NuocNga.Net

Page Loading... please wait!



This page still doesn't show? Click here
 
Trang chủTrang chủ    Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Danh sách thành viênDanh sách thành viên   Nhóm làm việcNhóm làm việc Ban quản trịBan quản trị   Đăng kýĐăng ký 
 Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắnTin nhắn   Đăng nhậpĐăng nhập 
CÁI GIÁ CỦA CHIẾN THẮNG

 
Gửi bài mới   Trả lời cho chủ đề   printer-friendly view    NuocNga.Net -> Những danh tướng Xô - Viết
Chủ đề phía trước :: Chủ đề kế tiếp  
Tác giả Nội dung bài viết
danngoc
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 50
Tham gia từ: 30 Apr 2005
Bài viết: 1336
Đến từ: Việt Nam

GửiGửi: 07-May-2005 6:21 pm    Tiêu đề:  CÁI GIÁ CỦA CHIẾN THẮNG
Trả lời kèm trích dẫn

CÁI GIÁ CỦA CHIẾN THẮNG

Trong thời kỳ Xôviết, chí ít là cho tới thập kỷ 80 (của thế kỷ 20), cuộc chiến tranh vệ quốc thường được mô tả với hình ảnh Stalin và bộ sậu là đầu tàu của dân chủ, và chỉ có bọn đế quốc là lũ chủ mưu gây ra chiến tranh. Thiệt hại của Hồng quân được lờ đi, các số liệu thống kê ít khi được phổ biến, và gần như là không một dòng nói về hàng triệu người đã đầu hàng, hay về việc quân đội Đức đã thành công trong việc tuyển dụng và lập ra nhiều loại đơn vị chống Xôviết khác nhau từ những tù binh đó. (Theo những số liệu từ nhiều nguồn khác nhau mà tôi được biết, có khoảng 200.000 lính cô dắc trong đoàn lê dương Đức ngoài số lượng đã tham gia ROA – LTD). Hồng quân được mô tả là “đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng tập thể”, đã phải chịu những tổn thất to lớn do cuộc tấn công phản trắc và bất ngờ của Đức và do “sai lầm” của Stalin, nhưng đã chiến thắng một cách vinh quang sau đó. Suốt 14 năm sau chiến tranh, số người Liên Xô bị chết trong chiến tranh vẫn hoàn toàn là bí mật, so với con số thấp một cách phi lý là 7 triệu người do Stalin công bố năm 1946. (Pravda, 14 March 1946)
Cái sự thật quan trọng này vẫn rất khó có thể xác định thậm chí cả sau cuộc tổng điều tra dân số lần đầu tiên sau chiến tranh tiến hành năm 1959, cho thấy số nam giới ít hơn nữ giới hai mươi triệu người. Bản thân con số này không thể cho ta biết số người chết trong chiến tranh. Trong thực tế chắc chắn phải cao hơn, hiện con số chính thức là 27,7 triệu, nhưng rất nhiều người vẫn cho là như thế vẫn còn thấp hơn thực tế.
Tuy nhiên, những nhà lãnh đạo Xôviết, những nhà tuyên truyền và phân tích đã sử dụng con số “hai mươi triệu người chết” này trong suốt 30 năm, và lý do của sự thiệt hại to lớn như vậy không bao giờ được bàn luận tới. Những hồi ức chiến tranh và các số liệu sử học chính thức đều bị kiểm duyệt hay thủ tiêu hay che dấu về số người Xôviết bị chết, điều này dễ giải thích vì lưỡi kéo kiểm duyệt.
