| Chủ đề phía trước :: Chủ đề kế tiếp |
| Tác giả |
Nội dung bài viết |
Marutxiadihoc Bánh mì đen - Черный хлеб


Tuổi: 39 Tham gia từ: 27 Oct 2006 Bài viết: 61 Đến từ: Bắc kinh
|
Gửi: 01-Nov-2006 6:02 pm Tiêu đề: Re: Những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của Karik và Valia - Ian Lari
|
|
|
Chương 16
-TRẬN CHIẾN VỚI RUỒI
– NHỮNG CÁNH BUỒM KỲ LẠ
- MẮT Ở CHÂN
– CON RỆP KÉO ĐÀN VIÔLÔNG
– CƯỠI TRÊN LƯNG CON ÓC HOA
Bùm! Bùm!
Bọn trẻ nhảy phắt xuống giường. Chúng dụi mắt nhìn nhau hoảng sợ.
- Anh Karik, cái gì thế?
- Anh không biết.
- Hay là bom của chúng ta nổ?
Trong hang ánh sáng xanh vẫn nhấp nháy như cũ. Vòm trần treo sát trên đầu. Những thùng mật màu trắng vẫn đứng thành hàng ở góc tường.
Bùm! Bùm! Bùm! – vách tường rung lên vì tiếng nổ. Ivan Germogenovich ngóc đầu dậy, ngáp dài, lấy tay dụi mắt và lẩm bẩm:
- À, à!... Hoạt đồng rồi!... Nổ rồi đó.
Ivan Germogenovich có bọn tre theo sau bước tới bên chiến lũy ngăn ngừa lối vào hang. Ánh sáng ban mai lọt qua khe đá. Bãi cát vàng trước cửa hang phản chiếu anh nắng mặt trời sáng lóa. Vũng mật lấp lánh như vàng lỏng. Cái thùng trắng nằm lăn lóc một bên.
Các du khách phải nheo mắt lại vì ánh sáng chói. Giáo sư ngắm nhìn bầu trời xanh trong và nói:
- Hôm nay sẽ rất đẹp trời!
Valia thở dài:
- Thế thì ruồi sẽ rất nhiều, chắc sẽ còn nhiều hơn hôm qua.
Ivan Germogenovich xoa tay vui vẻ, an ủi Valia:
- Không hề gì! Chẳng bao lâu chúng sẽ còn ít hơn, it đi nhiều lắm… Và nói chung bây giờ chúng không còn đáng sợ cho ta nữa.
- Sao vậy bác?
- Thế cháu không nghe thấy bom của bác nổ hay sao? – Ivan Germogenovich ngạc nhiên hỏi.
- Cháu có nghe thấy – Valia nói – nhưng hình như ruồi chẳng sợ bom của bác chút nào. Cháu nhìn thấy bom nổ tung giữa đám ruồi mà chúng vẫn tỉnh khô.
Ivan Germogenovich thản nhiên vuốt râu nói:
- Cháu cứ đợi một chút, đừng vồi! Ruồi trúng bom của bác chưa chết ngay đâu. Sau khi bị mảnh bom bắn vào, chúng còn bò độ 5, 6 tiếng đồng hồ, rồi mới bắt đầu chết một cách rất lý thú… Cháu xem sẽ thấy rất hay!
- Thế những còn ruồi kia đã bị thương rồi ạ?
- Chắc chắn như vậy! – Ivan Germogenovich trả lời đầy tự tin – Vì nếu bác không nhầm thì bom bắt đầu nổ từ lúc tinh mơ.
Valia rút một viên đá khỏi chiến lũy và ghé mắt nhìn vào lỗ châu mai vừa tạo thành, quan sát bãi trống.
Những con ruồi long lá xồm xoàm đang bò trên đá. Chúng lại gần vũng mật, chen chúc nhau thò vòi vào đó. Một con rất béo, có cái bụng trắng đậu trên thùng mật đổ. Cái thùng lắc lư. Con ruồi sợ hãi bay lên, liệng vòng tròn, ngắm nghía cái thùng từ trên cao bằng cặp mắt lồi to tướng. Sau đó nó thận trọng từ từ đậu xuống cái thùng.
Đột nhiên nó dướn mình lên, lảo đảo như say rượu. Chân khuỵu xuống. Nó gục xuống đất. Kéo lê cái đầu nặng nề trên cát rồi lịm đi. Nhưng đôi cánh xòe ra hay còn hơi động đậy.
- Một chú rồi – Karik kêu lên.
- Thế chưa hết đâu! – Ivan Germogenovich nói – Cháu đợi xem còn chuyện nữa kìa.
Một lát sau giáo sư và bọn trẻ lại gần chiến lũy.
Trên bãi trống đã có vài con ruồi nằm lăn lóc. Một số hãy còn đang động đậy, những con khác nằm xòe cánh ra, đầu chúi xuống cát.
Chúng bị phủ lên người, một lớp gì trăng trắng như sương muối. Còn con ruồi cạnh thùng mật thì trên bụng mọc ra một cái roi có gắn một cái mũ tròn ở trên đầu.
- Nó mọc ra cái gì thế bác? – Valia hỏi – Bác xem kia giống một cái nấm ấy.
- Thì đó chính là nấm empuza.
Đột nhiên cái mũ nấm rơi ra lăn xuống đất.
- Một cái nấm mới nữa đã trưởng thành - Ivan Germogenovich nói.
- Cái tên gì nghe thật buồn cười: “empuza” – Valia cười hì hì nói.
- Sao lại buồn cười? Bác chả thấy nó buồn cười tí nào cả. Từ lâu bác đã nghiên cứu nấm empuza. Đó là một người quen cũ. Nấm ăn thịt… một trong những loại nấm có ích nhất cho con người… nó giết ruồi… Đấy, cái nấm mới vừa rơi xuống đất ấy sẽ nổ ra khi có con ruồi lại gần. Mảnh của nó là các hạt giống sẽ bắn trùm lên con ruồi; đồng thời ném ra một quả bom nấm mới để tiêu diệt những con ruồi khác.
- Thế nếu ruồi không lại gần thì sao ạ?
- Thì nấm empuza sẽ nổ ra!
- Thế nếu không phải ruồi lại gần mà là ong chẳng hạn thì nấm empuza có nổ không bác?
- Không, không nổ đâu.
- Như vậy nghĩa là nấm empyza không bắn vào ong?
- Những cái nấm này thì không. Nhưng có loại nấm khác hại ong. Nó rơi vào các tầng ong và làm chúng bị hư. Cố nhiên đó không phải là loại nấm có ích, mà là còn rất hại nữa.
“Bùm”! Lại có tiếng nổ trên bãi trống.
Giáo sư thò đầu ra và nói:
- Thêm năm chú ruồi nữa! Chẳng mấy chốc chúng sẽ nằm thẳng cẳng.
Thật vậy, chẳng bao lâu cả bãi đất trống đã phủ đầy xác ruồi.
Con đường ra hồ đã được giải tỏa.
******
Sau bữa ăn trưa Ivan Germogenovich quyết định ra bờ hồ xem con tàu “Carabus” có ở nguyên chỗ cũ hay không, có bị gió cuốn đứt dây neo hay làm lật nghiêng không.
Ivan Germogenovich gom một đống dây tơ nhện vác lên vai giắt một mẫu đã nhọn vào thắc lưng rồi đi ra cửa hang.
- Nào, Valia, cháu đi với bác đi! Giúp bác một tay nhé.
- Cố nhiên là cháu sẽ giúp, miễn là…
- Miễn là làm sao?
- Miễn là không có con ruồi nào trên bãi trống…
- Không có và sẽ không có nữa đâu! – Ivan Germogenovich đáp.
- Thế còn những còn ruồi khác? Chúng sẽ bay đến thì sao?
- Không khi nào! Mà dù chúng có bay đến thì chúng sẽ chết ngay lập tức. Khắp bãi đất trống bây giờ được vãi đầy empuza.
Valia yên tâm đi ra cửa hang.
Karik nhảy xuông giường.
- Còn cháu ạ!
- Còn cháu thì cứ nằm đó đi cho mau hết bệnh. Hôm nay không có cháu thì bác và Valia cũng đủ rồi.
- “Không có cháu”? – Karik phẫn nộ nói – thế bác có biết buồm chính là gì không, buồm lèo là gì không?...
Cậu tuôn ra một tràng tiếng chuyên môn về thuyền ghe nghe lỏm được ở một anh thủy thủ dạo nào.
Giáo sư cười mũi:
- A, ghê thật! Một tay thủy thủ lão luyện kia!
- Cháu không là thủy thủ cũng chẳng lão luyện. Nhưng cũng hiểu biết đôi chút về thuyền bè – Karik hãnh diện đáp.
Giáo sư phẩy tay:
- Thôi được rồi, nếu đã thế thì bác cho đi. Có điều cháu phải cẩn thận hơn, đừng có để cái chân đau thêm.
Các khách du lịch ra khỏi hang. Ivan Germogenovich đi len lỏi giữa các xác ruồi chết và nói:
- Như là bãi chiến trường thực sự!
Valia cố đi vòng tránh những xác ruồi chết, mắt vẫn liếc nhìn chúng. Dẫu rằng ruồi đã chết rồi nhưng… cứ tranh xa chúng là hơn.
Đột nhiên Karik kêu lên:
Giáo sư và Valia vội ngoái lại.
Karik đứng cạnh một con ruồi to nằm xộc cánh ra.
- Cái gì thế, Karik?
Karik dùng cả hai tay nâng cánh ruồi trong suốt lên nói:
- Bác xem này! Cánh buồm đây! Bác hiểu cháu chứ?
Ivan Germogenovich vui mừng:
- Bác hiểu rồi! Cố nhiên, bác hiểu rồi!
Ông lại gần con ruồi, lúc lắc cái cánh nó rồi nói:
- Làm cánh buồm thì tuyệt lắm! Phải lợi dụng nó thôi!
Rút mẫu đá nhọn ra khỏi thắt lưng giáo sư leo lên con ruồi cắt lấy cái cánh.
Cái cánh rơi xuống chân Karik. Karik nhặt lên ngắm nghía rồi nói:
- Một cánh thì ít quá. Chỉ đủ làm cho buồm lèo thôi. Chúng ta còn cần làm buồm cho cánh buồm chính.
Giáo sư nói:
- Được thôi! Sẽ đủ cho cả buồm chính!
Và ông khéo léo dùng mẫu đá nhọn cắt những cái cánh ném xuống dưới. Bọn trẻ nhặt lấy xếp thành một đống. Cuối cùng Karik nói:
- Có lẽ đủ rồi ạ!
Họ xếp chồng những cái cánh lên nhau như những tấm sắt. Giáo sư buộc một đầu dây vào cái cánh cuối cùng, quăng dây lên vai và kéo cả khối nặng đó lại bờ hồ. kẻ lấy tay giữ những cái cánh vui vẻ nóid:
- Đấy bác thấy không, cháu biết ngay phải cần những cánh buồm thế nào. Vừa nhìn thấy những cái cánh cháu hiểu ngay phải dùng chúng làm gì.
Ivan Germogenovich cười giễu cợt:
- Thôi mà, cứ khoe khoang mãi! Giữ nhưng cái cánh cho cẩn thân kẻo đọc đường đi rơi hết bây giờ!
