống thiếu văn hóa. Có cái gì là cội nguồn cần giữ lại và cái gì cần thay đổi. Cội nguồn có thể trong cách pha nước mắm tô chanh, nhưng nó cũng chỉ cho thấy cái lụp sà lụp sụp. Vẫn địa chỉ ấy, 14 phố Chả cá. Hơn 100 năm đã qua. Ăn xong vội vã ra về, ăn không cầu no. No thì tốn tiền. Cái cảm giác là nó vẫn thế. Vẫn như thế mãi, thách đố với thời gian và mọi sự thay đổi chung quanh. Vẫn căn nhà đó, chỗ ngồi đó, cảnh đó, cá đó, vẫn mắm tôm chanh đó, những bàn, những ghế. Nó chả có gì thay đổi. Chỉ có khác là giá cả lên vùn vụt.
Hà Nội như thế, phải chăng có thể thu gọn trong đĩa chả cá Lã Vọng, trong miếng ngon, miếng bùi đi vào văn học với Nguyễn Tuân, là niềm hy vọng và hãnh diện của hàng trăm năm nay, mặc cho thời thế biến thiên thay đổi. Dù gì thì Hà Nội cũng hãnh diện về hàng Chả cá. Có nhiều nhân vật nổi tiếng thế giới đã từng ghé qua nhà hàng này. Như thế kể là quá đủ cho một chủ tiệm. Vừa làm kinh tế kiếm lời, vừa tác động đến cái nhìn của người ngoại quốc khi viếng thăm VN.
Chỉ có một điều tôi không nhớ là chẳng biết ngoài cửa có đặt tượng ông Lã Vọng, tay sách một cần câu và một xâu cá không. Và cũng không biết xâu cá của ông là xâu cá gì. Vì chả cá Lã Vọng phải chọn một loại cá riêng, gọi là cá Lăng, phải tươi và mua ở các miền biển.
Dù sao sự cầu kỳ, khó tính một chút cũng làm cho món chả cá trở thành món ăn văn hóa, truyền thống của Hà Nội. Hay dở gì cũng phải đến ăn một lần.
N.V.L
Bài 3: Phố và người Hà Nội
07:48' 27/03/2006 (GMT+7)
NGUYỄN VĂN LỤC (USA)
Nếu mường tượng, Hà Nội trong tương lai sẽ như thế nào nhỉ? Hà Nội sẽ thay đổi, chắc chắn là như thế. Thay đổi nhiều nữa là khác. Tôi tự hỏi như thế và nghĩ rằng một ngày nào đó, rất có thể, chúng ta sẽ đi bộ qua sông Hồng Hà. Chiều chiều chúng ta sẽ đi bộ dắt người yêu qua sông. Nước sẽ cạn kiệt vì sự khai thác các đập nước trên thượng nguồn với các nhà máy thủy điện. Không cần cầu. Vì sông không còn nước. Dòng dông tưởng muôn đời lại hóa ra lại là nạn nhân đầu tiên bị ảnh hưởng bởi nền kinh tế thị trường.
Hết rồi những câu chuyện của dòng sông!
Câu chuyện “Anh phải sống” của Khái Hưng dần đi vào câu chuyện huyền thoại dân gian. Câu chuyện dòng sông thì thầm kể lại lịch sử cuộc đời của mỗi đời người với biết bao điều bí ẩn sẽ không còn nữa. Bài Chiếu dời đô ở thế kỷ thứ 11 nay nghe như còn vang vọng đâu đây. Cả cái nền văn minh sông Hồng được dựng lên, được hình thành và phát triển cho đến nay dựa trên cái bài chiếu khôn ngoan, với cái nhìn xa trông rộng của Lý Công Uẩn và vị cố vấn Đại sư Vạn Hạnh. Một quyết định sáng suốt, dựa trên cái thế sông núi đã tạo dần ra cái cơ ngơi của nền Văn minh sông Hồng. Thảng hoặc không có quyết định đó thì lịch sử miền đồng bằng sông Hồng đã hẳn là khác? Và nay sông Hồng cạn kiệt thì sẽ ra sao?
Thủ đô Hà Nội nằm gối đầu trên bờ đê sông Hồng, giắt ngang bằng một giải yếm là cầu Paul Doumer. Sông đó, cầu đó, biểu tượng cho sức mạnh của người Pháp. Nay đã không còn như thế nữa. Thời đó, người ta không khỏi thở dài thán phục: Les Francais font tout ce qu!ils veulent (Người Pháp làm được bất cứ cái gì họ muốn). Ai cũng nghĩ rằng, thật vô vọng để xây một cây cầu như vậy. Dòng sông Hồng, đúng như Pierre Gourou nhận xét ở trên: Đó là dòng nước đầy bất trắc và rủi ro. Nhưng nói như Gourou còn có vẻ văn chương quá. Thực tế, lòng sông Hồng về mùa khô, nước cạn, có nơi bề ngang chỉ còn 5,6 thước tây. Nhưng đến mùa nước lũ, khoảng tháng Bảy trở đi, nước dâng cao ngấp nghé bờ đê. Dòng sông hiền lành bỗng chốc trở thành hung hãn. Vậy mà P. Doumer đã khắc phục được tất cả, hoàn thành cây cầu sau 4 năm. Công của ông không nhỏ.
Phải nhìn nhận rằng, dưới thời Paul Doumer, thành phố Hà Nội đã đổi mình. Cây cầu Paul Doumer đã mở đường cho Hà Nội bước vào thế giới văn minh.