Chỉ tới thời kỳ “cải tổ”, cái giá nhân mạng quá cao của chiến thắng mới được đề cập một cách nghiêm túc. Trong cuốn “Cái giá của Chiến thắng”, Boris Sokolov đã công bố những số liệu lấy từ một nguồn được công bố năm 1967, do cách thể hiện kín đáo, đã được lưỡi kéo kiểm duyệt của thời ấy bỏ qua. Đó là cuốn “Chiến tranh và quân y” của E.I. Smirnov, người lãnh đạo ngành quân y Hồng quân trong suốt chiến tranh. Nó chứa một bảng thống kê tổng số quân nhân thương vong, tàn tật, bệnh tật trong từng tháng, không phải là những con cụ thể, mà là phần trăm của từng tháng trong suốt chiến tranh.
Bảng thống kê cho thấy rõ ràng rằng phần lớn thương vong xảy ra không phải ở nửa đầu mà là nửa cuối chiến tranh, chúng vượt lên trên ngưỡng trung bình trong tới 18 tháng trên tổng số 23 tháng tính từ tháng Bảy 1943 tới tháng Năm 1945. Smirnov không đề cập tới số người chết, mà dựa trên tỷ lệ thông thường cứ một người chết thì có bốn người bị thương, do đó hầu hết người chết chắc chắn phải xảy ra trong nửa sau chiến tranh. Để phản bác lại với những ý kiến cho rằng do hầu hết khoảng thời gian này là lúc Hồng quân đang phản công, và tấn công thì người chết nhiều hơn là khi phòng thủ, Sokolov đã so sánh tỷ lệ thiệt mạng giữa Mặt trận phía Đông và MT phía Tây trong thời gian từ khi liên quân Anh-Mỹ-Canada đổ bộ lên Pháp tháng Sáu năm 1944 cho tới khi Đức đầu hàng tháng Năm 1945. Các số liệu này cho thấy tỷ lệ lính LX/lính Đức bị chết là 3/1 trong khi lính Đồng minh/lính Đức là 1/1,7; lính Đồng minh, những người cũng như lính LX cùng đang tấn công lúc đó, chịu thiệt hại ít hơn lính Đức đang phòng thủ. Như vậy, ta thấy Hồng quân đã trả giá cao hơn lính Đồng minh tới năm lần.
Tỷ lệ này, và việc số thương vong của lính Xôviết cao gấp ba lần so với lính Đức trong khi lính Đức bị áp đảo về số lượng trong suốt gần hai năm từ tháng Bảy 1943 dưới một bầu trời do không quân Xôviết thống trị, cho thấy rằng các tướng lĩnh Xôviết xem nhẹ những thiệt hại nhân mạng trong khi phía đồng minh lại coi trọng điều này quá mức. Và trong nửa đầu của chiến tranh, khi quân Đức gần như luôn trong thế tiến công, thiệt hại của phía lính Xôviết trong thế phòng thủ cũng vượt trội so với lính Đức, bởi những người đầu hàng hàng loạt cũng cần được tính vào số thương vong trong chiến trận.
Đã có quá nhiều giai thoại của lính Đức minh chứng cho sự hoang phí sinh mạng của phe Liên Xô, cùng cuộc trò chuyện nổi tiếng giữa Eisenhower và Zhukov năm 1945, trong đó, khi được hỏi lính Xôviết đối phó ra sao với các bãi mìn, Zhukov đã đáp rằng lính của mình chỉ đơn giản nhận một lệnh là chạy băng qua chúng. Hơn nữa, sự cạnh tranh giữa các tướng lĩnh, được sự khuyến khích của Stalin, dẫn tới những trận đánh chiếm không cần thiết các pháo đài mà thực ra có thể dễ dàng bao vây hoặc vượt qua. Một yếu tố quan trọng khác là áp lực phải chiếm cho được những thị trấn và thành phố quan trọng cho kịp những dịp lễ Cách mạng quan trọng, ví dụ như tình trạng cấp bách cần được giải phóng của Kiev được phổ biến bởi lời hô hào rất không thích đáng trong quân đội để chiếm lại nó đúng dịp 7 tháng Mười Một, dịp lễ kỷ niệm Cách Mạng tháng Mười (Tập đoàn quân 38 đã phải thực hiện điều này với chỉ một ngày chuẩn bị).