Các khách du lịch khó khăn lắm mới chở được đống hành lý nặng nề đó tới bờ hồ.
Chiếc tàu Carabus vẫn đung đưa trong vịnh nước êm ả. Cái mũi cong của nó phản chiếu trên mặt nước xanh lặng lẽ. Hai bên sườn tàu nằm gần ngang mặt hồ. Xung quanh cột buồm cao là những thùng mật màu trắng. Karik nói:
- Một con tàu chính cống. Chỉ thiếu có cánh buồm thôi!
Ivan Germogenovich nói:
- Cánh buồm sẽ có ngay bây giờ đây.
Kéo những cánh ruồi lên, các khách du lịch bắt tay vào việc treo cánh buồm lên.
Karik leo lên cột buồm rồi từ trên cáo gọi xuống:
- Nào, đưa cánh lên đây cho cháu!
Công việc tiến hành thật sôi nổi.
Giáo sư chuyển những cái cánh cho Karik. Cậu buộc chúng vào cột buồm cái nọ ở cao trên cái kai. Chẳng bao lâu cả cột buồm chính phủ đầy những cánh buồm trong suốt.
Gió thổi vào cánh buồm kêu sột soạt. Cánh buồm “Carabus” rung lên. Đột nhiên cọc buộc dây neo kêu răng rắc và gãy đôi ra. Valia kêu lên!
- Ối chà!
Ivan Germogenovich không nói năng gì nhảy ngay xuống nước.
Karik từ trên cao hỏi vọng xuống:
- Cái gì xảy ra thế?
Không ai đáp lại cậu cả. Lách đầu qua những cái cánh cậu nhìn thấy giáo sư đang đứng, nước ngập tới thắt lưng mặt đỏ lên vì gắng sức, ráng kéo con tàu về phía bờ.
Karik hỏi:
- Nó tuột ra hả bác?
- Không phải, con ong vẽ gặm cái cọc làm nó gãy.
Ngạc nhiên qua Karik leo xuống boong tàu. Cậu hỏi:
- Con ong vẽ hả bác? Nó điên hay sao mà lại gặm cành cây?
- Không phải thế! – Ivan Germogenovich quấn đầu dây vào một gốc cây to, nói – Con ong vẽ không ăn cành cây, nó gặm để làm giấy, giấy cần cho ong vẽ để làm tổ.
Valia tròn mắt ngạc nhiên:
- Ong vẽ biết làm giấy hả bác?
- Đúng thế!... Tiện thể bác nói cho cháu biết rằng chính con ong vẽ đã dạy cho người ta cách làm giấy từ gỗ - Ivan Germogenovich đáp, rồi ông đọc cho bọn trẻ nghe cả một bài giảng dài về con ong vẽ, về gỗ, về những phát minh đã bị quên lãng từ lâu.
- Có một thời – Ivan Germogenovich kể - người ta chỉ biết làm giấy từ giẻ rách. Vào thế kỷ 18 nhà bác học Thụy Điển Jan kristian Sopher trong khi nghiên cứu con côn trùng đã học được chúng cách làm giấy từ gỗ. Có một lần ông quan sát tổ ong vẽ và nhận thấy tổ ong làm bằng chất liệu giống như bìa cạc tông. Ông liền theo dõi công việc của ong vẽ và phát hiện thấy ong vẽ gặm những mẫu gỗ rồi chế tạo thành giấy rất tốt.
Vào thời đó chẳng ai chú ý đến phát minh của Sopher cả.
Năm chục năm sau có một nhà bác học khác là Keler nhắc nhở cho mọi người biết về phát minh của Sopher và phải nói là ông nhắc nhở rất kịp thời. Dạo đó người ta đang thiếu giấy kinh khủng, giẻ rách không đủ để làm….
Người ta thử làm giấy từ gỗ như con ong vẽ… Lúc đầu không thành công, nhưng sau thì đạt được kết quả. Kể từ đó trở đi hầu như tòan bộ giấy được làm ra từ gỗ.
Sau khignhe bài giảng xong, Valia nói:
- Trời ơi! Nghĩa là gần đây có ong vẽ. Thế thì ta phải làm mau mau về nhà thôi!
Ivan Germogenovich đồng ý:
- Ừ, cũng đếnl úc phải về nhà thôi.
Các khách du lịch quay trở về hang.
******
Buổi sớm tinh mơ họ vần nốt những thùng mật cuối cùng lên tàu, chuyển giường chiếu lên đó và mang theo những cái trứng đom đóm.
Karik gắn một cái trứng lên cột buồm làm hiều.
Bây giờ cậu lăng xăng hơn ai hết.
Cậu chạy khắp tàu, la hét lên giọng thuyền trường:
- Ê! Ở phía mạn lái, cuốn lèo lại!
Valia rụt rè hỏi:
- Mạn lái là cái gì hả anh?
- Thì chỗ em đứng đó gọi là mạn lái!... Tức là đuôi tàu đấy mà. Nào, cuốn lèo lại.
- Thế lèo là cái gì hở anh.
- Lèo là cái dây đó.
Giáo sư rụt rè đề nghị:
- Thế sao không gọi đuôi tàu là đuôi tàu, lèo là dây có hơn không.
Karik cười nhạt:
- Tùy bác thôi. Như vậy cháu sẽ gọi kén của kiến lá là trứng kiến vậy.
Giáo sư ôm lấy đầu:
- Không, không! Không phải trứng mà là kén! Thôi được bác sẽ cố nắm cho được cái tiếng lóng hàng hải của cháu, chỉ xin cháu đừng có gọi kén là trứng.
Karik lại chạy loăng quăng khắp tàu. Cậu quát lên như sấm:
- Căng buồm lên! Thủy thủ về chỗ! Kéo còi hiệu lên!
Giáo sư kéo sợi dây neo, xếp lại cẩn thận ở đuôi tàu, Valia cuộn lèo lại.
Bây giờ tàu “Carabus” đã sẵn sàng chuyến viễn dương.
Kẻ nghĩ:
“Giá có một loại đại bác nổ chào trước khi rời bến thì hay…”
Nhưng tiếc rằng đại bác không có.
Karik đi lại trên tàu như thủy thủ từng trải, ngắm nghía đoàn thủy thủ và nhổ nước miếng qua mạn tàu.
Giờ phút trang nghiêm đã đến.
Karik giơ tay lên cao:
- Chú ý!
Đoàn thủy thủ chăm chú theo dõi vị thuyền trưởng.
- Đi theo hướng Tây Nam, mở hết tốc lực!
- Thưa thuyền trường, xin tuân lệnh – Ivan Germogenovich gào lên, vui vẻ nháy mắt với Valia.
Valia buông lèo ra. Gió căng những cánh buồm.
Tùa Carabus rung chuyển lắc lưu tựa như còn ngẫm nghĩ xem nên bơi đi hay ở lại bến cảng, rồi từ từ rời bến.
Vị thuyền trường dũng cảm hét lên:
- Mở hết tốc lực thằng tiến!
… Gió thổi.
Những gợn sóng lăn tăn chạy trên mặt nước. Con tàu chòng chành trên sóng. Bụi nước ấm áp bay vào mặt các nhà vượt biển. Con tàu băng lướt đi, rẽ nước hai bên mạn tàu.
Những con vật nào đó ngụp lặn xung quanh tàu “Carabus”. Chúng vượt qua con tàu nhảy lên khỏi mặt nước đùa giỡn như những con cá heo.
Một con vật trông giống như con thỏ có sừng hươu, mình hoàn toàn trong suốt bơi sát bên cạnh tàu rất lâu. Có thể nhìn thấy hết ruột gan người bạn đường kỳ lạ của tàu “Carabus” qua lớp vỏ trong suốt. Valia hỏi:
- Con gì thế bác?
Giáo sư đáp:
- Một loài bọ chét nước rất thông thường.
Valia đập cái que vào đầu con bọ chét nước. Nó biến mất.
Một con gì đó rất giống cái tàu ngầm vượt ngang qua con tàu. Con vật bơi dưới nước mà trên mặt nước thấy được dấu vết của nó. Nó suýt lao vào tàu Caraubus nhưng đến lúc cuối cùng lại ngoặt sang phải và biến mất. Valia hãi thì thầm:
- Con gì thế bác?
Ivan Germogenovich bình thản trả lời:
- Đó là con ốc rất thông thường!
- Con ốc hả bác?
- Ừ!
- Thế nó chuyển động thế nào ạ?
Ivan Germogenovich mỉm cười:
- Đó là một vấn đề rất khó đối với các nhà bác học. Tuy nhiên cuối cùng nó cũng được giải quyết mỹ mãn. Con ốc đi lại đầu chuối xuống nước. Giơ cái chân duy nhất lên, nó tiết ra mặt nước một chất nhầy để gắn nó vào mặt nước và trườn đi như cái bè.
- Thế thì làm sao nó nhìn được ạ?
- Nó nhìn rất tốt vì mắt nó nằm ở dưới chân.
Karik kinh ngạc:
- Thế thì lạ thật:
Ivan Germogenovich làu bàu:
- Hừ, thế thì có gì lạ? Chúng ta gặp những con vật không có miệng, những con vật nghe bằng chân, còn bay giờ thì ta thấy con vật nhìn bằng chân. Nhưng tất cả những cái đó chẳng có nghĩa lý gì so với điều bác có thể kể cho các cháu về những con vật kỳ quặc hơn… Tất cả những con vật này đều sống quanh ta. Đó hoàn toàn không phải là những con vật trong cổ tích của Anderson và anh em Grim. Những con vật này tồn tại trong truyện cổ tích hay nhất, tuyệt diệu nhất. Chuyện cổ tích đó chính là ‘đời sống”… Nhưng thôi, bác hay đọc bài giảng cho các cháu nghe quá. Bác sợ các cháu lại nghĩ rằng bác đến để giảng bài chứ không phải để đưa các cháu về nhà. Tốt nhất là chúng ta hát bài gì đi!
Nhưng đề nghị này làm bọn trẻ phát hoảng. Các câu chuyện kể của giáo sư đôi khi cũng buồn tẻ nhưng còn có thể nghe được. Còn nếu Ivan Germogenovich hát thì… chỉ có điếc và câm mới nghe nổi ông thôi. Bởi vậy Karik và Valia chỉ sợ giáo sư cất tiếng hát (mà ông thì lúc nào cũng chực hát lên thôi). Chúng bắt đầu hỏi ông huyên thuyên mọi chuyện, bạ gì hỏi nấy:
Ông hắng giọng nói:
- Nào, hát nhé… E hèm! Thí dụ như bài “Hãy tiến lên”. Nào… Một…
Valia vội vã hét lên:
- Ôi! Bác xem kìa! Cái gì ở dưới nước thế kia.To ghê quá!
Tàu Carabus đi trên những khối đất rằn ri nằm nghiêng trông chúng giống những cái tàu đắm.
Giáo sư nhìn xuống hồn nhiên nói:
- À, cái đó là thức ăn xưa kia của loài người đấy. Vỏ sò.
Thuở xa xưa trước kia những con sò này là thức ăn chính của loài người cũng như bánh mì đối với chúng ta bây giờ vậy. Giờ đây chúng ta lại kinh tởm nhìn thứ bánh mì cổ xưa ấy.
Karik nói:
- Cháu không nghĩ con sò lại ngon hơn bánh mì!
