NuocNga.Net

Page Loading... please wait!



This page still doesn't show? Click here
 
Trang chủTrang chủ    Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Danh sách thành viênDanh sách thành viên   Nhóm làm việcNhóm làm việc Ban quản trịBan quản trị   Đăng kýĐăng ký 
 Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắnTin nhắn   Đăng nhậpĐăng nhập 
Đội tàu ngầm hạt nhân của Nga

 
Gửi bài mới   Trả lời cho chủ đề   printer-friendly view    NuocNga.Net -> Các chủ đề khác
Chủ đề phía trước :: Chủ đề kế tiếp  
Tác giả Nội dung bài viết
trasuatranchausocola
Bánh blin nóng - Горячий блин
Bánh blin nóng - Горячий блин


Tuổi: 37
Tham gia từ: 07 Jul 2005
Bài viết: 49
Đến từ: HN

GửiGửi: 29-Jan-2007 9:45 pm    Tiêu đề:  Đội tàu ngầm hạt nhân của Nga
Trả lời kèm trích dẫn

Theo ước tính của Mỹ, gần đây chỉ có khoảng 75 tàu ngầm của Nga đang hoạt động, trong đó có 27 chiếc SSBN, 14 chiếc SSGN, và 34 chiếc SSN nhưng hạm đội hạt nhân của Nga vẫn có lực lượng tàu ngầm hạt nhân lớn thứ hai trên thế giới, sau Mỹ.


Kể từ cuối năm 1950 đến năm 1994, Liên Xô, sau này là Liên bang Nga, đã chế tạo được tất cả 245 tàu ngầm hạt nhân, nhiều hơn tất cả số tàu của các nước khác cộng lại, trong đó có 91 chiếc SSBN mang tên lửa. Sau khi Liên Xô sụp đổ đã làm gián đoạn hoạt động triển khai chiến lược ở những căn cứ hải quân quan trọng của Hải quân Nga tại biển Đen và biển Baltic.

Quá trình phát triển

Liên Xô đã chạy đua với Mỹ trong việc phát triển các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân trong những năm 50 thế kỷ XX. Trước sức ép của Mỹ phát triển tàu ngầm hạt nhân Nautilus (được triển khai năm 1954), Liên Xô đã bắt đầu xây dựng các lò phản ứng tại Viện Kỹ thuật Vật lý và Năng lượng (Obninsk) do Anatoliy P. Alexandrov làm Viện trưởng, sau này ông trở thành Viện trưởng Viện Kurchatov.

Năm 1956, lò phản ứng đẩy đầu tiên của Liên Xô do nhóm Alexandrov thiết kế đã bắt đầu hoạt động thử nghiệm. Cùng thời điểm đó, một nhóm thiết kế dưới sự chỉ đạo của Vladimir N. Peregudov đã tiếp tục nghiên cứu xây dựng cơ cấu bảo vệ lò phản ứng này.

Sau khi vượt qua nhiều trở ngại (những vấn đề về sản xuất hơi nước, rò rỉ phóng xạ và những khó khăn khác), chiếc tàu ngầm hạt nhân đầu tiên đã được đưa vào hoạt động trong lực lượng Hải quân Liên Xô năm 1958. Nỗ lực chế tạo tàu ngầm tấn công hạt nhân bắt đầu năm 1959.

Tàu ngầm hạt nhân tạo nên những ưu thế quan trọng cho Hải quân Liên Xô. Khác với những chiếc tàu ngầm chạy bằng động cơ diesel cần một khối lượng lớn nhiên liệu lỏng và tầm hoạt động bị giới hạn, cứ vài tuần một lần phải nổi lên mặt nước và bổ sung nhiên liệu, các tàu ngầm hạt nhân có thể lặn sâu dưới nước nhiều tháng, tạo ra lợi thế rất lớn cho việc giữ bí mật.

Bên cạnh đó, các lò phản ứng năng lượng lớn giúp tăng tốc độ di chuyển của tàu lên tới 16-20 hải lý/giờ. Những thiết kế mới trong tàu ngầm hạt nhân cho phép các thủy thủ có điều kiện sống tốt hơn nhiều so với các tàu chạy bằng động cơ diesel (chất lượng nước sinh hoạt, không khí, các thiết bị phục vụ tắm giặt).

