NuocNga.Net

Page Loading... please wait!



This page still doesn't show? Click here
 
Trang chủTrang chủ    Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Danh sách thành viênDanh sách thành viên   Nhóm làm việcNhóm làm việc Ban quản trịBan quản trị   Đăng kýĐăng ký 
 Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắnTin nhắn   Đăng nhậpĐăng nhập 
NHỜ DỊCH TIẾNG NGA
Tới trang trước  1, 2
 
Gửi bài mới   Trả lời cho chủ đề   printer-friendly view    NuocNga.Net -> Tôi người lính Nga
Chủ đề phía trước :: Chủ đề kế tiếp  
Tác giả Nội dung bài viết
Nina
Kvas Nga - Квас
Kvas Nga - Квас



Tham gia từ: 10 May 2005
Bài viết: 3618

GửiGửi: 23-Jun-2005 10:54 am    Tiêu đề:  Re: NHỜ DỊCH TIẾNG NGA
Trả lời kèm trích dẫn

Nina thấy không nên tổ chức thi dịch, lãng phí quá vì nhiều người dịch cùng một bài. Chỉ nên treo giải - người có bản dịch hay nhất hay gì đó tương tự thôi

Trích dẫn:
Trong thể lệ nên hạn chế độ tuổi, chứ non nớt như chúng em mà phải đọ kiếm cùng các bác như tudinhuong... thi teo luôn.


Thì cho bác TuDinhHuong tham dự e-e, ngoài cuộc thi (вне конкурса) ấy, tức là chỉ được biểu diễn thôi Smile)

Thể lệ gì đâu nữa, chỉ cần có ai đó muốn và đồng ý dịch là bác danngoc sướng rồi Smile, ai ở TP HCM đồng ý nữa thì Nina xin tài trợ thêm 1 ly сметана nữa Smile
Trở về đầu trang
Nina is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Yahoo Messenger
[ IP : Logged ]
danngoc
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 50
Tham gia từ: 30 Apr 2005
Bài viết: 1336
Đến từ: Việt Nam

GửiGửi: 23-Jun-2005 3:52 pm    Tiêu đề:  Re: NHỜ DỊCH TIẾNG NGA
Trả lời kèm trích dẫn

Thật lòng nhờ các bạn giúp đỡ. Cũng là luyện thêm tiếng Việt nữa mà. Và cũng không yêu cầu chuyên nghiệp như bác TuDinhHuong đâu các bạn à. Tôi nhớ khi dịch hồi ức đầu tiên của Ivan Shelepov (có đăng ở trang chủ), tôi đã phải dịch đi dịch lại tới 4-5 lần mới thấy tạm vừa ý.

Bạn nào có điều kiện xin hãy email tới tôi

thedan@hcm.fpt.vn

Tôi sẽ reply hồi ức bản tiếng Anh hoặc tiếng Nga tùy điều kiện của bạn.

Cám ơn các bạn!
Trở về đầu trang
danngoc is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Gửi email
[ IP : Logged ]
danngoc
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 50
Tham gia từ: 30 Apr 2005
Bài viết: 1336
Đến từ: Việt Nam

GửiGửi: 01-Jul-2005 8:49 am    Tiêu đề:  Nicolai Ob'rynba - Khu du kích
Trả lời kèm trích dẫn

Phần 3

Chú ngựa xám mình phủ đầy sương muối đang nhảy nhót vui vẻ, nhưng tôi thấy lòng nặng nề vô cùng. Thứ nhất là vì việc tôi sắp phải làm: vào ngôi làng gần Atunovo và xử bắn một phụ nữ mà theo như báo cáo của dân làng là đã đến với cảnh binh ở Lepel’. Người phụ nữ này không phải dân địa phương, mà là người tản cư. Tôi không thích nhiệm vụ này, mà làm sao có thể thích được việc đi bắn phụ nữ kia chứ. Nhưng mệnh lệnh là mệnh lệnh, và nỗi sợ hãi của những người sống xung quanh cô ta là một nguyên nhân rất quan trọng, rất nặng ký, vì hành động đi đi lại lại Lepel’ với người yêu cảnh binh của người phụ nữ nọ làm tê liệt những người đang sống trong lo lắng, sợ rằng cảnh binh sẽ biết về các quan hệ của họ với du kích; do vậy thoạt nhìn thì thấy đây là một mệnh lệnh tàn nhẫn nhưng nó lại có cơ sở nhân bản – nó bảo vệ những người đang giúp đỡ cuộc đấu tranh với quân xâm lược. Tôi cũng hiểu thêm rằng mình đang bị thử thách, vì chính Markevich đã kể là ngay trong cuộc họp đội mọi người đã nói: Không biết Nhikolai có dám bắn, hay nói chung là giết chết ai không? Tôi tạo cho mọi người cảm giác (tôi) hơi yếu đuối, mà cuộc chiến đấu thì khốc liệt và đòi hỏi sự tự tin trong mỗi người lính.