Ivan Germogenovich đồng ý:
- Cháu nói phải, nhưng cũng rất tiếc là một khối lượng lớn thức ăn như vậy bị bỏ phí vô ích. Nếu tập trung những con sò ấy lại cũng được hàng triệu tấn.
- Nhưng không thể ăn thì bắt chúng làm gì?
- Ở nước Đức chẳng hạn, người ta bắt chúng nấu trong các chảo lớn và…
- Không lẽ người ta ăn chúng sao?
- Không!... Người ta nấu cho heo ăn… Heo ăn thức ăn này thì rất chóng béo, thịt lại mềm và ngon.
Câu chuyện ngưng một lúc. Nhưng mỗi khi bọn trẻ nghe thấy tiếng hắng giọng đầy đe dọa – Có nghĩa là giáo sư chuẩn bị cất tiếng hát – là chúng vội hỏi ông điều gì đó.
Cứ như vậy qua đi mấy tiếng đồng hồ.
“Carabus” căng hết buồm lướt đi băng băng. Nhưng mặt trời lên cao rồi thì gió lặng đi.
Bây giờ con tàu lười nhát lê đi trên ngọn sóng chết, chỉ hơi khẽ lắc lư một chút. Những cánh buồm rũ xuống, vị thuyền trưởng buồn rầu rỉ. Các khách du lịch ngồi trên mạn tàu thả chân xuống nước lạnh mát.
Những con vật dưới nước đàu giỡn trong làn nước rung rinh. Chúng chạy loăng quăng giữa khu rừng xanh ở dưới nước mọc nhô lên từ đáy hồ tăm tối.
Valia nằm dài trên boong. Cô thò đầu qua mạn tàu ngắm nhìn những bụi cây runh rinh dưới nước.
Cuối cùng con tàu đi hết khu rừng dưới nước. Bây giờ ở phía dưới tàu Carabus là đáy hồ với những núi đồi xám. Những con rắn khổng lồ màu đỏ đang uốn khúc bò trên những sườn đồi. chúng đông đúc đến nỗi nhiều nơi đáy hồ tựa như màu đỏ.
- Trời ơi, nhiều quá! Chúng là những con gì thế bác?
- Culicida hyronomus… Nói giản dị thì đó là ấu trùng của muỗi giãy chân. Mồi ăn hảo hạng cho các. Thức ăn yêu thích của tất cả lũ ca tép nhỏ.
- Tại sao gọi chúng là muỗi giãy chân hả bác?
- Tại vì nó đốt và chân người làm nguời ta giãy lên.
- Có nghĩa là tất cả muỗi đều là muỗi giãy chân vì chúng đều đốt vào chân người ta cả. Thế mà cháu không biết!
- Không phải đâu! – giáo sư nói – Đó chỉ là tên gọi một loài muỗi thôi. Những loài muỗi khác lại có tên gọi khác.
- Sao hả bác? – Karik ngạc nhiên – Muỗi cũng có nhiều loại ư bác? Thế mà cháu cứ tường muỗi nào cũng thế cả.
- Ồ không đâu. Chúng có hàng trăm loài. Chỉ nội trong vùng chúng ta cũng đã có nào muỗi mắt, muỗi xét, muỗi mòng, muỗi sốt rét, muỗi thường… Thậm chí có cả muỗi tuyết nữa kia.
- Nó trắng như tuyết hay sao bác?
- Không phải! Gọi nó là muỗi tuyết vì nó sống trên tuyết.
- Chẳng lẽ mùa đông muỗi cũng sống được ạ?
- Cuộc sống có bao giờ dừng lại đâu dù mùa hạ hay mùa đông – Ivan Germogenovich đáp – Mùa hè thì có loài côn trùng mùa đông lại có loài khác. Thí dụ ta có thể gặp trên tuyết các loài bọ chét tuyết, giun tuyết, nhiện tuyết, muỗi không cánh và rất nhiều loài khác nữa.
Valia e sợ nhìn những ấu trũng muỗi giãy chân hỏi:
- Thế muỗi nào cũng đốt cả hả bác?
- Ấu trùng muỗi không đốt. Thậm chí con muỗi giãy chân đã trường thành cũng không động đến cả người lẫn xúc vật khác. Và nói chung muỗi ở ta đốt có nghĩa lý gì? Chích một chút! Chuyện vặt vãnh!
Ivan Germogenovich vuốt râu mỉm cười:
- Muỗi ở trên đảo Barbado đốt mới thực sự là đốt.
- Đốt ra sao ạ? Chắc đau lắm phải không? – Valia thì thầm.
- Khá đau đấy!... Có một trường hợp xảy ra như thế này: Ở thành phố Veraruxe có một bà bị hôn mê. Người ta tường bà ấy chết vì mặt trắng bệt ra, người lạnh toát. Họ bèn đặt bà ấy vào quan tài rồi để ở ngoài hiên.
- Thế rồi sao nữa ạ?
- Khi đêm tới một đám muỗi Barbado bay đến hiên nhà: Chùng đậu đầy người bà tưởng chết đó và đốt bà đau đau đến nổi bà tỉnh lại và trong hơn hoảng hốt làm bật tung nắp quan tài, rồi cứ thế chạy ra đường phố với cái nắp quan tài trong tay.
- Thế sau này bà ấy không chết nữa ạ? – Karik hỏi.
- Đúng thế! Sau chuyện này bà ấy sống cho tới già.
Đột nhiên Valia nhảy lên và kêu to:
- Trời ơi! Bác xem kìa! Một con barbado đang bơi… Úi chà!
Ở dưới nước phái cạnh tàu có một con vật dài màu xám đầu rất to đang bơi vút qua. Nó giống như được chắp lại từ những mẫu khác nhau. Cái đuôi rộng giống như ba cái lông gà trống ve vẩy nhanh kinh khủng.
Chốc chốc con vật lại dừng lại, căng mình ra như sợi dây đàn rồi bỗng phồng mình lên rất mau. Phồng lên đến hết cỡ rồi nó bèn phóng ra phía sau một luồng nước rất mạnh, luồng nước đẩy nó lên cứ như một cái tên lửa.
- Ấu trùng của chuồn chuồn đấy! – giáo sư nói.
Karik tư lự nói:
- Giá ta sử dụng nó thay cho động cơ nhỉ?
Giáo sư bật cười:
- Ta không kham được động cơ đó đâu! Các cháu ạ, ấu trùng chuồn chuồn là con vật rất nguy hiểm. Nó tấn công cả cá nhỏ và ăn thịt chúng. Thế mà một con cá nhỏ so với chúng ta thì to bằng cả co voi.
- Mẹ chuồn chuồn của nó kia rồi! Bác xem kìa, nó đi đâu thế kia?
Một con chuồn chuồn đầu to mắt lồi khép cánh vào lưng bám vào một thân cây mọc gần dưới nước bắt đầu bò xuống đáy, đầu chúc xuống dưới. Karik ngạc nhiên hỏi:
- Nó làm sao thế? Muốn tự tử à?
Valia ngắm con chuồn chuồn, nghĩ ngợi một lát rồi ngập ngừng nói:
- Chắc là nó đi thăm con của nó. Nhớ con quá nên lại thăm. Đơn giản vậy thôi.
Giáo sư cười ầm lên và nói:
- Đơn giản hơn và chính xác hơn là thế này: chuồn chuồn xuống nước để đẻ trứng.
Valia nói:
- Úi cha, trông nó dễ sợ quá!
Ivan Germogenovich phản đối:
- Sao cháu lại nói thế, nó rất đẹp đấy chứ! Không phải vô cớ mà người Đức đặt cho nó cái tên rất nên thơ “thiếu nữ dưới nước”, còn người Pháp thì gọi chuồn chuồn là “cô gái”.
Lúc này có một đợt sóng lan trên mặt hồ. Cánh buồn reo phần phật. Phía sau đuôi tàu nước vỗ ì ầm. Karik kêu lên:
- Tất cả về chỗ!
- Xin tuân lệnh thuyền trưởng! – Ivan Germogenovich đáp.
Và con tàu lại rẽ sóng lao đi.
Tàu Carabus hơi lượn quanh những hòn đảo phẳng màu xanh. Đó là những chiếc lá hoa súng dày dặn.
Cuối cùng tàu Carabus đi tới vùng nước trống.
Karik đưa tay lên che nắng chói nhìn ra xa.
Cậu nhìn thấy bờ hồ đây sương mù tít ở xa sau mặt hồ xanh lấp lánh dưới ánh mặt trời. Bờ gần như hòa chung với nước. Những đám mấy trắng bồng bềnh trên dải đất xanh lơ.
Khi Karik đã quen mắt nhìn, cậu trông thấy ở mãi chân trời một vệt mỏng manh như cái đanh ghim. Trên đầu có một vật rung rinh giống như là lông tơ màu đỏ.
- Kia rồi! Ngọn hải đăng của chúng ta. Bác Ivan Germogenovich ơi, bác lái chếch về phía bên phải đi. Thế… thế… thêm chút nữa! Kéo mạnh lèo phải! Nữa đi! Nữa đi! Đủ rồi! Cứ giữ như vậy đi!
- Xin tuân lệnh – giáo sư gào lên.
Tàu Carabus lao thẳng về phái bờ. Đột nhiên khắp xung quanh vang lên những âm thanh. Khắp mặt nước và bầu trời tiếng hát ngân vang.
Karik sợ hãi nhìn quanh, vội vàng từ cột buồm xuống boong tàu.
Giáo sư nheo mắt nghiên đầu đăm chiêu lắng nghe tiếng nhạc kỳ diệu.
Tựa hồ như có hàng ngàn cây đàn viôlông và Sáo đang dạo lên một khúc hát đơn giản nhưng rấ du dương.
- Đây – giáo sư thở dài nói – thuở xa xưa chàng Ôđixê huyền thoại cũng bơi trên biển như thế này và các nữ thủy thần đã hát xung quanh con tàu của chàng.
Karik hỏi:
- Vậy là các thủy thần đang hát đó ư bác?
Ivan Germogenovich nói:
- Không phải đâu. Các nữ thủy thần là những cô gái huyền thoại ở trên biển mê hoặc các khách đi đường bằng tiếng hát của mình. Còn những còn vật lúc này đang hát đơn giản chỉ là những con rệp nước. Âm nhạc của nó êm ái thật đấy chứ?
Valia nói:
- Rất êm ái.
Giáo sư nói:
- Quả thật là những con thú hung ác hát hay thật.
- Ác thú ư bác?
- Chính vậy. Vì đó là những con rệp nước Corici. Một lũ kẻ cướp phàm ăn, tuy vậy thật tài năng như các nữ thủy thần trong thần thoại.
- Thế chúng hát bằng cách nào ạ? Chẳng lẽ rệp biết nói hay sao?
Ivan Germogenovich nói:
- Chúng hát bằng chân. Một chân trước của con rệp đực có lông cứng… Con rệp vuốt cái chân trước thứ hai lên những cái lông cứng này như kéo vĩ đàn viôlông và tạo nên âm nhạc.
Karik và Valia muốn thấy những con rệp kéo viôlông. Nhưng dù chúng có nghển cổ tìm kiếm cũng không thấy được những con rệp nước đâu cả.
Những con rệp nước Corici đang ngồi ở đâu đó trong khu rừng dưới nước.