Nay không cần cây cầu Paul Doumer nữa thì cái gì sẽ là biểu tượng cho sự phát triển của thủ đô Hà Nội. Tôi không biết nữa.
Hai bờ đê sông, có những khúc, người dân đã biết dựng nhà trên bè nổi bồng bềnh lên xuống tùy theo con nước. Những căn nhà nổi đó là nếp sống đặc biệt của một thiểu số dân miền Bắc. Thật là kỳ diệu. Một thứ Population flottante, dịch văn chương là sống bồng bềnh trên sông nước. Nhưng chữ đắt nhất, cách gọi nguyên thủy nhất là nếp sống Hạ Bạc. Một nếp sống văn hóa mà tất cả dựa vào nước, đến cái độ ăn, ngủ, làm ăn, sinh sống đều ở trên sông. Nhưng mai đây nếu quân xâm lược nào đó muốn kéo quân sang nước ta bằng đường thủy thì cũng không được nữa. Những trận đánh trên sông Lô Giang, Bạch Đằng Giang trong lịch sử sau này khó có cơ biện cãi. Khó, bởi vì dòng sông không còn. Trước đây cùng lắm, dòng sông bên lở bên bồi. Nay thì rất có thể tất cả đã là nhà.
Còn bờ đê Yên Phụ đã mất hút đi lúc nào không hay, nay có thể là điểm hẹn khởi điểm cho xa lộ Bắc Nam. Và sẽ không bao giờ còn câu ca dao: Non cao ai đắp mà cao/ Sông sâu ai bới, ai đào mà sâu.
Sẽ và đã không còn đê Yên Phụ chạy dọc theo sông Hồng nữa, có lối rẽ vào các bãi Phúc Xá, bãi An Dương. Không có nước thì cần gì đến đê. Nhớ lại cái hình ảnh năm 1946, tôi chạy loạn và leo lên gác chuông nhà thờ cửa Bắc sáng hôm sau. Tôi đã thấy gì. Thấy từng đoàn người lũ lượt lếch thếch, bồng bế chạy trên đê Yên Phụ, hướng về phía Hà Đông thay vì hướng về phía cầu Long Biên. Bóng những người chạy tản cư in dấu một vệt dài trên nền bầu trời trắng đục. Tất cả hình ảnh đó đã phai mờ về những ngày khởi đầu chiến tranh trong ký ức của tôi khi về thăm lại Hà Nội. Nhớ lại mấy câu thơ của Quang Dũng những ngày ấy:Thôi chào Hà Nội lửa ngang trời/ Ta đi ngõ gạch, tường đang đục/ Gạn từng giọt nước đánh cầm hơi.
Quả thực, lúc đó tự nhiên tôi biến thành thân phận loài chuột, chui rúc qua những căn nhà bỏ trống, chui qua những lỗ tường các nhà. Hà Nội đã tiêu thổ kháng chiến. Chỉ còn tôi ở lại, trôi nổi theo thân phận Hà Nội như một đứa trẻ mồ côi, lạc loài.
Là cũng sẽ không còn cái nỗi lo của một Bảo Ninh trong truyện ngắn đọc đến ứa nước mắt, truyện Bí ẩn của làn nước. "Năm ấy, nhằm trúng đỉnh lũ đêm Rằm tháng Bảy, một loạt bom Mỹ phá tan vệt đê canh giữ đằng trước làng tôi. Dứt dây nổ của bom và tiếng gầm ghê rợn của máy bay cường kích là chuỗi ầm long lở của dòng sông phá bung đê tràn ngang vào đồng ruộng. Từ trên điếm canh tôi chạy lao về làng. Hồi chiều hay vợ ở nhà trở dạ nhưng tôi không thể rời vị trí hộ đê. Bây giờ đất sập rồi, trong tôi chỉ còn con tôi, vợ tôi. Tôi dốc toàn lực bình sinh vào đôi chân. Đằng sau, cơn đại hồng thủy đuổi bén gót. Nước đã ngập làng... Trời ơi! Con tôi! Vợ tôi hét rú lên và lao ngay lập tức xuống nước hòng chụp lấy con. Tôi phóng mình theo nước. Nước lạnh, ngầu bùn, sâu hút và cuốn mạnh. Tôi vớ kịp thằng con, nhao vội lên, trao nó cho những bàn tay đang chìa xuống, rồi lại lặn tiếp ngay để cứu vợ. Nhiều người phi xuống theo để trợ sức tôi... Từ bấy tới nay, thời gian trôi qua và triền nước trôi đi, tôi đã có tuổi và con gái tôi đã thành một thiếu nữ đẹp nhất làng. Nó là đứa con của làn nước, mọi người đều nói thế. Nhưng điều bí mật kia thì không ai hay, kể cả con gái tôi cũng không thể biết. Chỉ có dòng sông biết... Thời gian, năm tháng cứ trôi, dòng sông và lịch sử, tất cả đều đổi thay nhưng mà niềm đau của đời tôi thì không nguôi bởi ấy là một niềm đau không thể nói lên lời".
Tất cả sẽ không còn nữa.
Phố Hà Nội
Nói đến Hà Nội mà không nói đến các con phố thì sẽ là một thiếu sót lớn. Tranh Bùi Xuân Phái đã một thời chuyên vẽ các căn nhà và đường phố Hà Nội với một màu xám xanh đục, với những căn phố xiêu vẹo, trông rất ấn tượng và rất buồn. Trong văn chương thì Thạch Lam đã để thì giờ ra viết cuốn Hà Nội 36 phố phường. Trong đó, ở trang 92 ông viết rằng: "Người Pháp có Paris, Người Anh có Luân Đôn, người Tàu có Thượng Hải. Ta phải nghe người Pháp nói đến Paris, người ở Paris mới hiểu được sự yêu quý ấy đến bậc nào. Chúng ta cũng có Hà Nội, một thành phố có nhiều vẻ đẹp, vì Hà Nội đẹp thật, chúng ta chỉ còn tìm những vẻ đẹp ấy ra".