Cuối tháng 11, trời rất lạnh, buốt giá vô cùng, đợt rét đến đột ngột, tuyết phủ kín những ổ gà, những vết xe trên đường, cuộn thành những ụ nhỏ; đường ngày càng dễ đi xe trượt tuyết hơn, nhưng trên những gò đụn thì bánh xe vẫn còn nghiến ken két trên mặt đường đóng băng cứng như đá.

Đường phía trước còn dài, ngồi trong cái xe trượt tuyết nhẹ hai chỗ, Pavel, cũng như mọi khi kể hết chuyện nọ đến chuyện kia…

Chúng tôi đến ngôi làng vào ban đêm. Không có căn nhà nào có ánh lửa, chỉ có bóng những căn lều, và phía sau là rừng âm u. Ngựa dừng cạnh căn lều cần đến:

-Đấy, đến rồi đấy. Tóm lại thì, Nhikolai, thực hiện nhiệm vụ đi! Giờ thì xem xem cái mụ cảnh binh này là thế nào?

Anh ấy như muốn làm tôi tức điên lên vì biết rằng tôi sẽ rất khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ này. Tôi muốn có chỗ dựa nên rủ anh cùng vào. Mở cửa cho chúng tôi là một ông cụ, rồi ông quay vào, vặn đèn và treo lên tường. Ánh sáng leo lét nhưng từ ngoài tối vào nên thấy nó rất sáng, soi rõ một vách ngăn bằng ván có dán giấy tường màu hồng. Phía trong khung cửa không có cánh, tôi thấy một cụ bà, nằm trên những chiếc ghế kê vào nhau, quay phía lưng tựa ra ngoài, chỗ trống bên cạnh chắc là của cụ ông. Tôi hỏi ông cụ:

-Những ai đấy?


[img][/img]
Mùa xuân năm 1943 ở khu du kích Lepel’. Chữ ghi ngoài bìa: “Tôi đi ngựa đến làng, thấy người phụ nữ này. Vũ khí cất giấu ở bìa rừng, đợi quân Đức tấn công đến, còn bà cụ trồng khoai tây quanh chỗ để vũ khí. Tôi cho phép mình dùng cuộn phim mà tôi quý như vàng và quyết định ghi lại cảnh này. Sau chiến tranh tôi quay lại Pushno, lòng muốn gặp người phụ nữ này để hỏi về số phận bà. Ngay tại sân nhà bà, người ta chỉ cho tôi một hố bom và kể rằng bà đã mất mùa xuân năm 1944, khi đang trồng khoai tây. Máy bay tới, ném bom – rơi ngay xuống đây.

Ông cụ trả lời rằng hai ông bà sơ tán từ Leningrad về đây năm 1941 và từ đó ở lại đây luôn. Ông cụ đứng giữa nhà, khoác cái áo len phụ nữ, quấn chiếc khăn nhàu nhĩ ở cổ và nhìn chúng tôi với vẻ bất lực.

-Thế còn một người nữa đâu?

Tôi nói to, cố gắng tỏ ra nghiêm khắc, cố gợi cho mình cảm giác thù ghét người phụ nữ đi lại với cảnh binh, nhưng điều này chỉ làm cho tôi càng thêm bực bội và cảm thấy thật vô lý khi gào lên với những cụ già bất hạnh này:

-Cô Nadedzda á? Cô ấy ở đây, - cụ già nói và chỉ vào phía trong khung cửa, đằng sau tấm rèm - Cô ấy cũng là dân sơ tán, từ Leningrad.