Cuộc đối đầu giữa Nguyên soái Zhukov và Konev, được kích thích bởi Stalin bằng lời thông báo giả dối rằng Liên quân Anh-Mỹ đang dự định sẽ tiến vào Berlin trước tiên, và sự đến gần của ngày lễ Cách mạng quan trọng (Mùng Một tháng Năm) đã thúc đẩy việc mau chóng công phá Berlin. Trong 23 ngày chiến đấu, 81.000 lính Xôviết và Ba Lan đã hy sinh, 280.000 bị thương. Hầu hết những thương vong này là không cần thiết. Thành phố này, hầu như đã đổ nát hết do bom Anh-Mỹ, có thể bị bỏ đói cho tới lúc phải đầu hàng, có thể chỉ torng vòng vài ngày, chậm lắm cũng chỉ tới vài tuần, và chống đối dữ dội nhất chỉ là một số không nhiều đám lính Quốc xã cuồng tín trong số những kẻ phòng thủ.
Trận công chiếm Berlin không phải là trường hợp cá biệt. Trong rất nhiều trận công kích diễn ra từ 12 tháng Giêng tới khi nước Đức đầu hàng ngày 8-9 tháng Năm, 367.000 quân nhân Xôviết hy sinh, gần bằng tổng số lính Anh (375.000) hay lính Mỹ (405.000) chết trận trong toàn bộ cuộc chiến. Điều này không phải chỉ do lính Xôviết phải đối đầu với lực lượng Đức lớn hơn. Trong những tháng cuối cùng của chiến tranh, lực lượng Quân đội Đức chia gần như đều nhau giữa Mặt trận phía Đông và Mặt trận phía Tây, trong khi đó quân Anh-Mỹ lại đang đánh nhau quyết liệt với quân Nhật, lực lượng mà cho tới lúc đó Liên Xô vẫn chưa tuyên chiến.
Hồng quân trừng phạt rất nặng đối với tội đầu hàng, coi chúng gần ngang với sự phản bội, trừ phi đầu hàng khi bị thương và bất tỉnh, và hình phạt cũng đè nặng lên gia đình của những binh lính đó. Có trên bốn triệu rưởi lính Xôviết đầu hàng, hầu hết là trong sáu tháng đầu tiên. Đồng thời có 50.000 hoặc hơn nữa lính Nga đã gia nhập đạo quân của Vlasov – Quân đoàn Giải phóng Nga ROA, và hàng ngàn tù binh Xôviết khác gia nhập những đơn vị chiến đấu Đức như quân đoàn Lê dương Côdắc, Turkestan và Azerbaijan. Lượng binh sĩ Xôviết đầu hàng không chỉ vượt qua so với tổng số lính đầu hàng của tất cả những nước tham chiến khác cộng lại, nó còn lớn chưa từng thấy trong suốt toàn bộ lịch sử chiến tranh trên thế giới. Hơn nữa, số người tình nguyện hợp tác với đối phương, gồm hàng trăm ngàn tù binh Xôviết phục vụ trong các lĩnh vực lái xe, thợ đứng máy, đầu bếp và cần vụ trong các đơn vị lính Đức, chiếm tỷ lệ lớn vượt quá bất cứ quốc gia tham chiến nào, hoặc so với trong qua khứ lịch sử của chính nước Nga. Rất nhiều tù binh chiến tranh Xôviết được giải phóng bởi lính Anh-Mỹ đã nỗ lực tối đa để tránh bị cho hồi hương, và những người đã chịu hợp tác thì thà giết chết cấp dưới của mình rồi tự sát, như đã xảy ra tại Áo năm 1945, trong đợt Tập đoàn quân số 8 của Anh chuyển giao Binh đoàn Côdắc thuộc Wehrmacht (quân đội Đức) cho Hồng quân.
Những điều tiết lộ ấy xuất hiện khi Hồng quân, sau suốt 40 thập niên dưới danh tiếng “vinh quanh và vô địch”, nay bị phong tỏa bởi sự tiết lộ về tình trạng tham những trong giới tướng lãnh sĩ quan cao cấp và tình trạng đối xử tồi tệ với lính nghĩa vụ mới nhập ngũ, và kể từ năm 1978 đã bị lôi kéo tới một cuộc chiến tranh không chính thức tại Afghanistan mà không đạt được thắng lợi đáng kể nào. Điều này đẩy tới việc một số đông các tác giả đã xuất bản những số liệu mới về chiến tranh Xô-Đức và đưa tới câu hỏi hoài nghi về những số liệu thống kê quá dè dặt và lý tưởng trước đấy.
Một số nghiên cứu mới cho thấy, theo một số tướng lĩnh trong hầu hết các tập đoàn quân, nhưng tất nhiên không phải là tất cả trong bất cứ tập đoàn quân nào, cho rằng tất cả những tướng lĩnh hàng đầu của quân đội Xôviết chỉ là những tên đồ tể bất tài, chỉ có thể chiến thắng bằng một số quân vượt trội và phung phí sinh mạng binh lính. Tuy vậy, kết luận này lại lờ đi kinh nghiệm đúc kết từ lịch sử quân sự rằng số lượng không đảm bảo cho thắng lợi, và từ sự thật rằng vào năm 1941 các đơn vị Hồng quân thường bị tiêu diệt bởi những đội quân Đức nhỏ hơn nhiều. Do đó, chiến thắng quân Đức trong thời kỳ 42-45, thậm chí nếu luôn là với ưu thế vượt trội về quân số, vẫn cho thấy ít nhất là khả năng rút kinh nghiệm trong chiến đấu của Hồng quân.
Trở về đầu trang
danngoc is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Gửi email
[ IP : Logged ]
danngoc
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 50
Tham gia từ: 30 Apr 2005
Bài viết: 1336
Đến từ: Việt Nam