Vẻ đẹp như thế nào, trong suốt cuốn sách không thấy ông nói ra.
Phần tôi có những ý nghĩ sau đây về đường phố Hà Nội. Lẽ thứ nhất là Hà Nội có những con đường ngắn quá. Ngắn đến nỗi chẳng ở đâu có. Ngắn đến không thể ngắn hơn được nữa. Có lẽ con đường Giải phóng là dài nhất với 4.000 mét, Hoàng Hoa Thám kể là dài với 3.320 mét. Hoàng Diệu còn 1340 mét, Lý Nam Đế với 1.090 mét. Kim Liên chỉ còn 250 mét. Hàng Gà tụt xuống còn 225 mét. Hàng Cân 104 mét và tụt nữa Hàng Hương còn 65 mét. Ngắn như thế, đi mấy chục nhà đã hết đường, muốn tìm đường cũng khó mà muốn chỉ đường cũng thật là gian nan. Chỉ còn mỗi cách hỏi đường từng đoạn một. Nhưng được cái, người Hà Nội nói chung, nhất là những người lái xe ôm lúc nào cũng sẵn sàng chỉ đường.
Nhận xét thứ hai là tôi thấy họ tôn trọng khu phố cổ, ít đổi tên đường. Tên đường phố Sài Gòn thì người ta đã đổi hầu như toàn bộ, đổi cả những cái không cần đổi. Đường Công lý thì có gì cần đổi. Đường Tự Do, Lê Thánh Tôn, Lê Văn Duyệt thì có gì cần đổi. Đường phố Hà Nội với nhiều tên đường từ thời Pháp thuộc thế nào thì nay vẫn để như vậy. Như các đường Hàng Cân, Hàng Đường, Hàng Đảo, Hàng Khay, Hàng Quạt v.v... Nghe quen và thân thương. Hoặc các phố Quan Thánh, Ngọc Hà, đường Cổ Ngư, Phủ Doãn, Cầu Giấy, Thụy Khuê, Tràng Tiền, Ngọc Hà, Hoàn Kiếm, Khâm Thiên và chợ Đồng Xuân. Thời xưa, người ta coi chợ Đồng Xuân là: Hà Nội là Động tiên nga/Sáu giờ tắt hết đèn xanh đèn gần/ Vui nhất là chợ Đồng Xuân. Ba câu thơ trên bây giờ có thể đã không đúng nữa. Chợ Đồng Xuân cho dù đã được xây cất lại khang trang hơn. Ngày nay nó chỉ đóng vai trò trung gian vận chuyển hàng hóa đi các tỉnh. Hàng hóa ở đây phần lớn lại là hàng buôn lậu buôn từ Trung Quốc về. Và mua bán thì phải cẩn thận trả giá, vì thế nào cũng có thể bị hớ do người bán nói thách gấp đôi, gấp ba là chuyện thường.
Nghĩ cho cùng, tôi thấy các khu phố cổ Hà Nội như âm thầm làm chứng nhân lịch sử. Thật vậy, thời nào đường phố đó cũng có mặt. Chế độ nào nó cũng vẫn nằm ở đó. Thời tiền Tây đến thời Tây và hậu Tây, nó vẫn có ở đó.
Ngõ Hà Nội
Phố và ngõ là hai đặc điểm mang đậm sắc thái văn hóa của Hà Nội. Phố là đời sống bên ngoài, ngõ là đời sống bên trong. Cứ vài nhà lại có một ngõ. Ngõ sâu hun hút đến dài bằng một con đường phố nhỏ. Nơi ấy là nơi ra vào của hàng chục gia đình lớn nhỏ. Bề ngang chỉ chừng hơn nửa thước mà nếu có hỏa hoạn thì không biết sẽ ra sao. Bề dài có thể 50 đến 60 mét. Có ngõ chật chỉ vừa một người đứng mà trong đó có một cửa hàng bán đồ vàng bạc. Tủ kính dựa vào tường, thế là thành một cửa hàng. Có cái ngõ gì tôi quên mất bán chè chí mà phủ và trong tiệm có một con chó đá. Chắc xưa hẳn là cửa ngõ đi vào đền. Chúng tôi đã quên đường và đi hỏi bằng được tiệm bán chè chí mà phủ có con chó đá. Vậy mà hơn một tiếng đồng hồ sau, tôi cũng tìm ra. Khá vất vả. Tôi vừa tức, vừa vui, vừa đùa, tôi ngồi lên lưng con chó đá nói: Vì mày mà tao phải vất vả thế này. Người trong quán nhìn tôi trách móc: Đây là chó thờ đấy. Tôi vội vàng tụt xuống xin lỗi mọi người vì vô lễ và cúi vái ông chó đá vài cái. Quả thực trước mặt ông chó đá có bát nhang thờ. Tín ngưỡng miền Bắc còn vương vất khá nhiều tính cách thờ vật tổ, chen lẫn mê tín và dị đoan lắm, khác hẳn trong Nam.