Tôi gạt cái rèm ra và thấy một phụ nữ trẻ nằm trên giường sắt với hai đứa nhỏ, một đứa trai một đứa gái, bé gái chắc khoảng 3 tuổi, còn bé trai trông có vẻ lớn hơn. Trong lòng bỗng lẫn lộn bao nhiêu cảm xúc! Tôi phải thi hành mệnh lệnh! Mà mệnh lệnh bây giờ thì càng trở nên nặng nề hơn, tôi phải bắt đầu chiến công của mình bằng việc bắn vào người phụ nữ ngu ngốc rước bất hạnh vào mình và con cái này.

Nadedzda im lặng ngồi dậy. Cô ấy mặc áo sơ mi nam, mặt nhợt nhạt, với vài chỗ sưng vù. Tôi bắt đầu nói rằng vì hành vi của cô ta, vì cô qua lại với cảnh binh nên cô ta phải nhận án:

-Người ta đón nhận cô về sơ tán! Thế mà cô trả ơn họ bằng cách làm bây giờ cả làng sợ cô, không dám giúp đỡ du kích vì lo bị cô bẩm báo! Cô khéo chọn được lúc để yêu đương với cảnh binh nhỉ?

Nadedzda đứng cúi mặt như hoá đá, hai tay buông thõng, còn tôi thì dùng đủ mọi lời lẽ chua cay để lên án cô ấy, nhưng trong đầu thì ong ong: Rồi, bây giờ dẫn cô ta ra sân, và bắn, sau đó quay lại phòng và phải làm gì đó với lũ trẻ, các cụ già không nuôi nổi chúng, bản thân họ còn lay lắt, mà sau những chuyện như thế này thì trong thôn chẳng ai muốn cưu mang chúng đâu. Đưa chúng đi đâu bây giờ? Chẳng lẽ lại cứ để mặc chúng lại đây, một mình trong căn lều lạnh lẽo này rồi lên xe đi? Tôi quay sang hỏi Khot’ko:

-Pavel, làm gì với loại cỏ rác này đây?

Pavel cũng không biết làm sao nên trả lời ngắn gọn:

-Cậu nhận lệnh rồi, cứ thế mà thực hiện.

Tôi nhận thấy là mọi lời nói của tôi với tội nhân chẳng tạo nên ấn tượng gì, cô ta hoá đá vì bị sốc như phần lớn những người sắp lãnh án. Tôi lại bắt đầu:

-Tại sao cô không biết nghĩ đến bọn trẻ con? Sao lại có thể đến với bọn giặc như thế?! Chính vì bọn phát xít mà cô phải chạy khỏi Leningrad, thế mà bây giờ lại sang Lepel’ – đến với bọn chúng!

Tôi hiểu rằng những lời nói của mình là vô ích. Tôi quyết định: phải lôi cô ta ra khỏi trạng thái gỗ đá này, bắt cô ta phải cảm thấy nỗi sợ cái chết và khi đó mới nói tiếp.
Tôi nghiến răng thì thầm để không làm trẻ con thức giấc:

-Nào, mặc quần áo vào, ra ngòai trời!

Cô ta ngồi xuống như cái máy, ngoan ngoãn cho chân vào đôi ủng lính to đùng còn buộc dây kỹ, thấy rõ là đã lâu không buộc, không tháo gì, khoác lên vai cái áo lót lông mới phủ dưới chân cô ta và đi theo tôi. Đến cửa tôi nói với lại:

-Cầm lấy cái xẻng, sẽ tự đào mồ cho mình, chứ còn bắt ai đào cho nữa.

Chúng tôi bước ra ngoài bóng tối. Ánh sáng chiếu qua khe cửa, gió cuộn tuyết trên mặt đất. Tôi lại bị nhói lên vì ý nghĩ: Tôi đưa bọn trẻ đi đâu bây giờ? Người phụ nữ bước ra và các cái xẻng đi theo gò đất, kéo lê đôi ủng to tướng.

-Nào, - Tôi giận dữ nói, - đào đây!