Trong khi đó con tàu Carabus vẫn căng buồm lướt đi về phía bờ dốc thoai thoải đang hiện ra mỗi lúc một gần hơn.
Đã thấy những viên đá nhô lên khỏi mặt đất và ở đôi chỗ có những bãi bồi màu vàng.
Khu rừng cỏ ven bờ trông mỗi lúc một rõ hơn.
Karik hỏi:
- Chúng ta sẽ cặp bờ vào đâu ạ?
Ivan Germogenovich đưa mắt nhìn bờ rồi đáp:
- Vào chỗ nào cũng được. Gần hơn hay xa hơn một chút bây giờ cũng chẳng quan trọng lắm. Đằng nào chúng ta cũng sẽ phải đi bộ.
Valia thở dài:
- Chẳng lẽ phải đi bộ ư? Ôi chao, cháu chán ngấy chuyện đó rồi!
Ivan Germogenovich nói:
- Không sao đâu, cháu Valia ạ! Chịu khó một chút. Bác hy vọng là cuộc du lịch của ta rồi thế nào cũng kết thúc. Bác cũng muốn mau mau về nhà. Các sinh viên trường đại học đang đợi bác. Sắp có các kỳ thi đến nơi rồi!
Đột nhiên giáo sư phá lên cười:
- Giả sử như các sinh viên của bác nhìn thấy bác trên chiếc tàu bằng lá sồi này với những cánh buồn bằng cánh ruồi thì không biết họ nói sao nhỉ. Bất cứ ai trong bọn họ cũng có thể cho bác vào túi áo gilê hoặc giắt vào thắt lưng. Ha ha ha!
… Lúc đó vào khoảng buổi trưa.
Đang lướt qua những hòn đá, tàu Carabus nhẹ nhàng đi vào bờ, khẽ lắc lư trên gợn sóng lăn tăn.
Các khách du lịch lên bờ.
Câu cột hải đăng nhô lên sau khu rừng gần nhất.
Karik ngoái lại nhìn. Cậu buồn bã trông theo con tàu Carabus, vẫy tay từ giã và thở dài não nuột:
- Vĩnh biệt! Carabus! Đừng quên người thuyền trưởng của mày nhé!
Valia nói:
- Thế mà cháu cứ nghĩ là ta sẽ đi tàu đến tận cây hải đăng.
Ivan Germogenovich nhún vai:
- Cháu nghĩ thế thật vô bổ!
- Thế tại sao chúng ta lại chất lên tàu nhiều thức ăn đến thế?
Karik phẫn nộ:
- Sao em lại hỏi thế? Ngộ lỡ gặp bão thì sao? Ngộ nhỡ ta rơi vào một tàu lá mọc trên mặt nước trơ trụi thì sao? Lúc đo em lấy gì mà ăn?
Ivan Germogenovich nói:
- Đúng lắm! Khi đi đường cần phải biết phòng xa. Chẳng thà sau đó phải vứt bỏ những thứ dư thừa, còn hơn là chết đói.
*****
Chừng hai ba tiếng đồng hồ sau đó, giáo sư và bọn trẻ an vị ở chỗ bìa rừng và ăn uống no nê.
Ivan Germogenovich đứgn dậy, lấy cánh hoa chùi râu ria và tay rồi nói:
- Nào, bây giờ chúng ta…
Giáo sư không nói hết câu. Ông ném vội cánh hoa, chạy nhanh nhẹn như một chú bé lên một ngọn đồi gần đó.
- Thế đó! – Ông ngẩng lên cao nhìn và nói – Tốt lắm! Rất tốt! Tuyệt diệu!
Bọn trẻ cũng ngẩng đầu lên.
Những con vật lông lá nặng nề đang bay trắng những cánh rừng trong thư thủy tinh lướt trên khu rừng.
Bác Ivan Germogenovich đang ngắm nhìn chúng chăng?
- Ong vẽ! – Karik nói:
- Không phải ong vẽ mà là ong hoa! – Giáo sư chữa lại.
Những con ong hoa màu vàng sẫm bay lượn trên khu rừng cỏ rậm rạp. Chúng vo ve hạ xuống những cái cây kỳ lạ có cái mũ màu đỏ tía hoa là thay cho vòm lá. Những con ong đậu lên những cái mũ ấy, loay hoay trong đó rồi bay vọt lên bay về phía ngọn hải đăng và biến mất ở đó. Hẳn là chúng đã hạ xuống đất.
Giáo sư nắm lấy tay bọn trẻ, nhìn chăm chú vào chúng rồi nói:
- Thế nàu các cháu ạ! Bác vừa nghĩ ra một kế hoạch rất táo bạo… Chúng ta sẽ đi tiếp bằng cách bay trên con ong hoa.
Bọn trẻ sợ hãi bước lùi lại.
- Ong hoa?... Cháu…. Cháu không muốn bay trên ong hoa đâu. Cháu sợ chúng lắm – Valia nói.
Giáo sư quàng vai Valia:
- Cháu đừng sợ! Hoàn toàn không có nguy hiểm gì cả. Ngay cả ấu trùng của bọ dừa yến cũng bay trên con ong hoa mà ong có làm gì nó đâu.
- Hay ta bay trên con ong thường có hơn không? – Karik hỏi.
Giáo sư lắc đầu:
- Không được, không thể bay trên ong thường được. Chúng sẽ lôi ta về tổ ong và ta sẽ chết ở đó. Còn con ong hoa sẽ đưa ta đến ngọn hải đăng. Hình như tổ của nó ở đấy. Các cháu có nhìn thấy không, chúng nó đều bay về đó cả. Bởi vậy ong hoa thích hợp cho ta chứ không phải ong thường.
Valia lắc đầu quầy quậy:
- Không, dù thế nào cháu cũng sợ lắm! Cháu…
Ivan Germogenovich ngắt lời cô:
- Này, cháu khoan đã! Bác sẽ kể cho cháu nghe tỉ mỉ ấu trùng bọ dừa đi du lịch trên lưng con ong hoa ra sao. Lúc ấy chắc cháu sẽ hết sợ.
Giáo sư ngồi xuống đỉnh đồi, để bọn trẻ ngồi sát bên và bắt đầu kể:
- Bác tha thiết đề nghị các cháu đừng lẫn lộn bò dưa yếm với bọ dừa tháng năm. Đó hoàn toàn không phải là một loại. Con bọ dừa yếm có đặc điểm kỳ lạ… Hầu hết côn trung đều có ba lần biến hóa: trứng nở ra ấu trùng, ấu trùng thành kén, rồi kén nở ra côn trùng. Nhưng con bọ dừa yếm lại có bốn lần biến hóa? Trứng, ấu trùng, triungulina, rồi ấu trứng, kén và bọn yếm trưởng thành. Các cháu nhớ nhé: Triungulina! Chính con ấu trùng triungulina này chỉ có ăn ong mật thôi… Làm sao nó tìm đường đến tổ ong?... Ai chỉ đường cho nó đến chỗ ong ở? Ai mang nó lên tổ ong?
- Chắc là mẹ nó! – Valia nói.
Ivan Germogenovich cười nhạt:
Trông mong vào mẹ thì không xong rồi. Khi ấu trùng chui ra khỏi trứng thì thông thường mẹ của nó đã chết rồi… Để rơi vào tổ ong sống nưong nhờ ở đó hoàn toàn, ấu trùng triungulina phải leo lên bông hoa nấp ở đó chờ ong tới. Khi con ong vừa đậu và bông hao, thì ấu trùng triungulina bám ngay vào gấu áo lông lá của con ong, bám chắc vào đó cho tới khi con ong về đến tổ. Cháu hiểu chưa, Valia? Còn bây giờ cháu thử nghĩ mà xem: một con triungulina xuẩn ngốc nào đó không sợ bay đi trong không trung nữa là cháu.
Valia thở dài:
- Thì bởi vì nó là con triungulina! Nó lại xuẩn ngốc nữa..
Karik nói:
- Thôi em đừng có nhút nhát như thế nữa! Nếu ta không bay trên con ong hoa thì đành phải đi bộ. Có thể ba tuần cũng có khi hàng tháng. Lại còn chưa biết sẽ xảy ra những chuyện gì nữa. Dọc đường có thể gặp hàng ngàn nguy hiểm mới nữa. Một con bọ cánh cứng nào đó chén chúng ta hay một con sâu nào đó dẫm bẹp. Cũng có thể con bướm nào đó hất chúng ta xuống vực. Thế thì thà bay trên con ong hoa còn hơn! Vả lại… thiếu niên tiền phong đâu có được nhút nhát.
Valia giọng run run nói:
- Thôi được! Thì bay trên con ong hoa vậy! Phải leo lên bông hao nào đây?
- Đây này! Lên cái quả cầu to tướng đang đung đưa ở trên cao kia kài. Đó là hoa cỏ ba lá đỏ. Loại hoa ưa thích của ong hoa.
Ivan Germogenovich và bọn trẻ leo lên thân cây cao vút tới bông hoa màu đỏ tím hoa cà rồi nấp vào sau những cái ống chưa trong mình một giọt mật trong tinh khiết.
Valia thì thầm hỏi:
- Liệu ong hoa sắp tới chưa?
- Làm sao anh biết được? – Karik cũng thì thầm đáp lại.
Giáo sư khẽ rít lên:
- Có im đi không?
Họ ngồi như vậy hơn một giờ đồng hồ.
Cuối cùng có tiếgn cánh đập vù vù trên đầu họ. Một cái bóng to che khuất bầu trời tựa như có đám mây phủ lên mặt trời.
Valia nép sát vào anh. Tim đập mạnh. Chân tay run rẩy. Cố muốn nói điều gì đó nhưng không thốt nên lời. Giáo sư nói rất nhỏ:
- Chuẩn bị!
Valia xiết chặc tay Karik.
Những cái cánh hùng mạnh quạt vù vù ngày càng mạnh hơn. Một con ong hoa xù xì long lá liệng vòng rồi hạ xuống như tấm da gấu. Bọn trẻ nghe thấy tiếng khàn khàn của giáo sư:
- Nắm cho chắc nhé.
Chúng bám tay vào đám lông và lập tức bay vọt lên cao. _________________ Anh ơi đợi em về!
Đợi em về, anh nhé!
Mưa có rơi dầm dề
Ngày có buồn lê thê
Thì anh ơi cứ đợi! |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
Marutxiadihoc Bánh mì đen - Черный хлеб


Tuổi: 39 Tham gia từ: 27 Oct 2006 Bài viết: 61 Đến từ: Bắc kinh
|
Gửi: 01-Nov-2006 6:03 pm Tiêu đề: Re: Những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của Karik và Valia - Ian Lari
|
|
|
Chương 17
-MẢNH ĐẤT KỲ LẠ
- GIÁO SƯ CHIẾN ĐẤU VỚI CON BƯỚM
– NHỮNG CUỘC PHIÊU LƯU CỦA KARIK VÀ VALIA TRONG HÒM GỖ DÁN
– CON BƯỚM ÉGOPHOR QUÝ GIÁ
– GIÁO SƯ BỊ ĐÓNG HÒM
– TRÊN ĐƯỜNG VỀ THẾ GIỚI CŨ
Gió làm các khách du lịch nghẹt thở. Mặt đất đung đưa rồi biến mất. Giáo sư hét lên:
- Giữ cho chắc!