Ngõ như thế trở thành quen thuộc và là nét văn hóa đặc thù của Hà Nội. Chỉ ở Hà Nội mới có. Một nếp sống chung đụng hàng vài chục người. Và người Hà Nội đã sống như thế, thế hệ này qua thế hệ khác. Nhất là kể từ sau 1954, mỗi hộ thay vì một nhà có thể thêm cả chục nhà sống chen chúc nhau. Tôi có cô em họ ở 16 Hàng Cân. Tôi đã đến thăm cô vào một buổi trưa. Vào đến bên trong là vô số nhưng bếp lớn nhỏ ở dưới và trên lầu của mỗi gia đình. Hỏi thăm cô, cô cũng chẳng thích thú gì cái đời sống với ngõ ngách như thế. Có đứa con trai đã ra ở riêng. Và chắc sau này sẽ dần tan biến đi. Cô nói muốn bán cũng không phải dễ, chỉ khi nào tất cả những người trong căn hộ đều muốn bán thì mới được. Chắc bên trong cũng có nhiều điều phức tạp. Gì chứ kèn cựa nhau từng tấc vuông đất, từng ly từng chút chịu đựng nhau, nhịn nhục nhau mà sống chung là không tránh được. Đi ra đi vào chạm mặt, nhà này làm gì, mua bán, cãi nhau, con cái ra sao, nhà kia biết hết. Khó mà có thể dung hợp hết mọi người trong mấy thước đất đó được. Khó mà có chỗ riêng tư. Đấy là một bi kịch của đời sống kiểu lienfer c!est les autres. Tranh dành, cãi cọ, dòm ngó, ghen tuông, đố kỵ, bon chen, giả dối, ác độc, thù hằn, khó tính khó nết. Có thể có hết. Có khi ở mấy chục năm không thèm ngó mặt nhau. Cô em tôi vốn là người thừa kế gia sản của ông ngoại. Ông cụ vốn có 14 căn nhà. Nhưng sau 1954 bị tịch thu hết, chỉ còn giữ được căn nhà 16 Hàng Cân này. Nhưng cũng chỉ được ở một phần, phần còn lại nhà nước chia cho người khác. Có lần, tôi gặp một bà cụ đi mua một quả trứng. Tôi tò mò hỏi thăm cụ. Thế là cụ dẫn tôi vào ngõ và lên lầu. Cụ dặn tôi, con mẹ bán ngoài cửa hàng là khó chịu lắm. Đừng để nó biết lại lôi thôi ra. Cụ nay ở một mình, trong nhà vương vất lối sống giàu có thời xưa, cũng sập gụ, tủ chè, ghế salông gụ chạm trổ. Cúng ông cụ vỏn vẹn có một quả trứng đi mua và một bát cơm.
Tình nghĩa vợ chồng của một người còn ở lại dương thế trong cái nghèo nàn cô quạnh như một vất vưởng chờ ngày để về.
Căn nhà trong ngõ cũng là quãng đời của bà cụ và biết đâu cũng là quãng đời còn lại của ngõ. Và đến một lúc nào đó cũng là lúc chấm dứt một thứ văn hóa ngõ. Bao giờ người Hà Nội ra khỏi những căn nhà hút sâu trong các ngõ hẻm. Bao giờ? Chắc rồi cũng thay đổi. Và nếu thay đổi thì đây chẳng khác gì một biến cố lịch sử của ngõ mà cũng là lịch sử cuộc đời của vô số người Hà Nội. Thật khó mà quên.
Hà Nội và những gánh hàng rong
Xin đừng quên một điều là Hà Nội có những cửa hàng di động. Ấy là nói theo lối bây giờ. Ngay từ xưa đã có rất nhiều gánh hàng rong như thế. Phở gánh, xôi chè gánh, hoa quả gánh, bất cứ cái gì cũng gánh. Có khi một bên là cửa hàng, bên này là một chú nhỏ ngồi. Tôi còn nhớ những hàng phở gánh sớm đông, khói tỏa ra nghi ngút, mùi phở thơm đến sặc mũi trên đường phố cửa Bắc, xế con đường đôi, nay là đường Hoàng Diệu. Một bên gánh là tủ kính để bánh phở và đĩa thịt thái tươm tất. Bên kia nồi nước phở nghi ngút khói. Khó quên được mùi phở, thơm ơi là thơm, sao mà nó thèm thuồng đến chảy nước dãi ra được. Lại có những cửa hàng với hai tủ kính đàng hoàng, lịch sự và trang nhã bán cà phê, bánh mì. Mùi cà phê cũng thơm nức mũi.
Cả một nếp sống Hà Nội!
Hà Nội xưa và nay cũng không thay đổi mấy về cửa hàng di động này. Cửa hàng bán cam quít thì dùng gánh, bán cháo, bán xôi, bán chè cũng dùng gánh. Nhưng bán bánh mì thì đội lên đầu. Tôi kể lại một điều để thấy những người bán bánh mì này khốn khổ biết bao nhiêu. Họ ngồi thành lượt như xếp hàng, xế cửa chợ Đồng Xuân vào một buổi chiều tối. Chúng tôi đi qua như người đi dạo chơi chẳng có ý mua sắm gì. Tôi chỉ có chót dại dừng lại ngắm những ổ bánh mì mà không mua. Thế là có màn năn nỉ. Tôi đành bỏ đi. Họ không thất vọng bỏ cuộc. Vậy là cả cái cửa hàng di động chợt nhổm dậy đi theo năn nỉ ỉ ôi đến không mua không được. Mua mà lòng thấy không vui. Chỉ vì một ổ bánh mì. Lời lắm đến 500 đồng mà phải khốn đốn như thế.