GửiGửi: 07-May-2005 6:22 pm    Tiêu đề:  Re: CÁI GIÁ CỦA CHIẾN THẮNG
Trả lời kèm trích dẫn

TỔN THẤT CỦA LIÊN XÔ TRONG CHIẾN TRANH VỆ QUỐC
Dưới đây là bài tổng kết của Alexei Nikiforov

TỔN THẤT VỀ PHÁO (đơn vị tính : nghìn)
TÔỔ N (in thousand)
1941
Ngày 22,06,41 Bổ sung trong chiến đấu Tổng cộng Thiệt hại %
Pháo phòng không 8,6 3,4 12 4,1 34,2
Pháo chống tăng 14,9 2,5 17,4 12,1 69,5
Dã pháo 76-mm 15,3 6,5 21,8 12,3 56,4
100,107-mm 0,9 0,1 1 0,4 40
122-mm (H) 8,1 1,9 10 6 60
122-mm (G) 1,3 0,3 1,6 0,9 56,2
152-mm (G) 3,8 0,3 4,1 2,6 63,4
152-mm (H-G),(G) 2,8 0,9 3,7 2,1 56,8
203-mm 1 0,1 1,1 0,1 9,1

1942
Tổng số trong danh sách Số bổ sung trong chiến đấu Tổng cộng Thiệt hại %
Pháo phòng không 7,9 6,8 14,7 1,6 10,9
Pháo chống tăng 5,3 20,5 25,8 11,5 44,6
Dã pháo 76-mm 9,5 23,6 33,1 10,1 30,5
100,107-mm 0,6 0 0,6 0,1 16,7
122-mm (H) 4 4,5 8,5 1,5 17,6
122-mm (G) 0,7 0,3 1 0 0
152-mm (G) 1,5 0 1,5 0,2 13,3
152-mm (H-G),(G) 1,6 1,7 3,3 0,4 12,1
203-mm 1 0 1 0 0

1943
Tổng số trong danh sách Số bổ sung Tổng cộng Thiệt hại %
Pháo phòng không 13,8 12,2 25,3 0,8 3,2
Pháo chống tăng 14,3 23,4 37,7 5,5 14,6
Dã pháo 76-mm 23 16,6 39,6 5 12,6
100,107-mm 0,5 0 0,5 0 0
122-mm (H) 7 3,8 10,8 0,6 5,6
122-mm (G) 1 0,5 1,5 0 0
152-mm (G) 1,3 0,1 1,4 0 0
152-mm (H-G),(G) 2,9 1,1 4 0,1 2,5
203-mm 1 0 1 0 0