Bọn trẻ chỉ thoáng nghe thấy tiếng ông. Tiếng ầm ầm đều đều của cán hong và tiếng gió rít làm át mọi tiếng động khác.
Đầu tiên con ong bay cao trên mặt đất. Sau đó nó có vẻ bị nặng quá hay là có thể bị đau nữa. Ba cặp tay bám chặt lấy đám lông, ba cặp chân cứ mỗi lúc rẽ ngoặc lại thúc vào bụng nó và ngực nó.
Con ong hoa bắt đầu bay vật vã từ bên này qua bên kia, chắc là muốn ném các hành khách không mời xuống.
Nó hạ thấp dần, vừa bay vừa lắc mình nhưng không sao rũ bỏ gánh nặng được.
Valia chóng mặt, tim thắt lại.
Giáo sư sợ hãi ngó chừng cô.
Chỉ cốt sao cho cô bé tội nghiệp giữ cho cắhc đừng tay ra!
Đột nhiên con ong đập cánh mạnh hơn nữa.
Gió rít ù tai các khách du lịch.
Con ong hoa như một mũi tên lao xuống dưới.
Karik thoáng nghĩ:
“Thật là đáng tiếc nếu nó hạ cánh sơm quá. Ít ra cũng phải được nửa đường thi tốt!”
Mặt đất mỗi lúc một gần hơn nhanh chóng.
Giáo sư và bọn tre co chân lại để khi hạ xuống đặt chân lên vất gì cứng rắn.
Những ngọn câu của rừng cỏ mỗi lúc một gần hơn.
Và bây giờ những cái va chạm mạnh, một cái, hai cái, ba cái…
Một cái va nữa và các khách du lịch bắn ra khỏi khoang ngồi trải nệm em, rơi thằng xuống đất.
Bọn trẻ và giáo sư bị lăn tròng lộn qua đầu teen một bãi cỏ êm ái màu xanh lo có những mô đất và đồi núi cũng êm như vậy.
Cuối cùng khi lộn một vòng sau chót giáo sư bay tay vào bờ cạnh một tảng đá to và nhẵn.
Ivan Germogenovich đứng dậy. Ông vịn tay vào bờ cạnh tảng đá, vừa rên rỉ vừa tập tễnh đi xung quanh nó. Ông sờ mặt đá nhẵn nhụi và bằng phẳng giống như một cái cối xay đá, miệng lẩm bẩm:
- Kỳ là thật! Cái gì thế này nhỉ?... Ở kia có một tảng đá cũng tròn ye hệt… Lại thêm một tảng đá thứ ba và thứ tư…
Giáo sư khó khăn lắm mới trèo lên được một tảng đá và nhìn ngắm xung quanh mình. Trước mắt ông là một mảnh đất kỳ là. Nó giống như một bàn cờ. Những con đường cái dài màu xanh chạy cắt nhau từ cạnh này sang cạnh kia. Ông cúi xuống tảng đá tròn kỳ lạ, xem xét thật kỹ bề mặt màu đen bóng láng của nó và đột nhiên phán đoán táo bạo hiện lên trong đầu ông. Giáo sư đập tay vào trán:
- Cái cúc áo! Mình đang đứng trên cái cúc ái!... Còn mặt đất hình bàn cờ và con đường cái màu xanh là… chính là… Ô! Các cháu ơi! – ông gọi Karik và Valia lúc ấy đang ngồi trên mô đất kẻ sọc ô vuông hoa bóp cạnh sườn và đầu gối bị đâu – Các cháu ơi! Chúng ta gần như ở nhà rồi! Đây là cái áo khoác của bác.
Bọn trẻ sung sướng nhảy hết cả lên:
- Thế cái hòm?... Cái hôm với bột thuốc làm lớn trở lại? – Valia nóng nảy kêu lên.
Giáo sư đứng bên cạnh cái cúc áo chăm chú quan sát vùng phụ cận của chiếc áo. Ông tìm chiếc sào có khăn đỏ. Nhưng không thấy cây sào đâu cả. Ivan Germogenovich nhún vai:
- Lạ thật… Lạ quá đi mất!
Ông nhìn kỹ một lần nữa và bỗng thấy cây cột khổng lồ nằm dưới đất. Một đầu dẫn đi mãi tít xa về phía tây. Rừng cây giãn ra và đường thẳng phân ranh giới kéo dài mãi về nơi xã thẳm, hòa vào đường chân trời màu xanh.
- Nó đổ xuống rồi! Đồ kẻ cướp! Nó đổ xuống đây mà! Chắc mới đổ cách đi độ mươi phút.
Bọn trẻ đồng thanh hỏi:
- Cái gì đổ hả bác?
- Cột hải đăng… Nhưng chẳng hề chi. Chúng ta đã đến nơi rồi. Cái hom phải ở đâu đây… Ở bên cạnh cột hải đăng. Các cháu hãy đi theo bác nào!
Giáo sư phấn khởi chạy theo cái ve áo nhảy qua những cái khuyết và vấp vào những sợi chỉ. Karik lóc cóc chạy theo sau.
Đến chỗ gấu áo mọi người dừng lại cả. Khu rừng cỏ đang rì rào ở phía trước.
Xuyên qua những khoảng trống của cánh rừng họ nhìn thấy một tòa nhà màu vàng.
- Hoan hô! – Bọn trẻ sung sướng nắm tay nhau chạy bổ về phía cái hòm.
Giáo sư cũng chạy lại, vừa thở hổn hển vừa xoa tay xúc động nói:
- Thế đấy! Thế đấy! Cuối cùng đã chấm dứt mọi khổ đau! May mà chúng ta không sợ con ong hoa! Tuyệt thật! Giá như đi bộ thì chúng ta không thể đến cái hòm sớm hơn thế được! Các cháu thấy đấy, cây hải đăng chỉ đổ chỉ một vài phút trước khi chúng ta hạ xuống đất!... – Đúng thế! Dũng cảm – tức là hạnh phúc!
Giáo sư xoa tay lên vầng trán hói rồi xúc động nói:
- Như vậy, các cháu ơi! Một phút sau đây chúng ta sẽ trở lại to lớn như bình thường. Ở bên bức tường của hòm gỗ này cuộc du lịch đầy nguy hiểm gian truân của chúng ta đã kết thúc. Chúng ta đang đứng bên ngưỡng cửa của thế giới rộng lơn. Nhưng trước khi từ giã cái thế giới nhỏ bé này bác muốn nói với các cháu đôi lời… Các cháu đã nhìn thấy được rất nhiều điều trong ngày qua. Nhưng nói thật với các cháu các cháu chỉ nhìn thấy một phần nhỏ xíu của cái thế giới nhỏ bé này. Các cháu chỉ mới có đọc vài dòng trong quyển sách lớn có tên gọi là “thiên nhiên”. Và bác phải nói là những dòng này chưa phải là những dòng hay nhất đâu. Trong quyển sách “thiên nhiên” còn có những trang khác, đọc nó thì không sao dứt ra được.
Các cháu tạm thời chỉ thấy một mẫu tí xíu của thế giới kề cận ta… Thế giới này nhỏ bé, không dễ nhận thấy. Thế nhưng nó lại là một bộ hpận rất quan trọng của thế giới rộng lớn mà ta sống trong đó. Đời sống của nó gắn chặt với đời sống của chúng ta… Ít ra thì cũng chặt chẽ hơn nhiều so với sự hiểu biết của nhiều người.
Trong thế giới nhỏ bé này chúng ta có bè bạn và cũng có kẻ thf.
Tất cả ta cần phải biết rõ.
Rồi một lúc nào chúng ta còn trở lại đây. Chúng ta sẽ đến với một đoàn thám hiểm lớn trang bị từ đầu đến chân và sẽ chiếm lĩnh cái thế giới còn ít được nghiên cứu này.
Để làm cuộc viễn chinh đó ta chẳng cần tới chất lỏng làm bé người lại. Chúng ta sẽ đến với các ống kính hiển vi với kiến thức rộng lớn và kinh nghiệm của nhiều nhà bác học.
Sự kiên nhẫn là vũ khí của chúng ta.
Nhưng chúng ta sẽ nói kỹ hơn về chuyện này lúc đã trở về nhà rồi. Còn bây giờ chúng ta phải lo chuyện cấp bách nhất hiện nay: lớn trở lại bình thường.
Ivan Germogenovich bước lại bức tường của hòm gỗ dán. Ông dòm vào cửa sổ duy nhất, vui vẻ xoa tay nói:
- Mọi vật còn nguyên. Chui vào thôi, từng người một các bạn nhé. Các hộp đựng chặt bột làm lớn trở lại ở góc bên phải. Tiến hành đi thôi.
Karik và Valia theo nhau chui vào cửa sổ.
Giáo sư đỡ cho chúng vào và đã định chui theo đột nhiên một con bướm lấp lánh như có anh kim loại đậu trên thành hồm gỗ dán.
Đó là một con bướm rất nhỏ, chỉ lớn hơn giáo sư vài lần thôi.
Ivan Germogenovich ngước nhìn con bướm và đứng lặng người đi.
- Con bướm Ecophor sâu bướm câu ôliu – Ông thì thầm, cảm động đến nghẹn thở.
Ivan Germogenovich nép người vào thành hòm gỗ dán, hồi hộp căng thẳng như một người đi săn thấy con mồi quý hiếm ở gần.
Con Ecophor không để ý gì tới giáo sư, bò trên thành hộp qua trước mắt ông.
Tim Ivan Germogenovich đập manh.
- Đứng lại! – Ông hét to nhảy lên chộp lấy cánh con Ecophor. Con bướm cố giutwj ra và cả hai cùng lăn xuống đất.
Con Ecophor giãy giụa, đập cái cánh còn tự do, đạp chân vào ngực giáo sư. Nhưng Ivan Germogenovich không buông nó ra.
Ông nằm dưới đất bị con bướm đè lên nưhng vẫn ráng sức lực cố giữ lấy con mồi quý giá.
Ông quên hết mọi chuyện trên đời.
Điều đó cũng dễ hiểu thôi.
Trong tay ông là con Ecophor cây ôliu – loài sâu bướm nhậy rất hiếm ở vùng này, người đại biểu nhỏ bé nhất của bộ bướm cánh vẩy.
Làm sao mà con bướm chuyên sống ở vùng ấm áp lại có ở đây, trên thành hòm gỗ dán – điều này giáo sư không kịp nghĩ tới. Ông chỉ nhớ một điều: bộ sưu tập phong phú của ông trong hàng ngũ bướm thuộc họ sâu nhậy có đủ loại bướm phơi cánh dưới kính: cắn thảm, sâu bướm lúa, sâu bướm anh đào, sâu bướm sơn trà… nhưng đến nay vẫn còn thiếu con Ecophor – cây ôliu.
Bây giờ thì trong bộ sưu tập của ông sẽ có!
- Thôi mà, làm gì mà hăng thế! – Ivan Germogenovich cố thuyết phục con bướm bướng bỉnh đang kéo lê ông trên mặt đất, quyết thoát ra bằng được.
- Thôi… đủ rồi mà… Thôi đi mà.
*****
Trong khi Ivan Germogenovich vật lộn với con bướm sâu cây ôliu Ecophor thì Karik và Valia đi tới góc phải của hòm gỗ, nơi đặt hộp thuốc lớn trở lại.