Cô ta bắt đầu thử thúc xẻng xuống đất đóng băng… và bỗng rùng mình và khóc rền rĩ. Bây giờ lại phải quay lại căn lều, lại nói chuyện lại, cố tìm lối thoát, làm rõ xem tại sao cô ta đến Lepel’, khi đó sẽ hiểu rõ là cần phải làm thế nào với cô ta.

Chúng tôi bước vào căn lều, ngọn đèn chiếu thứ ánh sáng rầu rĩ, Pavel ngồi cạnh bàn, các cụ già co ro trên những chiếc ghế của mình, trẻ con ngủ. Và lòng tôi lại rối lên:

-Nhikolai, quyết đi, - Khot’ko nói, - cậu lằng nhằng với nó lâu quá.

Bấy giờ chúng tôi ngồi vào bàn và tôi thấy cô ta khóc. Tôi hỏi:

-Kể xem, khi nào và để làm gì?

Cô ta nấc lên, lấy tay che mặt, vai rung lêm:

- Tôi ra chợ… váy dài… cho trẻ ăn. …màu xanh, tơ lụa Trung quốc…tôi muốn bán. Hắn tới gần và bảo: “Đi với tôi, tôi mua cái váy cho”. Tôi đi với hắn, hắn bảo: “Tôi sẽ cho em một xô lúa mạch, tôi thích em”… Vào đến nhà, thế là …hắn…đẩy…lên giường…Hắn cho lúa …và tôi …về, ở nhà mọi người đang đói…

[img][/img]
Nhóm tập trung ở hầm tham mưu, vào những ngày đầu tháng 10 này, chỉ huy đội cử một toán lớn – 10 người - đi đánh đường sắt. Dẫn đầu toán này là chỉ huy trung đội trinh sát Nhikifor Dzurko và trinh sát viên Vaxilii Vitko. Thiết tha đòi theo nhóm đi thực hiện nhiệm vụ có Fedia Moshov, một du kích trẻ, vẫn còn là một chú bé, nhưng chú không được nhận, tôi thấy đôi môi chú run run vì giận dỗi, muốn chú khuây khoả nên tôi dẫn chú vào hầm chúng tôi và quyết định chụp cho chú một pô ảnh, tôi có một cái máy ảnh “Kontack” lấy được của quân Đức. Vaxia Vitko đuổi theo chúng tôi và khi biết về việc chụp ảnh đã bảo chụp như vậy phí đi. Rồi họ quay lại với đầy đủ quân phục, Vitko còn có một khẩu súng máy chiến lợi phẩm, và tôi chụp họ cùng với nhau, rồi chụp một mình Fedor, sau đó chúng tôi sang chụp cả đội đánh mìn chuẩn bị đi làm nhiệm vụ. Vitko bước xuống từ cái xe đạp, bên cạnh đó có một trái mìn có đề dòng chữ: ”Reichstag (Nghị Viện Đức). Adolf Hitler”.

(Đây là chuyện bình thường khi lính pháo binh, không quân hay du kích viết sơn lên những viên đạn pháo hoặc bom chuẩn bị đánh vào đầu kẻ thù. Trong một đọan phim tư liệu quay cảnh trận Công phá Berlin, tôi trông thấy hai lính pháo binh Xôviết ghi lên quả đạn pháo dòng chữ tiếng Nga “Na Reikhstagu”, “Za Rodinu”, “Na Gitler” v.v. Viết chữ lên đạn cũng được không quân Mỹ và du kích Việt Nam sử dụng trong Chiến tranh Việt Nam - LTD)

Trên ảnh Fedia trông khá oai, nhưng rõ ràng là khuôn mặt rất buồn, như vừa khóc. Chú mới 13 tuổi. Cha chú, một du kích, bị bọn cảnh binh bắt giữ và chúng đặt một ổ phục kích trong nhà Moshov, vì chúng nghĩ: “Thế nào sói mẹ cũng tới cứu sói con”. Mẹ Fedia làm bánh nhân anh túc, thuốc cho lính canh ngủ và đêm đến bà cùng với con trai chạy thoát được qua cửa sổ, chạy ra rừng. Và thế là Fedia trở thành du kích – làm trinh sát, một trinh sát thông minh, giỏi giang.
Tất nhiên là mọi người chiều chuộng và cố gắng trang bị cho cậu bé Fedia, kiếm được cho chú áo khoác, đính thêm galife vào (cái này em chịu), ủng cũng tìm được đôi vừa chân. Vaxia Vitko còn cắt bớt cái báng súng Đức đi cho nhẹ hơn. Trên tấm hình còn cho thấy bộ bao đạn trên người Fedia cũng là của Đức, đạn cũng đạn Đức, trên thắt lưng là lựu đạn RGD, đó là của Vitko cho mượn, để cho ra vẻ một người lính hoàn hảo.