1944
Tổng số trong danh sách Số bổ sung Tổng cộng Thiệt hại %
Pháo phòng không 24,6 13,4 38 1 2,6
Pháo chống tăng 32,2 6,4 38,6 9,3 24,1
Dã pháo 76-mm 34,6 17,3 51,9 10,8 20,8
100,107-mm 0,5 0,3 0,8 0 0
122-mm (H) 10,2 3,1 13,3 1,2 9
122-mm (G) 1,5 0,2 1,7 0,1 5,9
152-mm (G) 1,4 0,3 1,7 0,1 2,4
152-mm (H-G),(G) 3,9 0,3 4,2 0,1 2,4
203-mm 1 0 1 0 0

1945 (Từ 1-1 tới ngày 10,05)
Tổng số trong danh sách Số lượng bổ sung Tổng cộng Thiệt hại %
Phòng không 37 2,6 39,6 0,6 1,5
Chống tăng 29,3 1,4 30,7 4 13
Dã pháo 76-mm 41,1 4,8 45,9 5,8 12,6
100,107-mm 0,8 0,3 1,1 0,1 9,1
122-mm (H) 12,1 0,3 12,4 0,7 5,6
122-mm (G) 1,6 0,1 1,7 0 0
152-mm (G) 1,6 0,1 1,7 0,1 5,9
152-mm (H-G),(G) 4,1 0,2 4,3 0,1 2,3
203-mm 1 0 1 0 0

Tổng cộng trong 4 năm chiến tranh
Tổng số Thiệt hại %
Phòng không 47 8 17
Chống tăng 69,1 42,2 61,4
Dã pháo 76-mm 84,1 44 52,3
100,107-mm 1,6 0,6 37,5
122-mm (H) 21,7 10 46,1
122-mm (G) 2,7 1 37
152-mm (G) 4,6 3 65,2
152-mm (H-G),(G) 7 2,8 40
203-mm 1,1 0,1 9,7