Dần dần chúng quen mắt với bóng tôi mờ mờ.
Chúng nhìn quanh căn phòng trống rỗng với những bức tường trần trụi.
Ánh nắng xuyên qua chếch cửa sổ tròn rọi lên sàn. Những hạt bụi vàng quay lộn trong dải nắng và tia nắng giống như con đường sống động. Valia nhìn quanh nói:
- Ở đây cũng vui đấy chứ, anh Karik?
Karik không đáp. Cậu bước tới góc hòm để cái hộp trắng to như cái rương trên đó có phủ một lớp giấy dầu. Karik nói:
- Đây rồi!
Cậu leo lên cạnh hộp, gõ chân trần vào tường như đánh trống và chìa tay ra cho Valia.
- Nào, em leo lên đây.
Svl lêo lên và ngồi xuống bên Karik.
Karik hết sức xô cái nắp giấy dầu, khom mình xuống cái hộp và nói:
- Em hãy ăn và lớn trở lại đi!
Valia nói:
- Thế chúng ta không đợi bác Ivan Germogenovich hay sao?
- Không… Em biết thế nào không? Chúng mình lớn trở lại trước bác ây đi. Em thử nghĩ mà, lúc ấy sẽ thú vị lắm. Chúng to lớn rồi còn bác ấy thì vẫn bé tí.
- Được rồi, em đồng ý đấy! – Valia nói.
Cô nhanh nhẹn thò tay xuống dưới tấm giấy dầu lấy ra một nắm bột óng ánh như muối clorua Kali.
Cô đưa tay lên môi, mở miệng ra rồi đột nhiên hạn tay xuống quay lại hỏi Karik.
- Thế cần phải uống bao nhiêu để lớn trở lại?
- Càng nhiều càng tốt!
- Thế nhỡ chúng ta lớn quá đi thì sao?... Con gái mà cao như cái tháp thì chẳng hay ho gì!
Karik bình tĩnh đáp:
- Không sao, cứ ăn đi! – Nếu có lớn quá thì lại uống chất lỏng làm nhỏ lại cho cân. Thế thôi. Xem này, anh ăn đây. Thế đó.
Và Karik bỏ một nắm bột vào miệng.
- Xong rồi.
Valia nuốt một nắm bột rồi nhăn mặt nói:
- Chất lỏng làm bé lại ngon hơn…
- Đâu có! Cả bột cũng được đấy chứ… hơi chua chua.
Karik nhảy xuống sàn và kéo chân Valia.
- Bây giờ phải chạy mau ra khỏi chỗ này.
- Sao vậy? – Valia hỏi.
- Bởi vì ở đây sắp trở nên chật chội đối với chúng ta.
- Tại sao chật chội?
Karik phát cáu:
- Tại sao, tại sao mãi! Bởi vì chúng ta sẽ biến trở lại thành người lớn… ối chà! – Karik kêu lên vì cắn phải lưỡi.
Đầu cậu va vào trần.
Tiếng gãy răng rẵng vang lên và cái hòm vỡ tan.
Cậu nhắm mắt lại, lấy tay dụi rồi lại mở mắt ra.
Valia đang đứng trên mặt câu.
Cô vẫn thế, không thay đổi chút nào. Nhưng mọi vật xung quanh thì hoàn toàn khác hẳn: những cánh rừng xanh thì biến thành những đám cỏ bình thường. Một cây sào mảnh mai đầu có buộc mảnh giẻ đỏ đã bạc màu vì nắng đang nằm trên cỏ. Những con muỗi lại trở thành con muỗi.
Valia nói:
- Sướng thật! Anh nghĩ mà xe, bây giờ chả còn sợ muỗi nữa… Đập tay một cái là nó tiêu luôn.
Karik vẻ lo lắng ngắt lời cô:
- Khoan đã, thế cái hộp thuốc đâu rồi?
Chúng nhìn xuống chân.
Những mảnh hòm gỗ dán lăn lóc trên cỏ. Giữa đống mảnh gỗ àny là cái hộp bị lật úp, ở bên cạnh là mấu giấy dầu nhỏ xíu. Gió cuống lớp bụi trắng bay trên cỏ.
- Đó chính là thuốc bột làm lớn trở lại! Karik hoảng hốt thét lên, nhào xuống bắt các hạt bụi.
Nhưng đã muộn rồi.
Valia lo lắng hỏi:
- Bây giờ biết làm sao đây? Thế bác Ivan Germogenovich sẽ mãi mãi nhỏ bé như vậy hay sao? Không khéo chúng ta dẫm bẹp bác ấy rồi cũng nên.
Karik quát mắng cô:
- Thì em đừng có lăng xăng! Chưa biết chừng chính em dẫm bác ấy rồi.
Valia đứng sững một chỗ. Karik ngồi xổm xuống, xòe tay như cái lược rẽ đám cỏ mát rượi ra.
Nhưng tất cả chẳng mang lại kết quả gì.
Valia nói:
- Anh Karik ạ, chắc bác ấy ở gần đây và nghe thấy tiếng chúng ta gọi! Anh hãy nói để bác ấy tự bước ra.
Karik đồng ý:
- Phải đấy!
Cậu tìm thấy trong đám gỗ vụn một mảnh ván n hỏ và nhẵn nhụi, phủi hết bụi rác ở trên rồi đặt nó lên một chỗ bằng phẳng. Sau đso cậu nói nhỏ nhưng rành rọt:
- Bác Ivan Germogenovich ơi! Bác có nghe thấy chúng cháu nói không? Bác hãy bước ra bãi trống này. Đây, nó đây này! – Cậu gõ ngón tay lên miếng gỗ - Bác đừng sợ chúng cháu không động đậy đâu.
Mấy phút trôi qua.
Bọn trẻ ngồi không động đậy, cúi đầu ngó xuống mảnh ván.
Đột nhiên trên mảnh gỗ dán màu vàng xuất hiện một cái gì như con muỗi mắt.
- Bác ấy đó! – Valia thở ra nói.
- Khoan đã – Karik thì thầm – em đừng có thở ầm ầm như máy hơi nước ấy. Không khéo làm bay bác ấy khỏi tấm ván mất.
Karik nin thở cúi sát xuống mảnh gỗ.
Cậu nín thở chăm chú theo dõi nhân vật nhỏ xíu đang chạy tới chạy lui trên bờ cạnh vạn, Karik lấy tay che miệng nói:
- Đúng bác ấy, bác Ivan Germogenovich của chúng ta đó.
Valia thì thầm:
- Xem kìa, xem kìa! Anh thấy không, bác ấy đang động đậy cái tay kìa… Chẳng lẽ chúng mình cũng đã từng bé tí vậy ao?
Karik đáp:
- Thậm chí còn bé hơn nữa ấy chứ. Đừng nói chuyện nữa. Ngồi im đi.
Valia thậm chí ngưng thở.
Khi tất cả đều im lặng, bọn trẻ nghe thấy tiếm chiếm rất nhỏ - còn nhỏ hơn cả tiếng muỗi.
- Bác ấy nói cái gì đó! – Karik thì thầm và ghé sát tai vào miếng ván.
- Bác ấy nói gì vậy?
- Chịu không sao hiểu được!
Trong khi đó giáo sư nhảy từ miếng ván xuống đất và biên mất trong đám cỏ.
- Bác ấy đi rồi!
- Đi đâu thế?
- Chắc có việc cần. Cứ ngồi đợi đi.
Một lát sau ông lại xuất hiện. Lần này không chỉ có một mình ông. Valia nói:
- Xem kìa! Xem kìa! Có con gì đó tấn công bác ấy kìa.
Bọn trẻ khom mình trên miếng ván nhưng dù chúng đã căng mắt ra nhìn vẫn không sao hiểu nổi được: chính bác Ivan Germogenovich lôi com bướm đi hay con bướm lôi bám lấy ông không cho ông lên mảnh ván.
Com bướm đập cánh giẫy giụa làm giáo sư ngã lăn ra. Valia nói:
- Chúng ta phải giúp không có cái con bướm chết tiệt này ăn thịt bác ấy mất.
Giáo sư vùng vẫy ở bờ miếng gỗ dán vửa lí nhí kêu gì đó.
- Anh Karik! Anh có nghe thấy không?... Đó là bác ấy kêu: “Giúp tôi với! Giúp tôi với!”.
Valia chìa tay phía con bướm. Karik cản em lại:
- Khoan đã, hình như bác ấy nói cái gì đó nữa!
Nhưng Valia đã tóm lấy con bướm, vung tay ném nó đi chỗ khác. Sau đó cô nhắc tấm ván có giáo sư lên sát tận mắt nhìn rồi nói:
- Hình như bác ấy bực tức điều gì đó! Chắc là con bướm làm bác ấy một trận tơi bời.
Giáo sư giơ tay cao lên trời, chạy lăng xăng trên miếng ván và nói lí nhí gì đó. Ông lấy tay ôm đầu, dậm những cái chân nhỏ xíu. Valia nói:
- Bác đừng sợ! Nó không đụng đến bác nữa đâu. Cháu giết nó rồi!
Nhưng điều đó không làm giáo sư dịu đi. Ông lại vung tay mạnh hơn nữa và hình nưh còn nhổ nước miếng mấy lần. Thấy rõ Ivan Germogenovich giận dữ lắm. Valia an ủi giáo sư:
- Thôi được rồi! Để cháu tìm nó và giẫm nát nó ra cháu sẽ cho nó biết bắt nạt những người nhỏ hơn thì sẽ bị trừng trị ra sao.
Nghe thấy những lời đó, Ivan Germogenovich ôm lấy đầu bước loạng choạng rồi đột nhiên nhảy lên tưng tưng vừa la hét chiêm chiếp dữ dội đến nổi Karik hiểu ngay rằng giáo sư có điều gì quan trong muốn nói. Valia hét lên:
- Cháu sẽ dẫm nát nó ngay bay giờ.
Karik thì thầm nói
- Em đừng có hét lên thế! Em làm bác ấy điếc mất thôi. Bác ấy bé lắm mà. Thôi, đưa bác ấy cho anh.
Karik nâng niu giáo sư xuống lòng bàn tay rồi đưa sát lên tai. Cậu nghe thấy tiếng nói yếu ớt của Ivan Germogenovich:
- Ecophor, con Ecophor độc nhất!... một cái mẫu hiếm như vậy!... hiếm như vậy!....
Karik thì thầm:
- Bác ấy nói về con Ecophor gì đó!
Valia khẽ đáp:
- Đó chắc là tên gọi thuốc bột đó. Mà thuốc bột thì chẳng còn gì nữa…
Karik nhìn vào lòng bàn tay chậm rãi nói từng lời:
- Bác Ivan Germogenovich ơi, biết làm sao bây giờ? Gió cuốn tất cả chỗ bột thuốc đi mất… Chúng cháu đâu có lỗi…
Rồi cậu lại đưa bần tay lên sát tai.
- Cái đó không sao cả! – Ivan Germogenovich nói lí nhí rất khó nghe – Trong phòng thí nghiệm của bác còn vài gam thứ bột đó… Đưa bác về nhà… Nhưng trước hết phải tim con Ecophor đã… Nó ơ đây thôi…Trên cỏ đó…
Karik hỏi:
- Thế Ecophor là cái gì ạ?