Kể từ thập niên 50 thế kỷ trước, 4 thế hệ tàu ngầm hạt nhân và nhiều tàu ngầm hạt nhân thử nghiệm đã ra đời. Từ năm 1955 đến 1964, 55 chiếc tàu ngầm thế hệ 1 đã được sản xuất. Thời điểm cao trào của cuộc chiến tranh lạnh, có khoảng 5-10 tàu ngầm hạt nhân ở mỗi căn cứ tàu ngầm của Liên Xô (Sevmash ở Severodvinsk, Admiralteyskiye Verfi ở St. Petersburg, Krasnoye Sormovo ở Nizhniy Novgorod, và Amurskiy Zavod ở Komsomolsk - na-Amure) đã được đưa vào đội tàu thường trực.

Đầu thập kỷ 80, Liên Xô đã hạ thủy một số tàu ngầm lớp Titan, trong đó có chiếc Komsomolets xấu số đã bị đắm cùng 42 thủy thủ ở nước ngoài vào năm 1989.

Năm 1957, Liên Xô đã hạ thủy chiếc tàu phá băng chạy bằng năng lượng hạt nhân mang tên Lenin, và sau đó đã sản xuất thêm 2 thế hệ tàu phá băng Arktika và Taymyr. Năm 1993, Nga đã phát triển chiếc Ural - tàu liên lạc sử dụng hai lò phản ứng của tàu phá băng.

Các tàu khác sử dụng năng lượng hạt nhân gồm có tàu phục vụ nghiên cứu khoa học, kiểm soát không gian và 4 chiếc tuần dương hạm lớp Kirov là Admiral Ushakov, Admiral Lazarev, Admiral Nakhimov, Petr Velikiy (Peter Đại đế). Ngoài ra, Chính phủ Nga còn dự định sử dụng một hạm đội các lò phản ứng nổi, gồm các tàu quân sự có nhiệm vụ chiến đấu hiện chưa đưa vào sử dụng trên biển, những tàu phục vụ nhiệm vụ đặc biệt, và các lò phản ứng được tập kết thành các sà lan, để cung cấp năng lượng cho những khu vực xa xôi.

Vai trò chiến lược của tàu ngầm hạt nhân

Cho dù số lượng tàu hoạt động giảm, nhưng sức mạnh hạt nhân trên biển của Nga có thể sẽ lấy lại vai trò quan trọng hơn trong bộ ba hạt nhân chiến lược của Nga. Nếu Hiệp ước START II được thực hiện, Nga sẽ cắt giảm số đầu đạn hạt nhân từ 8.500 xuống còn khoảng 3.000 đến 3.500. Sự cắt giảm này sẽ tạo ra thay đổi lớn trong tỉ trọng cơ cấu hạt nhân của Nga, từ cơ cấu chủ yếu triển khai trên đất liền sang cơ cấu triển khai trên các tàu ngầm hạt nhân.

Tháng 7/1998, theo chỉ đạo của Tổng thống Nga Boris Yeltsin, 50% số đầu đạn hạt nhân của Nga và các thiết bị phóng sẽ do Hải quân Nga quản lý. Theo Vladimir Kuroyedov, Tư lệnh Hải quân Nga, tỉ trọng sức mạnh của Hải quân Nga về hạt nhân sẽ tăng từ 30% lên 50%, thay thế cho lực lượng tên lửa chiến lược.

Ông Kuroyedov cho rằng, số tàu ngầm hạt nhân sẽ không thay đổi và Hải quân Nga sẽ nâng cao sức mạnh bằng cách hiện đại hóa hạm đội tàu ngầm và các tên lửa của mình. Kuroyedov cũng cho biết việc cải tiến và bảo dưỡng lực lượng hạt nhân của Hải quân Nga cần rất nhiều nguồn lực và ngân sách hiện nay chỉ bằng 1/3 mức cần thiết tối thiểu. Ông này cũng khẳng định, mặc dù số lượng SSBN đang hoạt động không lớn, nhưng chúng vẫn có thể thực hiện các mục tiêu chủ yếu của Hải quân Nga.