Người phụ nữ run rẩy vì sợ hãi, vì phải nhớ lại nỗi nhục của mình, nấc nghẹn, nhưng cô ta không được khóc, để không làm bọn trẻ con thức giấc, tôi cũng rùng mình ớn lạnh, tôi thấy thật tội nghiệp cho cô ta, tôi biết là cô ấy nói thật, tôi rùng mình vì cái sự thực khủng khiếp này, khi bạn phải kết án một người rơi vào vòng xoáy của các sự kiện. Và tôi chợt loé lên ý nghĩ – nhưng cô ta không có lỗi! Đây là hoàn cảnh bên ngoài đối nghịch cô ấy, còn cô – không có lỗi gì!!! Và không còn nghĩ đến việc phải chịu trách nhiệm về việc không hoàn thành nhiệm vụ, tôi moi trong cặp ra một cuốn sổ, Khot’ko ngạc nhiên nhìn, không biết tôi định làm gì?

-Đây, Nadedzda! – Tôi nói – Hôm nay cô đã hiểu cuộc sống có thể quay lưng với cô, để lại hai đứa con mình côi cút như thế nào. Đừng nghĩ đến chuyện quay lại chỗ cảnh binh lần nữa nghe chưa? Mà thôi không đến Lepel’ luôn đi! Tạm thời tôi cho cô giấy đến kho của đội, đến Antunovo mà nhận nửa bao lúa mạch. Có thể hỏi xem có việc gì làm không, ở đó có các xưởng may quần áo ngụy trang cho chúng tôi.

-Cậu làm sao đấy, Nhikolai, điên à?! – Khot’ko không nhịn được, hỏi tôi.

Nhưng tôi thấy nhẹ lòng. Nadedzda đưa tay run run cầm tờ giấy tôi vừa xé ra. Tôi bước ra khỏi bàn, Khot’ko cũng đứng dậy, hai cụ già tiến lại chỗ chúng tôi, tôi nói với lại với các cụ:

-Các bác trông chừng cô ấy nhé, để cô ấy đừng làm điều gì ngu ngốc nữa. Sẽ không biết phải làm sao với bọn trẻ đâu.

Chúng tôi bước ra ngoài bóng đêm đầy gió và những bông tuyết bay là là trên mặt đất, phải đi thôi. Ngựa lạnh cóng, hăng hái kéo xe trượt đi trên mặt đường đóng băng, Khot’ko chỉ nói:

-Bọn Đức chó chết! Chắc là cậu đúng, chẳng biết làm sao với bọn trẻ. Có thể rồi đâu sẽ vào đấy. Chỉ cần trên đường về phải rẽ vào bảo họ đừng có đụng đến cô ấy nữa.

Dịch từ Nga sang Việt: Nguyễn Thủy (TuDinhHuong)
Hiệu chỉnh: L‎ý Thế Dân
Trở về đầu trang
danngoc is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Gửi email
[ IP : Logged ]
danngoc
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 50
Tham gia từ: 30 Apr 2005
Bài viết: 1336
Đến từ: Việt Nam

GửiGửi: 01-Jul-2005 8:50 am    Tiêu đề:  Re: NHỜ DỊCH TIẾNG NGA
Trả lời kèm trích dẫn

Các bạn tự tin lên đi chứ, giúp tôi đi. My email :
thedan@hcm.fpt.vn
Trở về đầu trang
danngoc is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Gửi email
[ IP : Logged ]
Nina
Kvas Nga - Квас
Kvas Nga - Квас