Ivan Germogenovich lí nhí nói:
- Ecophor là con bướm thuộc nhó sâu nhậy…chỉ có ở miền nam thôi… Ở miền này những con bướm ấy cực kỳ hiếm thế mà Valia lấy mất của bác… Bắt nó phải tìm lại ngay.
Karik nói:
- Này Valia, đi tìm Ecophor. Tự em đã ném cái của hiếm ấy đi thì bây giờ lo mà kiếm lại.
Valia cúi xuống, sờ soạng và túm lấy cánh, giơ cao con bướm đã gần chết lên.
- Có phải con này không bác? – Karik vừa hỏi vừa chỉ vào con bướm.
Ivan Germogenovich vui sướng reo lên:
- Đúng nó đấy! mang nó về nhà cho bác. Có điều bác xin các cháu cẩn thận hộ cho… đừng có chập hai cánh lại với nhau.
Karik hỏi:
- Về nhà chúng cháu phải đi theo hướng nào ạ?
- Cháu cứ đi thẳng đến cái ao đừng rẽ đi đâu cả. Sau cái ao cháu sẽ thấy đường cái về thành phố. Chỉ có một con đường về thành phố thôi mà.
Karik ngắt một chiếc lá mã đề rất to, khéo léo cuốn lại thành cái phễu rồi thận trọng đặt xuống đáy phễu nhà bác học vĩ đại Ivan Germogenovich Enotov. Cậu nói với Valia:
- Nào, bây giờ thì chạy về nhà thôi. Nhưng em cẩn thận đấy, đừng có làm mất con Ecophor.
- Khoan đã… Chúng ta cứ trần truồng thế này về thành phố sao được!
Karik tỏ ý coi thường:
- Cần quái gì!
Valia nói:
- Karik, không, em không đi thế này đâu! Kỳ lắm!
Karik ngạc nhiên:
- Sao lại kỳ?
- Tại vì em gầy quá! Xương sống xương sườn cứ phơi ra hết thế này thì người ta cười cho.
- Không sao đâu, ta chạy thật nhanh vào.
Valia lắc đầu lìa lịa:
- Dứt khoát không được, phải mặc quần qao vào đã.
Valia nhặt cái áo sơ mi nhàu nát ở dưới đất rồi khoát lên mình.
- Có gì khác hình nộm. Em thử tự ngắm mình xem có ra cái gì không?
Cái áo sơ mi của Ivan Germogenovich. Valia mặc dài đến tận gót. Ống tay áo thì đến đầu gồi. Nhưng dù sao cũng có quần áo. Valia xắn tay áo lên và vận áo sơ mi như cái váy. Valia không để ý đến sự chế nhạo của Karik, hỏi cậu:
- Thế còn anh thì sao? Anh cũng lấy cái quần áo nào của bác Ivan Germogenovich mà mặc vào chứ!
Karik đành phải mặc cái quần dài của giáo sư vào.
Cậu kéo cái quần lên tận cổ. Valia tán thưởng:
- Rất đàng hoàng!
Karik bơi trong hai ống quần. Cậu đi được vài bước thì vấp ngã. May mà cậu kịp giơ cao cái tay đang nắm giáo sư ở trong. Nếu không thì có lẽ đã tuột mất hoặc đè bẹp Ivan Germogenovich rồi.
- Phải xắn quần lên! – Valia khuyên anh và giúp cậu sửa sang lại.
Karik làm theo như vậy.
Cuối cùng việc chuẩn bị đã xong.
Karik cầm lấy tay em và cả hai tựa như đã hẹn trước, đồng thành cất tiếng hát:
Hãy tiến lên – Kèn đang gọi lên đường.
Hỡi các bạn trẻ dũng cảm.
Hãy ngẩng cao đầu và chân đi đều bước.
Như những đại bàng cánh lướt trời mây.
Phía sau cái ao là con đường trải nhựa thằng tắp như mũi tên. Con đường dẫn về phía thành phố. _________________ Anh ơi đợi em về!
Đợi em về, anh nhé!
Mưa có rơi dầm dề
Ngày có buồn lê thê
Thì anh ơi cứ đợi! |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
Marutxiadihoc Bánh mì đen - Черный хлеб


Tuổi: 39 Tham gia từ: 27 Oct 2006 Bài viết: 61 Đến từ: Bắc kinh
|
Gửi: 01-Nov-2006 6:04 pm Tiêu đề: Re: Những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của Karik và Valia - Ian Lari
|
|
|
Chương Kết
- CUỘC TẤN CÔNG BẤT NGỜ
- MÔN SINH VẬT HỌC DÙNG ĐƯỢC VIỆC
– TRỞ LẠI NHÀ
– NIỀM VUI VÀ NỔI XÚC ĐỘNG CỦA GIÁO SƯ ENOTOV
– NHỮNG LỜI ĐỒN ĐẠI HOANG ĐƯỜNG VỀ VOI VÀ RUỒI
Khi Karik và Valia bước vào đường phố thì trời đã tối.
Những ánh lửa vàng chiếu sáng trên cửa sổ các căn nhà.
Đường phố vắng tanh.
Ở đâu rất xã có tiếng trẻ con la hét. Chắc hẳn chúng đang chơi trò kỵ binh Kozak đuổi bọn cướp.
Một vầng sáng đèn điện màu xanh lơ chiếu xuống khu vườn rẩm rạp mang tên “Vườn quốc tế cộng sản”. Tiếng ca nhạc âm vang, những cái đu kêu cót két. Mọi người đang cười nói ầm ĩ trong vườn. Tiếng chuông reo vui vẻ và tiếng kèn vang lên như vẫy gọi.
Karik lắng nghe rồi nói:
- Có cuộc vui ở vườn hoa. Như vậy hôm nay là ngày nghỉ.
Valia hỏi:
- Thế chúng mình mất tích hôm nào?
- Lâu lắm rồi.
Valia thở dài:
- Chắc độ hai tuần lễ. Thế mà cứ tưởng như mấy năm trôi qua.
Vườn hoa cách nhà không xa lắm. Valia đề nghị:
- Chúng ta chạy đi nào!
- Đồng ý!
Nhưng chúng vừa mới chạy được mấy bước thì từ dưới cổng một ngôi nhà lớn có một con cho tai rách, chân cong, lông lấ xù xì nảy xổ ra.
Nó sủa váng lên, lao vào Karik và Valia định cắn chân chúng.
Karik ném một hòn đá vào con chó. Con chó rít lên cụp đuôi lại lẩn vào trong cổng. Có ai đó hét lên ở trong cổng.
- Ê, anh đánh con Tuzik của tao thế?
Cánh cổng kể cót két.
Một đám trẻ con chạy ra phố.
Karik và Valia dừng lại.
Một tay giữ quần cho khỏi tụt xuống, tay kia nắm gói lá trong có giáo sư giơ cao lên trên đầu. Karik nói:
- Đừng để cho Tuzik của các cậu cắn người.
Bọn trẻ tiến lại gần vây chặt lấy Karik và Valia. Một thằng bé mặc ái ghi lê, đút sâu hai tay vào túi tận khuỷu hùng hổ nhổ nước miếng ngắm Karik và Valia từ đầu đến câhn. Nó hỏi giọng nhạo báng:
- Người nào thế này? Ở đâu ra những người thế này trong phố của ta nhỉ?
Valia rụt rè nói:
- Chúng tôi là khách du lịch!
Bọn trẻ ồ lên cười. Một đứa kêu lên:
- Nó theo mẹ du lịch ở ngoài chợ ấy!
- Ấy, sao lại nói thế? Đây là con gái của chính bà hải cẩu bị trôi giạt trên mảnh băng cùng với những người trú đông đấy mà.
- Làm gì có chuyện ấy! Nó du lịch dưới gầm bàn ấy mà!
Karik cau mày. Cậu ghếch một chân lên trước rồi nói:
- Nào, có tránh ra không thì…
- Không thì sao?
- Lúc đó mày sẽ biết.
Bọn trẻ bắt đầu giựt áo sơ mi trên người Valia và quần dài trên người Karik.
Valia thút thít khóc:
- Thôi đi nào, chúng tôi cần về nhà ngay. Chúng tôi vắng nhà đã lâu rồi.
Thằng bé mặc ghi lê hỏi:
- Chúng mày ở đâu về thế?
- Chuyện ấy không liên quan gì đến mày! – Karik nói.
- Nhất định có liên quan chứ. Ở vườn rau nhà tao vừa bị mất hai hình nộm: một hình nộm mặc áo sơ mi, còn hình nộm kia mặc quần dài!
Bọn trẻ cười cồ cả lên. Một đưa hết to:
- Này các cậu ơi! Lôi chúng ra vườn rau để đuổi chim đi.
Karik dũng cảm nói:
- Nào, cứ thử xem nào!
Cậu giơ nắm tay có giáo sư ở trong, trợn mắt thét lên một tiếng khủng khiếp:
- Microgaster Nemorum!
Bọn trẻ ngơ ngác nhìn nhau.
Valia thét lên:
- Triungulina!
Karik, rít qua kẻ răng:
- Carabus!
Một đứa trong bọn trẻ kêu lên sợ hãi:
- Trời ơi! Mấy đứa điên!
Và cả bọn kéo nhau chạy tản đi mất.
Trong bóng tối thấp thoáng những vạt áo trằng, bên phải bên trái tiếng đóng cửa ầm ầm.
Trong chớp mắt đường phố lại vắng tanh.
Karik thở hổn hển nói:
- Đấy, em thấy không, môn sinh vật học cũng có lúc dùng được việc cho ta đấy chứ… Còn bây giờ phải chạy mau về nhà để khỏi gặp ai nữa.. Có lẽ chúng mình cũng giống như hình nộm thật đấy.
Karik và Valia chạy như bay, bên tai gió rít vù vù. Nhà cửa, vườn tược, đường phố - tất cả đều lướt qua như trong phim chiếu bóng.
Bọn trẻ theo đà chạy lao vào trong sân nhà. Valia thở hổn hển hỏi:
- Anh không đánh mất bác Ivan Germogenovich đấy chứ?
Karik thận trọng hé mở gói lá ra.
- Bác ấy vẫn còn đây, đang ngồi!
Sân nhà không một bóng người.
Bon trẻ ngẩng đầu, nhìn rất lâu vào những cửa sổ đèn sáng tầng hai.
Qua rèm cửa thấy bóng ai đó – bà hay là mẹ - đi từ cái bàn đến tủ bát đĩa. Valia thì thầm:
- Đang chuẩn bị ăn chiều.
Karik nói:
- Thế thì chúng ta đã về đúng bữa! Đi nào!
- Chao ôi! Anh Karik! Em sợ lắm… Mẹ sẽ mắng cho một trận.
- Thế mà cũng nói! Chả lẽ mẹ đang sợ hon con ong vẽ ư?
Bọn trẻ xô đẩy nhau chạy lên cầu thang, dừng lại trước căn hộ số 39.
Karik vội vã ấn chuông màu trắng. Tiếng chuông vang lên sau cửa.
Sau chừng nữa phút – bọn trẻ tưởng chừng như hàng thế kỷ - nghe thấy tiếng bước chân vội vã. Cái xích cửa kêu loảng xoảng. Cánh cửa mở ra.
Mẹ đứng trên ngưỡng cửa.