Việc quản lý hạm đội

Sau khi Liên Xô sụp đổ, môi trường quản lý thay đổi làm cho việc quản lý các lò phản ứng hạt nhân, nhiên liệu và chất thải từ các lò phản ứng thêm phức tạp. Trong giai đoạn xây dựng, việc giám sát các tàu ngầm hạt nhân thuộc quyền của Xưởng đóng tàu Nga. Cơ quan này được thành lập theo Sắc lệnh số 651 ngày 25/5/1999 của tổng thống, tiếp nhận quyền quản lý các xưởng đóng tàu quân sự từ Bộ Kinh tế (Bộ Kinh tế đã đảm nhận quyền này từ Ủy ban Nhà nước về Công nghiệp Quốc phòng năm 1997). Sau khi đi vào hoạt động, những tàu ngầm này chịu sự quản lý của Bộ Quốc phòng (MOD).

Đối với trường hợp của hạm đội tàu phá băng hạt nhân, các xưởng sản xuất đã chế tạo ra những con tàu này là các công ty liên doanh, với phần lớn cổ phiếu do nhà nước nắm giữ. Khi các tàu phá băng đi vào hoạt động, Tổ chức Atomflot sẽ kiểm soát những con tàu theo sự cho phép của Bộ Vận tải.

Từ khi Liên Xô sụp đổ, nhiên liệu cho các lò phản ứng đẩy của hải quân chỉ được sản xuất tại Nhà máy Elektrostal gần Moskva. Nhiên liệu cho các tàu ngầm hạt nhân chịu sự kiểm soát của Bộ Năng lượng Nguyên tử Nga, Bộ này cũng giám sát toàn bộ chu kỳ nhiên liệu cho hải quân, từ việc vận chuyển nhiên liệu sạch đến các căn cứ hải quân tới việc tái sản xuất nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng.

Nhiên liệu từ các tàu ngầm hạt nhân đã qua sử dụng ban đầu được bảo quản tại các kho của Bộ Quốc phòng, với khoảng 20 kho trên toàn quốc. Việc vận chuyển những nhiên liệu mới và nhiên liệu đã qua sử dụng được Bộ Vận tải Nga thực hiện bằng đường sắt.

Các bộ như Bộ Môi trường, Bộ Y tế, Cơ quan Thanh tra Liên bang về An toàn phóng xạ, Ủy ban Giám sát y tế, Bộ Quốc phòng phối hợp quy định về an toàn hạt nhân đối với các tàu hải quân, các địa điểm tàng trữ và các thiết bị xử lý chất thải phóng xạ. Tuy nhiên, thực chất quyền quản lý của Bộ Quốc phòng là chịu trách nhiệm đảm bảo sự tuân thủ đối với các quy định này.

Tháng 12/1998, hơn 170 tàu ngầm đã bị chấm dứt hoạt động. Kết quả cuối cùng của tốc độ tháo dỡ chậm chạp và sự thiếu hụt thiết bị bảo quản phù hợp chất thải hạt nhân rắn và lỏng là hầu hết các tàu ngầm ngừng hoạt động được đưa vào các xưởng đóng tàu, với các lò phản ứng hạt nhân vẫn còn hoạt động.

Những tàu ngầm ngừng hoạt động trước khi hết thời hạn phục vụ, ít nhất là về nguyên tắc, được Nga tiếp tục sử dụng hoặc bán cho các bên thứ ba có nhu cầu, và thậm chí có thể trở thành mục tiêu tấn công hoặc chiếm đoạt của các phần tử khủng bố.

Các chuyên gia Nga không nhất trí với khả năng xảy ra các viễn cảnh đó, nhưng việc cho các tàu ngầm hạt nhân của Nga ngừng hoạt động có thể gây ra nguy cơ phổ biến vũ khí và đe dọa đến sự an toàn lớn hơn so với việc sản xuất và triển khai chúng trước đây
Trần Phương Nam (theo tài liệu nước ngoài)
http://antg.cand.com.vn/vi-vn/hosomat/2007/1/60771.cand
Trở về đầu trang
trasuatranchausocola is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Yahoo Messenger
[ IP : Logged ]
Xem các bài viết từ:   
Chủ đề phía trước :: Chủ đề kế tiếp

Gửi bài mới   Trả lời cho chủ đề   printer-friendly view    NuocNga.Net -> Các chủ đề khác Thời gian: [GMT + 7 Giờ]
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển nhanh tới:  
Bạn không thể gửi chủ đề mới
Bạn không thể trả lời các chủ đề
Bạn không thể sửa đổi bài viết của mình
Bạn không thể xoá bài viết của mình
Bạn không thể tham gia các bình chọn
You cannot attach files in this forum
You cannot download files in this forum

Designed by TekCIZ Co., Ltd
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group