Tham gia từ: 10 May 2005
Bài viết: 3618

GửiGửi: 16-Jul-2005 9:56 am    Tiêu đề:  Hồi ký của Larin Pavel Ivanovich
Trả lời kèm trích dẫn

Để Nina gửi bài này lên cho khí thế cái nhá

Phần 1
Larin P. I (ảnh của cá nhân)
- 22 tháng 6. Tôi đang trực canh, ở thành phố Zgiutomir. Chúng tôi có cả một quân đoàn, 2 sân bay quân sự, rồi sau đó, khi người ta nói về lúc bắt đấu chiến tranh thì luôn luôn nhắc tới Zgiutomir – nơi đấu tiên bị ném bom. Lúc ấy là gần 4 giờ sáng. Vậy là tôi đang trực canh, gọi là trực đôi ấy mà. Tôi cùng một đồng đội đứng gác thì nghe tiếng ấm. Thế rồi chúng tôi được đổi gác “Đi vào doanh trại đi – cách đây gần 150 m ấy, hay là nghỉ ngơi ở đây đi, nhưng đừng đứng gác nữa”. Thế là chúng tôi cởi áo khoác ngoài cầm tay và đi khỏi trạm gác khoảng chừng 20 m, nằm xuống và …. Chúng tôi nghe thấy có những tiếng nổ, mà cũng có thể không phải tiếng nổ - chúng tôi không biết chuyện gì đã xảy ra. Tiếng gì như vỡ đổ, khá to, rồi thì Ầm! Chẳng lẽ chủ nhật mà lại tập trận à? Mà nói chung ở vùng đó hay có tập trận – nhiều bộ đội mà. Tóm lại là chúng tôi chẳng biết gì cả. Dường như là những cái đó làm chúng tôi không ngủ được. Rồi sau đó thì các đồng đội đứng gác cũng không biết gì – sắp tới giờ ăn sáng. Một cậu trực ban cầm mấy cái phích nước đi đến: “Các cậu tới nhà ăn, đem bữa sáng lại đây nhé”. Thế rồi khi chúng tôi quay trở lại thì chiến tranh đã bắt đầu. Những tiếng ồn ào đó đúng là chiến tranh thật. Thế mà chúng tôi không ngờ đến! Chúng tôi ăn sáng rất nhanh: “Đi vào doanh trại.” Còn ở đó thì đang lộn xộn. Lúc đó đã biết rằng chiến tranh đã nổ ra, rằng người Đức đã ném bom sân bay và cây cầu. Ở đó có con sông Teteria – họ ném bom cả cây cầu bắc qua sông đó. Chúng tôi ở trong doanh trại như tất cả mọi người, vào lúc 13 giờ thì Molotov nói trên đài phát thanh và nói về chiến tranh, và tuyên bố rằng cuối cùng thì chúng ta sẽ chiến thắng. Các chỉ huy cũng không biết gì cả, và hình như chẳng có mệnh lệnh gì. Nhưng dù sao thì người Đức đã ném bom rồi, thế thì họ có thể ném bom cả doanh trại chúng tôi nữa. Vạy là tất cả đi lấy xẻng và đào công sự. Chúng tôi đào công sự ở chỗ trống ngay cạnh doanh trại. Rồi lại chờ đợi. Có lệnh nhận tài sản từ các kho chứa: ủng, áo va rơi. Tính đến lúc đó thì tôi mới ở trong quân ngũ được đúng 8 tháng.
- A.D. Anh là binh nhất đi nghĩa vụ?
- Binh nhất
- A.D. Đấy là bộ phận gì?
- Pháo binh siêu nặng
- А.D. Bộ phận này đã có ngay từ lúc đầu?