- Các con đấy ư? – mẹ kêu lên và òa ra khóc – Các con yêu quý của mẹ, cho mẹ ông lấy nào!
Mẹ hôn các con chùn chụt và xiết chặt chúng trong vòng tay. Valia vùng vẫy kêu lên:
- Mẹ ơi, khoan đã nào! Mẹ làm bẹp bác Ivan Germogenovich mất.
Mẹ càng khóc to hơn và nói:
- Valia ơi, con làm sao thế?
Karik nghiêm trang nói:
- Khoan đã mẹn, mẹ đừng có khóc. Tốt hơn là mẹ hãy đưa cho con một cái ly nhỏ sach.
- Một cái ly nhỏ?
Karik gật đầu.
- Đúng thế! Để con đặt bác Ivan Germogenovich vào đó, không thì con sợ đánh rơi bác ấy mất.
Mẹ đập hai tay vào nhau:
- Trời ơi, cả hai đưa điên mất rồi! Làm sao thế hả trời?
Xô vào những cái ghế, hất chúng ngã xuống sàn, mẹ chạy lại bên máy điện thoại nhấc ống nói lên, giọng đầy nước mắt:
- Xe cấp cứu! Nhanh lên! Ngay lập tức. Cái gì thế? Địa chỉ nào cơ chứ? À, địa chỉ của chúng tôi ấy à?
Karik giằng lấy ông nói từ tay mẹ rồi nói:
- Khoan đã mẹ, bác ấy chỉ cần một cái ly thôi mà mẹ gọi cả một cái xe cấp cứu… Cái đó có ích gì? Rồi bác ấy sẽ lạc trong xe và lang thang cả năm trời trong đó mất… Tốt nhất mẹ đưa con cái ly nhỏ.
Mẹ sợ hãi bước lùi lại. Bà sực nhớ ra là đối với người điên thì phải theo ý họ, không nên làm họ giận dữ. Bởi vậy bà lẳng lặng lấy cái ly ở trong tủ ra đưa cho Karik, mặt đầm đìa nước mắt.
Bà nén thở chờ đợi xem Karik sẽ làm gì.
Trong khi đó cậu bé trải cái lá mã đề đã nhàu nát ra, đặt cái ly nằm nghiêng rồi nói:
- Bác Ivan Germogenovich ơi! Bác chuyển sang cái lâu đài pha lê này đi!
Đột nhiên mẹ nhìn thấy trên mặt lá có một “con sâu” đi hai chân chạy rất nhanh vào trong cái ly.
Karik từ từ nâng cái ly đứng trở lại rồi đặt lên bàn.
- Bác ở đó có tiện không ạ? Cậu hỏi rồi sau đó ghé sát tai vào miệng ly.
Trong ly có tiếng chiêm chiếp. Karik nói:
- Vâng ạ! Cháu sẽ đậy chiếc khăn sạch lên lâu đài pha lê và đút một nhúm bông vào cho bác làm đệm. Bây giờ bác cứ nghỉ đi.
Mẹ mỉm cười qua hàng nước mắt:
- Bây giờ thì mẹ hiểu rồi. Lại một trò chơi mới chứ gì. Thế còn con sâu mà con bỏ trong ly là con gì vậy?
Karik tức giận:
- Con sâu à? Mẹ nói hay thật đấy!... Sao mẹ dám gọi nhà bác học là con sâu?
Mẹ cười vui:
- Mẹ hiểu rồi, trong trò chơi của con thì gọi nó là nhà bác học chứ gì.
- Không phải trong trò chơi mà trong cả nên khoa học của thế giới… cũng không phải là “nó” mà là “bác ấy”.
- Thôi được, đưa mẹ xem nào!
Mẹ cúi khom mình nhìn vào cái ly. Bà tưởng sẽ trông thấy một con côn trùng nào đó. Đột nhiên bà kêu thất thanh:
- Con vật… hình người!
Karik nói:
- Không phải là vật hình người đâu mẹ ạ. Đó là vị giáo sư của chúng ta, bác Ivan Germogenovich. Bác ấy chế ra một chất lỏng biến bác ấy thành bé lại như vậy. Chúng con cũng đã được biến thành hỏ như vậy. Sau đó chúng con ăn một thứ bột kỳ diệu và lớn trở lại. Nhưng thứ bột đó không đủ cho bác Ivan Germogenovich. Tuy nhiên ở trong phòng làm việc của bác ấy thì vẫn còn thứ bột đó. Chúng con bay agiờ sẽ đưa bác ấy lại đó để bác to trở lại.
Mẹ kinh ngạc nghe bọn trẻ nói và cuối cùng hiểu ra rằng các con bà không bị điên. Bà nói:
- Các con ạ, nhưng mà căn nhà của bác Ivan Germogenovich được công an niêm pong lại rồi. Chúng ta sẽ phải đợi tới sáng. Con nói với bác ấy như vậy đi.
Karik nói rõ nhưng rành rọt tất cả những điều đó giáo sư nghe. Ivan Germogenovich vui vẻ lí nhí nói:
- Không sao đâu cháu Karik ạ! Bác ở đây cũng tốt chấn… Ta sẽ đợi đến sáng mai.
Karik ngẩng đầu lên nói với mẹ:
- Chúng ta sẽ đợi đến sáng.
Trong cái ly có tiếng chiêm chiếp.
Karik lắng nghe rồi nói:
- Mẹ ngồi xuốgn đây đi. Bác Ivan Germogenovich bảo con kể lại cho mẹ nghe hết mọi chuyện…
Mẹ ngoan ngoãn ngồi xuống.
Karik hắng giọng, chậm rãi kể lại những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của ba khách du lịch trên mặt đất và dưới mặt đất, trên mắt nước và dưới mặt nước, giữa trời và đất, trong không khí, trong rừng cây trên núi và trong các hang động. Và cả ba người trong câu chuyện kể đã lập nên những chiến công: họ đã chiến đấu dũng cảm, đã bơi trên biển, bay trong không trung và chui xuống những hang sâu tối đen.
Mẹ vừa nghe Karik kể vừa lắc đầu sụt sịt khóc.
Đôi khi mẹ cũng cười vui, nhưng thường thì mẹ lặng người không dám thở, mở to mắt vì hồi hộp sợ hãi. Mẹ lấy khăn tay chùi nước mắt rồi nói:
- Các con tội nghiệp của mẹ! Các con phải trải qua biết bao nỗi gian truân khổ sở. Lát nữa bà về nghe chuyện bọn con chắc sẽ kêu trời lên vì ngạc nhiên.
Karik nói:
- Mẹ à, con nghĩ không nên kể cho bà nghe về những cuộc phiêu lưu của chúng con.
Mẹ suy nghĩ một lát rồi mỉm cười:
- Con nói có lý – mẹ nói – bà già yếu rồi, nghe những chuyện như vậy chắc là có hại. Mẹ sẽ nói với bà là các con ở chơi đằng bác Pjotr Andrejevich… Bây giờ các con muốn ăn gì nào?
Valia nói:
- Mẹ ơi, bây giờ thì bọn con ăn hết mọi thứ, gì cũng ngon cả.
Mẹ lo tíu tít. Tiếng chén bát khua vang. Lửa reo vui trên bếp hơi.
Trong khi bọn trẻ tăm rửa thay quần áo, mẹ dọn thức ăn lên bàn. Trên bàn có món trứng rán với giăm bông, thịt gà luộc để nguội, rau xà lách, phó mát và một núi bánh mì thơm tho mềm mại.
Mẹ đứng trước tủ đồ ăn lưỡng lự hồi lâu rồi mở cánh cửa tủ bằng kính, lấy ra một chai rượu sẫm có hàng chữ vàng ở trên đề “Rượu vang”. Mẹ nói:
- Thoi cũng được. Nhân dịp này cho các con uống một chút vang pha với nước nóng cũng không sao.
Khi các mon ăn đã dọn xong, mọi người ngồi xuống quanh bàn.
- Thưa bác Ivan Germogenovich! Xin mời bác ngồi vào bàn! – Karik nói và trịnh trọng đặt chiếc ly có giáo sư ở trong khoảng giữa chiếc đĩa ăn của cậu và của Valia.
Karik cắt một mẫu phó mát và bỏ vào trong lý rồi nói:
- Xin mời bác ăn.
Trong ly có tiếng chiêm chiếp.
- Bác ấy xin bánh mì đấy! Làm sao mời bác Ivan Germogenovich uống rượu vang đươc bây giờ?
Karik đứng phắt dậy kêu lên:
- Con biết rồi, chúng ta đổ rượu vào cái vỏ đạn.
Cậu chạy vào phòng lấy ra một cái vỏ đạn súng trẻ con bằng giấy. Mẹ rót một giọt rượu vang vào đó rồi Karik thận trọng đặt nó xuống đáy ly.
Một lát sau mỗi người ăn uống rất vui vẻ.
Karik nâng cái ly nước nóng co hòa chút rượu vang lên và nói:
- Cháu xin chúc sức khỏe bác Ivan Germogenovich!
Valia kêu lên:
- Chúc mừng cuộc du lịch của chúng ta!
Mọi người chạm cốc rồi cùng nhau ăn uống.
Giáo sư cũng không bỏ phí thời gian. Ông ăn phó mát và uống rượu vang.
Một lát sau mọi người đi ngủ.
Karik và Valia thở đều đặn trên giường nệm trắng tinh. Giáo sư cuộn mình trong miếng bông ngủ ngon lành.
Lần đầu tiên sau nhiều ngày, giấc ngủ của họ mới trở lại bình yên.
Không có gì đe dọa họ nữa.
******
Ngày hôm sau Ivan Germogenovich ngồi trong phòng làm việc của mình như không hề có chuyện gì xảy ra.
Mười phóng viên chụp ảnh giáo sư ghi vào sổ tya những cuộc phiêu lưu kỳ diệu của ông.
Ít lâu sau trong một tạp chí nọ in một bài báo tuyệt diệu cùng với ảnh của giáo sư kể về mọi chuyện này.
Có ai đó tung tin đồn tựa như giáo sư Enotov học được cách biến con voi thành con ruồi. Sau đó người ta lẫn lộn lung tung lại nói rằng: “Ông ta làm con ruồi thành con voi”(1).
Nào ai biết được! Biết đâu chẳng có một ông giáo sư làm con ruồi thành con voi. Nhưng tôi không biết gì hết nên chẳng dám nói. Bởi vì tôi không thích viết về những chuyện mà chính mắt tôi chưa thấy bao giờ.
Dịch theo nguyên bản tiếng Nga
(Nhà xuất bản Thiếu Nhi Leningrat 1957)
Chú thích:
(1) Trong tiếng Nga có thành ngữ: “Làm con ruồi thành con voi” ý nói sự việc bé xé ra to. Ở đấy tác giả có ý đùa nghịch chơi chữ. (ND) _________________ Anh ơi đợi em về!
Đợi em về, anh nhé!
Mưa có rơi dầm dề
Ngày có buồn lê thê
Thì anh ơi cứ đợi! |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
|
|
Bạn không thể gửi chủ đề mới Bạn không thể trả lời các chủ đề Bạn không thể sửa đổi bài viết của mình Bạn không thể xoá bài viết của mình Bạn không thể tham gia các bình chọn You cannot attach files in this forum You cannot download files in this forum
|
|