Giá những ông bà tham nhũng nhìn được cái cảnh này thì lòng họ sẽ nghĩ gì!
Cạnh đó, có một số hàng rong dùng xe đạp. Cũng khá là đặc biệt. Bán cá cảnh thì dùng xe đạp. Có một khung tròn bằng sắt, có nhiều vòng. Những túi ni lông buộc cá chung quanh những khung sắt tròn đó. Ai mua cứ tự do lựa chọn. Trông cũng vui mắt lắm và tức cười. Như là một cuộc rong chơi chứ không phải buôn bán. Rồi có cửa hàng di động bán các đồ chơi bằng nhựa lúc lắc đung đưa trên xe đạp.Chưa kể bán đồ hàng mã, trên đó treo đủ thứ hằm bà lằng.
Ông giám đốc người Đức của Viện Goethe ở Hà Nội, khi sang đây giao lưu văn hóa với VN cũng học và bắt chước cái văn hóa hàng rong của VN và đã mở 3 cửa hàng bán bánh mì di động. Họ nướng một khúc thịt treo trước mặt, rồi ăn đến đâu xẻo đến đó, trông lạ mắt và hấp dẫn. Cứ 10 ngàn đồng một cái bánh mì thịt, có bỏ thêm gia vị. Kể ra giá cũng khá đắt. Giao lưu thì được rồi, nhưng cạnh tranh với mấy bà bán bánh mì thì kể cũng tội. Lại còn muốn bành trướng ra tới Huế. Cái này thì phải hỏi ai đây mới rõ nguồn cơn.
Các người bán hàng rong với các cửa hàng di động thật ra công an cũng nương tay với họ một chút. Có làm thiệt hại ai đâu. Các nước bên này cũng nới tay đối với các xe bán kem, hot dog. Khách du lịch đôi khi thấy tiện, thấy lạ, cũng muốn ăn thử. Các người buôn thúng bán mẹt đó, vì không có lối thoát nào khác mới phải bán hàng rong. Nên nới tay cho họ. Thay vì họ phải đi ăn xin, trông không đẹp mắt tý nào. Bán hàng rong nào có tội tình gì. Người buôn bán như thế cũng có cái lợi là tránh được công an rượt bắt. Nếu cần, họ có thể chạy được mang theo cả cửa hàng. Bán rong, cửa hàng di dộng là một nét văn hoá đẹp của Hà Nội. Ít ra cũng hơn hai hạng người: Người đi ăn xin và người tham nhũng hối lộ.
Phố Hàng Mã
Cách đây chừng 6 tháng, tôi được một người bạn thân ở bên Anh, gửi cho một tấm hình chụp khá ngộ nghĩnh do một phóng viên ngoại quốc chụp. Hình chụp một anh xích lô đạp ở Hà Nội đang chở một cái xích lô khác làm bằng giấy. Hình thật ngộ nghĩnh. Xích lô đạp chở xích lô giả. Ý nghĩ đó quẩn quanh lôi kéo tôi đến các phố Hàng Mã khi về Hà Nội.
Trước 1954, ở Hà Nội trước có bao nhiêu chùa thì nay vẫn thế. Hơn 50 năm mà vẫn thế có nghĩa là tụt dốc. Tụt dốc về số chùa không xây dựng mà còn tụt dốc về tín ngưỡng, đi dần sang cái hướng phiếm thần, mê tín. Năm 1954, ta có các chùa: Chùa Bà Đá, Chùa Láng, chùa Hòe Nhai, chùa Kim Liên, chùa Liên Phái, chùa Một Cột, chùa Ngũ Xá, chùa Quán Sứ, chùa Trấn Quốc.
Bây giờ vẫn chừng ấy chùa. Còn lại là Đền. Như đền Quan Thánh, đền Voi Phục, đền Gióng, đền Mẫu, đền Hai Bà Trưng, đền Sóc Sơn. Các chùa này không phải chỉ thờ Quan âm mà còn thờ nhiều tông phái khác nhau. Như chùa Bà Đá là của phái Lâm Tế, chùa Hòe Nhai là của phái Tạo động. Đã thế chẳng những thờ tượng Quan Âm, còn thờ thêm nhiều tượng khác. Tại chùa Kim Liên, bên cạnh tượng Quan Âm còn có tượng chúa Trịnh, tượng Tôn Ngộ Không, tượng Văn Thù. Chùa Láng cũng vậy, ngoài tượng Phật còn có tượng Lý Thần Tông, Từ Đạo Hạnh và hai động thập điện Diên Vương. Chùa Ngũ Xá vừa thờ Phật, vừa thờ Nguyễn Minh Không, gọi là Lý Quốc Sư. Chùa Trấn Quốc trở thành một hành cung của nhà vua. Khi ra khỏi cung, tôi đã thấy ba bốn bàn thờ khác nhau.
......
_________--
Xin lỗi các bạn nếu tôi đã làm phiền khi mang về đây một góc nhỏ của Hà Nội. _________________ Forytchia của mùa xuân.