THIỆT HẠI VỀ KHÔNG QUÂN
(đơn vị tính: nghìn)
1941
Tổng số trong danh sách ngày 22 tháng Sáu 1941 Bổ sung Tổng cộng Thiệt hại
tổng cộng/Mất trong chiến đấu %
Máy bay ném bom 8.4 2.5 10.9 7.2/4.6 66.05
Cường kích mặt đất 0.1 1.4 1.5 1.1/0.6 73.33
Tiêm kích 11.5 6 17.5 9.6/5.1 54.86
Total: 20 9.9 29.9 17.9/10.3 59.86
Lưu ý: trong cột Thiệt hại tổng cộng/Mất trong chiến đấu, Mất trong chiến đấu có nghĩa thiệt hại khi chiến đấu, số còn lại bị thiệt hại do va chạm, rơi trong huấn luyện, lỗi kỹ thuật v.v. Cần lưu ý rằng phi công thường chỉ được huấn luyện bay cơ bản, chỉ khoảng vài giờ bay. Điều này phản ánh rõ trong thống kê trên.
1942
Tổng số trong danh sách Số được bổ sung Tổng cộng Thiệt hại tổng cộng/mất trong chiến đấu %
Ném bom 3.7 4.1 7.8 2.5/1.6 32.05
Cường kích mặt đất 0.4 7.2 7.6 2.6/1.8 34.21
Tiêm kích 7.9 10.7 18.6 7/4.4 37.63
Tổng cộng 12 22 34 12.1/7.8 35.59
1943
Tổng số trong danh sách Số được bổ sung Tổng cộng Thiệt hại tổng cộng/mất trong chiến đấu %
Ném bom 5.3 5.1 10.4 3.6/1.7 34.61
Cường kích mặt đất 5 11 16 7.2/3.9 45.00
Tiêm kích 11.6 17 28.6 11.7/5.6 40.91
Tổng cộng 21.9 33.1 55 22.5/11.2 40.91
1944
Tổng số trong danh sách Số được bổ sung trong chiến đấu Tổng cộng Thiệt hại tổng cộng/Mất trong chiến đấu %
Ném bom 6.8 5.3 12.1 3.2/1.5 26.45
Cường kích mặt đất 8.8 10.3 19.1 8.9/4.1 46.60
Tiêm kích 16.9 20 36.9 12.7/4.1 34.42
Tổng cộng 32.5 35.6 68.1 24.8/9.7 36.42
1945
Tổng số trong danh sách Số được bổ sung trong chiến đấu Tổng cộng Thiệt hại tổng cộng/mất trong chiến đấu %
Ném bom 8.9 2.2 11.1 1.4/0.6 12.61
Cường kích 10.2 3.7 13.9 3.8/2 27.34
Tiêm kích 24.2 9.1 33.3 5.8/1.5 17.42
Tổng cộng 43.3 15 58.3 11/4.1 18.86
Tổng cộng toàn cuộc chiến:
Được bổ sung Tổng cộng Thiệt hại tổng cộng/mất trong chiến đấu %
Ném bom 19.2 27.6 17.9/10 64.85
Cường kích 33.6 33.7 23.6/12.4 70.02
Tiêm kích 62.8 74.3 46.8/20.7 63.00
Tổng cộng 115.6 135.6 88.3/43.1 65.12
Dù đây là con số chính thức, những số liệu này vẫn cần xem xét lại cẩn thận. Tôi tự hỏi nếu thực sự đã có hàng ngàn máy bay như vậy, tại sao trong hồi ức của hầu hết các cựu chiến binh đều kể rằng họ chỉ trông thấy máy bay Xôviết lần đầu trên bầu trời là vào năm 1944? Thậm chí trong những hồi ức ấy, những đội hình xe tăng rất lớn vẫn bị bỏ mặc mà không có máy bay yểm trợ trong khi các chiến dịch công kích năm 43-44. Kết quả thật dễ thấy - thiệt hại, bị chặn đứng và thậm chí phải rút lui.
Một bằng chứng khác là từ các phim Xôviết thời hậu chiến về đề tài chiến tranh. Nếu chúng không nói trực tiếp về phi công thì Không quân Xôviết rất hiếm khi được đề cập tới. Luftwaffe (không quân Đức) dường như đã chiến đấu mà không có đối thủ. Theo tôi, phim ảnh không thể coi là bằng chứng tuyệt đối, nhưng không có lửa thì làm sao có khói.
Trở về đầu trang
danngoc is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Gửi email
[ IP : Logged ]
danngoc
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 50
Tham gia từ: 30 Apr 2005
Bài viết: 1336
Đến từ: Việt Nam

GửiGửi: 07-May-2005 6:22 pm    Tiêu đề:  Re: CÁI GIÁ CỦA CHIẾN THẮNG
Trả lời kèm trích dẫn