Chỉnh sửa lần cuối bởi FORYTCHIA vào lúc 28-Mar-2006 9:59 am, trong tổng số 1 lần chỉnh sửa |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
NguyenAnh Trứng cá hồi - Икра лососёвая

Tuổi: 71 Tham gia từ: 07 Aug 2005 Bài viết: 1325 Đến từ: TP Hồ Chí Minh
|
Gửi: 28-Mar-2006 11:17 am Tiêu đề: Re: Cho những người xa Hà nội (tiếp)
|
|
|
| FORYTCHIA viết: |
| Máy với móc, làm 1 cú mà thành 3 bài . Xin lỗi ! |
Máy của bác nhạy thế kia à? Trong những trường hợp tương tự, bác có thể tự xóa bớt mấy cái post quá tay (bằng cách click vào cái nút dấu nhân ở góc phải, phía trên bài viết). Lần này thì NA xin được giúp bác nhé. _________________ Nguyên Anh & blog mới tại vnweblogs.com
 |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
FORYTCHIA Trứng cá hồi - Икра лососёвая

Tham gia từ: 12 Dec 2005 Bài viết: 939 Đến từ: Hochiminh city.
|
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
Tykva Kvas Nga - Квас


Tuổi: 31 Tham gia từ: 21 Jul 2005 Bài viết: 2395
|
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
FORYTCHIA Trứng cá hồi - Икра лососёвая

Tham gia từ: 12 Dec 2005 Bài viết: 939 Đến từ: Hochiminh city.
|
Gửi: 28-Mar-2006 2:36 pm Tiêu đề: Re: Cho những người xa Hà nội (tiếp)
|
|
|
Tykva đã trúng" diệu kế" khi tôi hỏi nhỏ " tại sao là tạm thương" rồi(đùa chút chơi, Tykva chớ có giận ).
Rất nhiều tên địa danh các vùng miền của nước ta đã bị được đọc trại đi như Trạm thương thành Tạm thương, nghe dễ thương vô cùng.
Cảm ơn Tykva ! _________________ Forytchia của mùa xuân. |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
FORYTCHIA Trứng cá hồi - Икра лососёвая

Tham gia từ: 12 Dec 2005 Bài viết: 939 Đến từ: Hochiminh city.
|
Gửi: 29-Mar-2006 10:42 am Tiêu đề: Re: Cho những người xa Hà nội (tiếp)
|
|
|
Tôi vừa đọc bài trên trang chủ , thật cảm động mà chưa hiểu vì sao , hay bởi vì Tiến sĩ ngữ văn Ng.Huy Hoàng viết quá tuyệt vời chăng?
Cảm giác bình yên khi trở về Hà Nội
Nguyễn Huy Hoàng (*)
Ba mươi năm trước, trong một bài thơ của mình, cố thi sĩ Xuân Quỳnh có viết:
Ai cũng có một quê
Nơi tuổi thơ để ở
Tuổi khôn lớn để yêu
Và ra đi để nhớ
Tôi thấm thía những câu thơ này hơn trong những năm tháng triền miên sống ở xứ người. Mỗi một người Việt chúng ta, ai cũng có một chốn sinh thành, một nơi cư ngụ, nhưng đều có một quê chung, một địa danh luôn luôn hướng đến, nhất là những người xa Tổ quốc, đó là thủ đô Hà Nội.
Nhiều đêm, rất nhiều đêm không ngủ, tôi ngồi bên cửa sổ, nhìn tuyết rơi miên man trên đất khách, quê người, lòng lại da diết nhớ về Hà Nội đang cữ heo may. Những lúc đó, những kỉ niệm đi qua trong kí ức như một cuốn phim nhiều tập, nhiều trường đoạn, mà cảnh nào cũng gợi nên một nỗi nhớ thương. Dường như tiếng chuông tàu điện, tiếng xích lô trẩy chợ phiên, tiếng còi tan ca của các nhà máy Hà Nội giờ tan tầm… đã trở thành một phần máu thịt của thế hệ chúng tôi.
Hồi những năm đánh Mỹ, rồi những năm hoà bình trở lại, ngồi trên một chuyến tàu điện rời Bờ Hồ đến Hà Đông, hay Cầu Giấy đã như là một chuyến du lịch đường dài. Những cánh đồng năn, lác, cỏ rậm um tùm xuât hiện khi tàu chỉ mới qua Thượng Đình hay Kim Mã. Vào thời điểm đó, nếu như đi xe máy, chỉ cần phóng một giờ là đã đi hết một vòng Hà Nội. Nói theo cách của các nhà thơ là Hà Nội khiêm tốn đên mức chỉ cần một tiếng gọi vọng như gọi đò thì cả hai đầu thành phố đều nghe thấy!
Chính vì vậy, khi trở lại Hà Nội sau nhiều năm cách biệt, tôi không khỏi ngỡ ngàng khi thấy tầm tay của thành phố đã vươn xa tới một vành đai dài rộng. Khó mà nhận ra phố cũ, cảnh xưa. Trước đây, ngôi nhà cao nhất thành phố là Nhà in báo Nhân Dân; con đường lớn nhất thành phố lúc đó gọi một cách đầy vẻ đại ngôn là Đại lộ Tràng Tiền, Tràng Thi, Nguyễn Thái Học. Còn giờ đây, sừng sững hàng loạt nhà cao tầng, những con đường mới mở dọc ngang thành phố đúng với tư cách đại lộ như Liễu Giai, Giải Phóng, Hoàng Quốc Việt… Đã lùi về quá khứ một Hà Nội đói nghèo, trăm bề thiếu thốn với những biển hiệu “cơm nồi”, “nước sôi”, “hàn vá dép nhựa”, “bơm mực bút bi”… đêm đêm ánh điện leo lét, thưa thớt chiếu vàng vọt trên hè phố. Nhắm mắt lại, tôi bỗng nhớ về những cái Tết bao cấp, mỗi gia đình chỉ đủ khả năng mua sắm trong vòng cấm địa của tem phiếu, nghĩa là dăm lạng thịt, cân bột mì, cân nếp, nửa cân đường; bày biện trên bàn chỉ có quy gai, quy xốp, những thuật ngữ mà bây giờ để bọn trẻ hiểu được cũng cần nhiều thời gian giải thích.
Nặng lòng với những cổ sự ấy, tôi như bị thôi miên bởi sự phồn thịnh mà phép thần của cơ chế thị trường mang lại. Hàng hoá đa chủng loại tràn ngập phố phường giống như Hồng Kông, Thái Lan vậy, mà giá lại phải chăng phù hợp với túi tiền của dân lao động. Trước mắt tôi, Hà Nội không còn “phố chật, nhà gianh” nữa, một cuộc sống vật chất tuy chưa viên mãn, nhưng đã cao gấp bội phần hai thập niên về trước.
Phải thừa nhận rằng, bây giờ người Hà Nội ăn mặc rất đẹp. Nhìn những trai thanh, nữ tú ăn vận rất thoáng, rất mốt thong thả dạo phố, tôi không khỏi ngậm ngùi nhớ về một thời chúng tôi lên lớp, đến công sở với những bộ áo quần xoàng xĩnh, dép lê loẹt quẹt, kèm thêm một cặp lồng cơm bất ly thân! Sự ăn mặc lãng mạn, bạo dạn, nhưng rất phương Đông của giới trẻ thời nay phần nào đã thể hiện một cách tương đối đầy đủ chất lượng sống, sự tự tin và phong thái đĩnh đạc chỉ có thể có vào thời kì hội nhập. Nhìn một vài cô gái thanh thản khoác tay khách nước ngoài dạo phố, thấy sự giao đãi tự nhiên của dân ta với du khách, tôi bỗng sực nhớ một câu chuyện mặc dù mới xẩy ra chỉ hai mươi năm, nhưng nay đã thành cổ tích. Vào tháng 11-1985, Giáo sư Bugrôp, Chủ nhiệm bộ môn Văn học Xô-viết sang thăm Đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi được phân công đưa ông đi thăm thú Thủ đô. Sau khi đi hết một vòng Văn Miếu, ông ngỏ ý muốn uống một ly cà phê. Tôi dẫn ông vào một quán ở phố Hàng Bột cạnh cửa hàng đồ cũ uống cà phê và nhấm nháp bánh ngọt. Chỉ có mỗi việc ấy thôi, mà khi trở về Trường, Phòng Đối ngoại đã cho rằng tôi đã vi phạm quy định khi làm việc với người nước ngoài! Giờ đây tôi không hề mặc cảm, không hề trách cứ một điều gì, mà chỉ mừng vì chúng ta đã đi qua thời ấu trĩ đó; càng thấy quý hơn những cánh cửa đã được mở ra để Hà Nội ngẩng cao đầu đến với nhân loại bằng đôi chân được cởi trói.
Vừa rồi, cùng về Hà Nội với tôi có Giáo sư Pexkôp, nguyên Hiệu phó Trường Đại học Giao Thông Matxcơva. Ông ở cạnh phòng tôi trong khách sạn. Một điều trùng hợp đến buồn cười là khi ra phố, cả ông và tôi đều mang đủ mọi thứ giấy tờ tuỳ thân như một phản xạ có điều kiện. Khi chợt nhớ ra là mình đang ở Hà Nội , tôi trịnh trọng khuyên ông bỏ lại mọi thứ ở quầy lễ tân, vì Hà Nội không phải là Matxcơva, không hề có cảnh công an ngang nhiên chặn khách nước ngoài hỏi giấy tờ rồi lôi tuột về đồn nộp phạt. Ở Hà Nội, ông có thể đi chơi thâu đêm, suốt sáng mà không gặp phải một sự cấm đoán nào. Nói tóm lại, ở Hà Nội ông sẽ có được một sự bình yên, một sự trọng thị hơi thái quá của người Việt Nam đối với khách nước ngoài, điều đó tồn tại như một nếp văn hoá đã trở thành truyền thống.
Trong những năm tháng sống xa Tổ Quốc, do lý do công tác, tôi đã có nhiều dịp tới thủ đô của các nước Châu Âu, Châu Á. Sự lộng lẫy, hoành tráng và hiện đại của sân bay, phố xá, cách tổ chức đời sống đô thị của họ đã làm cho tôi kính phục. Nhưng sống giữa sự đủ đầy, công thức của những tiện nghi, tôi vẫn thấy thiếu một cái gì đó, khó tả vô cùng. Bâng khuâng mãi, tôi mới hiểu ra rằng, tôi thiếu một chút không gian Hà Nội, một chút se lạnh, một chút sương mờ man mác của buổi sáng Hồ Guơm. Ấy là chưa kể sự cồn cào trong dạ khi nhớ đến những món ăn bình dân, quê kiểng của Hà Nội, những gương mặt thân quen của người Hà Nội. Càng đi nhiều, tôi càng thấm thía rằng, trên trái đất này không một địa danh nào lại có thể sánh được Hà Nội về cảnh quan, thời tiết và sản vật. Điều đó để giải thích rằng tại sao ở Mỹ, ở Pháp, ở Canada… có bao người Việt cao tuổi, có nhà vườn mênh mông, có đủ tiện nghi vật chất, vẫn khắc khoải mong được về sống với Hà Nội!
Riêng tôi, cứ mỗi một lần bay đến Matxcơva, khi máy bay lượn trên bầu trời, phía dưới là cao ốc, đô thị san sát, là trong lòng luôn mang một tâm trạng phấp phỏng lo âu về sinh kế, an ninh, về sự xa lạ và không ổn định như thiếu một nơi bấu víu.