THIỆT HẠI CỦA LỰC LƯỢNG THIẾT GIÁP XÔVIẾT TRONG CHIẾN TRANH VỆ QUỐC

"Các chính uỷ phàn nàn với các chiến sĩ xe tăng rằng xe tăng đã cháy được 5-6 tiếng rồi và bỏ nó lại là phạm tội...”
Trích từ hồi ức “Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ”
Chiến tranh nghĩa là thiệt hại. Chiến tranh tiến hành bởi Liên Xô đồng nghĩa với sự thiệt hại nặng nề. Chiến thắng trước nước Đức phải trả giá bằng thiệt hại khủng khiếp về người và trang bị.
Ngày 22 tháng Sáu, 1941 Hồng quân có 14.200 xe tăng, 3800 trong số đó trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu được bố trí trong lực lượng bộ đội đóng dọc biên giới phía Tây. Đồng thời có 8.400 nằm trong tuyến dự bị. Quân đội cũng có 48.900 khẩu pháo trên tuyến đầu cùng 63.900 khẩu dự bị. Lực lượng này đã đối đầu với lực lượng tiến công Đức trong những giờ phút đầu tiên của ngày 22 tháng Sáu. Cũng cần biết thêm rằng lực lượng htiết giáp Đức không hề có xe tăng hạng nặng đồng thời loại tăng hạng trung T-34 model 1940-41 của Liên Xô có chất lượng hơn hẳn loại đồng hạng của Đức.
Năm 1941
Thống kê cho thấy việc gây thiệt hại lên quân đội Đức, dù so sánh bằng tỷ lệ phần trăm, cũng không cân bằng với mất mát của Hồng quân. Việc thiếu trình độ chỉ huy và kỹ năng chiến đấu, việc hệ thống liên lạc bị cắt đứt dễ dàng và thiếu không quân yểm trợ đã dẫn tới sự tiêu diệt nhanh chóng của lục quân. Tuy nhiên, cần hiểu rằng xe tăng không chỉ thiệt hại do chiến đấu. Việc bị cắt đường cung cấp nhiên liệu và thiếu vắng phương tiện sửa chữa và sơ tán gây ra những mất mát nặng nề khi quân Đức tiến công. (Ví dụ, đạo Hồng quân tại Kiev bị quân Đức bao vây và bắt sống có tới 12.000 xe tăng – LTD). Những đợt tiến công bất ngờ do quân Đức tiến hành đã bắt sống được vô số xe tăng ngay tại kho chứa trong tình trạng đã hoàn toàn sẵn sàng chiến đấu. Những nhà máy sản xuất tăng được sơ tán từ phần Châu Âu của Liên Xô về Xiberi. Công tác tái sản xuất được khởi đầu trong nhiều trường hợp là từ con số không và lắp ráp nhiều khi được thực hiện ngay ngoài trời không có mái che của nhà xưởng. Việc sơ tán đã đánh tụt sản lượng và không thể cung cấp cho đủ số thiệt hại của Hồng quân.
Từ 22 táhng Sáu 1941 tới 31 tháng Chạp 1941
Tăng Tổng số trong danh sách Số được bổ sung Tổng cộng Thiệt hại % lost
Hạng nặng 500 1000 1500 900 60
Hạng trung 900 2200 3100 2300 74.2
Hạng nhẹ 21200 2400 23600 17300 73.3
Tổng cộng 22600 5600 28200 20500 72.70

NĂM 1942
Trong năm kế tiếp, 1942, tình hình cũng không khá hơn. Vô số chiến dịch như chiến dịch phòng thủ Kiev và các chiến dịch phản công khác đã dẫn tới sự thiệt hại vô số xe tăng. Chú ý rằng sản lượng xe tăng hạng nhẹ thực tế là ngang bằng với số tăng hạng trung. Dù đã hiển nhiên rằng tăng hạng nhẹ đã không thể đáp ứng yêu cầu của chiến tranh hiện đại, Hồng quân vẫn cần bất kỳ thứ xe tăng nào do khả năng các nhà máy sản xuất T-34 và KV đều có hạn.
Từ 1 tháng GIêng, 1942 tới 31 tháng Chạp, 1942
Tăng Tổng số trong danh sách Số được bổ sung Tổng cộng Thiệt hại % thiệt hại
Hạng nặng 600 2600 3200 1200 37.50
Hạng trung 800 13400 14200 6600 46.50
Hạng nhẹ 6300 11900 18200 7200 39.60
Tổng cộng 7700 27900 35600 15000 42. 13

NĂM 1943

Năm 1943 là năm của những trận đánh vĩ đại. Stalingrad (Chiến dịch Sao Thổ) với việc quét sạch số quân Đức bị bao vây (Chiến dịch Chiếc vòng), chiến dịch giải vây Leningrad (Chiến dịch Tia Chớp), trận đánh Vành đai Kursk và vô số chiến dịch phản công khác đã phải trả giá bằng một lượng đáng kể xe tăng, đủ để khiến các vị lãnh đạo Đảng nhận thấy rằng T-34 và KV đã không còn đáp ứng được yêu cầu chiến trường do những loại tăng mới của Đức đã xuất hiện trên chiến trường. Đặc biệt, loại tăng KV đã không còn đem lại hiệu quả tương ứng với lượng thép cần thiết để sản xuất ra nó. Do đó, sản lượng tăng T-34 đã tăng rõ rệt. Điều này được minh hoạ bằng số lượng tăng hạng trung vượt gấp mấy lần tăng hạng nhẹ và hạng nặng cộng lại. Trong số 4400 khẩu pháo tự hành, 1100 khẩu (25 %) bị tiêu diệt.
Từ 1 tháng Giêng, 1943 tới 31 tháng Chạp 1943
Tăng Tổng số trong danh sách Số bỏ sung Tổng cộng Thiệt hại % thiệt hại
Hạng nặng 2000 900 2900 1300 44.80
Hạng trung 7600 16300 23900 14700 61.50
Hạng nhẹ 11000 5700 16700 6400 38. 30
Tổng cộng 20600 22900 43500 22400 51.50