Còn khi máy bay nghiêng cánh trên đồng bằng Bắc bộ, phía dưới là những cánh đồng xanh, mát dịu, lòng tôi lại ngập tràn một cảm giác bình yên, được che chở, được tin yêu.
Hà Nội còn nhỏ bé, còn biết bao nhiêu vấn nạn về môi sinh, về nếp sống, về tầm vóc, nhưng có lẽ vì thế những tình cảm tự nhiên của người xa thủ đô lại song hành với những nghĩ suy về trách nhiệm.
Là người gắn bó với Thủ đô, đi nhiều ở Hà Nội, đọc nhiều về Hà Nội, nhưng đối với tôi Hà Nội luôn vẫn mới, vẫn bí ẩn, lạ lùng, như nhà thơ Bằng Việt từng thổ lộ:
Như Hà Nội mười năm tôi đã biết
Đến hôm nay, vẫn lạ nét ban đầu
______________________
http://www.nuocnga.net/index.php?option=content&task=view&catid=386&id=1789&Itemid=493 _________________ Forytchia của mùa xuân. |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
Yesterday_For_You Bánh blin nóng - Горячий блин


Tuổi: 51 Tham gia từ: 17 Jan 2006 Bài viết: 43
|
Gửi: 29-Mar-2006 10:45 am Tiêu đề: Re: Cho những người xa Hà nội (tiếp)
|
|
|
Bây giờ thì dành cho những người ở ... ngay Hà Nội nhé, em đố các bác biết đây là hoa gì
Lang thang qua Nhà máy CC số 1 thấy nó hay hay nên chụp, có điều xa quá nên chẳng rõ mấy. Chán là chiều qua bác RW không giao đồ cho em sớm, làm em nhìn mấy lão bảo vệ ngán quá, mấy lần định leo lên rồi lại tụt xuống ! |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
LEN Cá Vobla - Вобла сушеная

Tuổi: 50 Tham gia từ: 28 Nov 2005 Bài viết: 215 Đến từ: Ha Noi
|
Gửi: 30-Mar-2006 3:03 pm Tiêu đề: Re: Cho những người xa Hà nội (tiếp)
|
|
|
| Yesterday_For_You viết: |
Bây giờ thì dành cho những người ở ... ngay Hà Nội nhé, em đố các bác biết đây là hoa gì
|
Ảnh bạn chụp xa quá, không tài nào phán đoán ra là hoa gì. Chả lẽ xuống tận nơi chỉ để xem mỗi cây này . _________________ Một chút hồng của nắng
Một chút xanh của mây
Thêm em tà áo trắng
Cho lòng anh ngất ngây...
Chỉnh sửa lần cuối bởi LEN vào lúc 30-Mar-2006 4:31 pm, trong tổng số 1 lần chỉnh sửa |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
rung_bach_duong Kvas Nga - Квас


Tham gia từ: 03 Aug 2005 Bài viết: 1498
|
Gửi: 30-Mar-2006 3:42 pm Tiêu đề: Re: Cho những người xa Hà nội (tiếp)
|
|
|
Mắt Rừng cũng kém lắm, nhưng có phải tháng Ba hoa gạo thắp lửa lập lòe không nhỉ  |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
LEN Cá Vobla - Вобла сушеная

Tuổi: 50 Tham gia từ: 28 Nov 2005 Bài viết: 215 Đến từ: Ha Noi
|
Gửi: 30-Mar-2006 4:04 pm Tiêu đề: Re: Cho những người xa Hà nội (tiếp)
|
|
|
Em cũng nghi nghi nhưng o dám quả quyết đó là hoa gạo .
Chị Rừng ơi hoa lựu mới lập lòe chứ " đầu hè lửa lựu lập lòe đơm bông..." ( trêu chị tí ) _________________ Một chút hồng của nắng
Một chút xanh của mây
Thêm em tà áo trắng
Cho lòng anh ngất ngây... |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
hungmgmi Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tham gia từ: 20 Jun 2005 Bài viết: 2757 Đến từ: hanoi
|
Gửi: 30-Mar-2006 4:24 pm Tiêu đề: Re: Cho những người xa Hà nội (tiếp)
|
|
|
Mới đầu tớ cũng nghĩ là hoa gạo, nhưng nhìn kỹ thì không phải. Theo tớ nó là hoa vông đỏ, loại cây mọc nhiều ở ven Hồ Gươm, mạn đền Ngọc Sơn. _________________ hungmgmi@nuocnga.net |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
FORYTCHIA Trứng cá hồi - Икра лососёвая

Tham gia từ: 12 Dec 2005 Bài viết: 939 Đến từ: Hochiminh city.
|
Gửi: 31-Mar-2006 3:13 pm Tiêu đề: Re: Cho những người xa Hà nội (tiếp)
|
|
|
Yêu cầu Bạn RBD bớt chút thời gian tập đàn, giúp tôi việc nhỏ này với. Lần này, đơn đặt hàng là " Âm thanh của đêm Hà nội", và hàng tuyển là" Tháng 4 về", bạn cố gắng giúp nhé, sẽ cảm ơn nhiều nhiều! _________________ Forytchia của mùa xuân. |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
|
|
Bạn không thể gửi chủ đề mới Bạn không thể trả lời các chủ đề Bạn không thể sửa đổi bài viết của mình Bạn không thể xoá bài viết của mình Bạn không thể tham gia các bình chọn You cannot attach files in this forum You cannot download files in this forum
|
|