NĂM 1944
Hiệu quả của các chiến thắng của Hồng quân năm 44 được thấy rõ trong bảng dưới đây
Từ 1 tháng Giêng 1944 tới 31 tháng Chạp 1944
Tăng Tổng số trong danh sách Số bổ sung Tổng cộng Thiệt hại % thiệt hại
Hạng nặng 1600 4000 5600 900 16.1
Hạng trung 9200 17000 26200 13800 52.7
Hạng nhẹ 10300 200 10500 2300 21.9
Tổng cộng 21100 21200 42300 16900 40
Chú ý tới con số quá ít xe tăng hạng nhẹ được bổ sung. Năm 1944 có 13600 pháo tự hành được sản xuất trong tổng số 16900 khẩu, trong đó 6800 khẩu (40.2 %) bị thiệt hại. Dù số phần trăm thiệt hại về xe tăng đã giảm, hãy tưởng tượng tới cảnh 23700 xe tăng bị bốc cháy.

NĂM 1945
Năm của Chiến thắng, năm 1945, bao gồm những chiến dịch quy mô khổng lồ cùng sự đầu hàng của Wermacht (quân đội Đức). Quân đội Đức, dù đã được khích lệ bởi đang chiến đấu trên chính quê hương mình, đã không thể chịu nổi sự áp đảo về lực lượng của Hồng quân. Tuy nhiên, việc bố trí xe tăng trong lãnh thổ thù địch, cộng thêm số lượng lớn thành phố và làng mạc cùng lượng lớn vũ khí chống tăng đã gây ra thiệt hại rất lớn dù đã có ưu thế tuyệt đối về số lượng và sự tiến triển về kỹ năng chiến đấu của lính xe tăng Xôviết.
Từ 1 tháng Giêng 1945 tới 10 tháng Năm 1945
Tăng Tổng số trong danh sách Số bổ sung Tổng cộng Thiệt hại % thiệt hại
Hạng nặng 4700 1500 6200 900 14.5
Hạng trung 12400 6100 18500 7500 40.5
Hạng nhẹ 8200 900 9100 300 3.3
Tổng cộng 25400 8500 33900 8700 25.7
Trong số 15100 khẩu pháo tự hành có 33 % (5000) bị tiêu diệt.
TỔNG KẾT
Trong suốt chiến tranh, kể từ 22 tháng Sáu 1941 tới 10 tháng Năm 1945, con số thiệt hại, gồm cả số được sản xuất trong nước và số được nhận từ nước ngoài theo Hiệp ước lend-lease:
Tăng - 83,500 chiếc gồm tất cả các loại;
Pháo tự hành - 13,000
Xe thiết giáp và các loại xe bọc thép khác - 37,600
Xe tải tất cả các loại - 351,800.
Trở về đầu trang
danngoc is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Gửi email
[ IP : Logged ]
Xem các bài viết từ:   
Chủ đề phía trước :: Chủ đề kế tiếp

Gửi bài mới   Trả lời cho chủ đề   printer-friendly view    NuocNga.Net -> Những danh tướng Xô - Viết Thời gian: [GMT + 7 Giờ]
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển nhanh tới:  
Bạn không thể gửi chủ đề mới
Bạn không thể trả lời các chủ đề
Bạn không thể sửa đổi bài viết của mình
Bạn không thể xoá bài viết của mình
Bạn không thể tham gia các bình chọn
You cannot attach files in this forum
You cannot download files in this forum

Designed by TekCIZ Co., Ltd
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group