- Vâng. Những vũ khí như thế này. Ở đây là kích thước 203 mm, còn chỗ chúng tôi là 280 mm, chúng có nòng ngắn và dầy hơn. Còn những phần chính thì cũng thế thôi. Loại 203 là pháo hạng nặng, ở đó bức kích pháo 207- VM, còn loại cuả chúng tôi là OM. Đấy là nòng nhô, 280 mm. Đạn của nó nặng gần 300 kg. Nó chỉ bắn đến 11 km thôi, nhưng nó dùng để diệt các công sự vững chắc. Đơn vị của chúng tôi với vũ khí đó được thành lập vào năm 1939. Lúc đó là chiến tranh Phần lan đã bắt đầu. Và tiểu đoàn của chúng tôi (lúc đó tôi chưa nhập ngũ, tôi đi nghĩa vụ năm 1940, tức là sau khi họ đã chiến đấu xong), tiểu đoàn của chúng tôi tham gia vào chiến tranh Phần lan. Trên mặt trận Leningrad tại eo Kareli. Rồi sư đoàn của chúng tôi vào cuối chiến tranh được mang tên là “Tiểu đoàn pháo binh siêu nặng RGK Berlin 34 huân chương Cờ đỏ Cutuzov” – tên dài thế đấy
Thế là đơn vị của chúng tôi đã đi qua hai lần trên con đường của mình: trong các năm 39 -40 là Leningrad – Vưborg, đường nhựa và dọc đường nhựa là dải phòng ngự, nơi mà sư đoàn đã đánh các hỏa điểm. Ở đó chúng tôi đã chiến đấu xuất sắc, rất nhiều người chúng tôi đã được tặng thưởng. Trong đó có cả tiểu đoàn trưởng
- А.D. Bây giờ chúng ta quay lại năm 41, điều gì đã xảy ra?
- tiếp theo, tới chiều thì chỉ huy nói: “Sẽ có tăng viện, tân binh sẽ tới”. Còn chúng tôi thì đứng trong doanh trại, gần chỗ chúng tôi có 2 trung đoàn đại bác. Trước chiến tranh gần một tháng thì một trung đoàn đi đến gần biên giới, theo như họ nói là đi tập trận (huấn luyện). Thế mà họ đem đi bao nhiêu là đạn dược! Ở chân cánh lái xe cũng hàng đống hòm đạn. Họ đem đi tất cả đạn dược có thể đem. Tới cuối ngày thì người Đức ném bom các kho vũ khí gần đó – rất nhiều vũ khí. Chỗ đấy cách chúng tôi khoảng 400, mà cũng có thể là 500 mét. Kho cháy, đạn nổ, không phải là tất cả cùng lúc, mà là từ từ. Đến tối thì chúng tôi được giao trực canh vòng quanh doanh trại. Tức là phải đi dọc bờ rào, chỗ mà những cái vũ khí ấy đang nổ. Lúc đó thì chúng tôi đều sợ đến gần. Nhỡ nổ ngay thì sao – ai mà biết được! Chẳng ai có kinh nghiệm cả. Thế rồi thôi. Đến tối thì phiên trực của chúng tôi kết thúc. Chúng tôi nằm chợp mắt gần lều, chỗ công sự ấy. Mỗi người đều có áo khoác shinel, áo mưa bộ đội theo đúng điều lệnh nhé. Lúc đó lại có báo động – máy bay ném bom bay đến. Rồi thì những chiếc máy bay ném bom sáng lập lòe bay trên doanh trại của chúng tôi. Mà chúng tôi thì không biết phải làm gì, phải làm sao tiêu diệt chúng. Rồi các đồng đội của tôi bắt đầu bắn. Tôi thì thấy là vô ích nên không bắn, mặc dù tôi bắn cũng khá lắm – bắn 50 phát thì 50 trúng đích. Nhưng mà tôi không bắn vì thấy bắn chỉ phí đạn. Cuối bãi là một khoảng rừng nhỏ - cây bạch dương cao khoảng 8 – 10 m, qua các cành cây có thể thấy rõ máy bay và bom. Trên cây có ai đó – lính dù. Thế là cậu bạn tôi leo lên cây. Anh ấy trèo lên, tên lính dù cũng leo lên cao hơn. Cây bạch dương nghiêng xuống, thế là cả hai ngã xuống. Chúng tôi bắt giữ tên lính dù – hóa ra là hắn mặc quân phục Hồng quân. Cũng là lính, nhưng không phải đơn vị chúng tôi – mà là một đơn vị cạnh đó. Doanh trại ấy là bộ binh, lính từ vùng nào đó ở Tây Ucraina. Họ còn hát các bài hát bằng tiếng U, rất khó hiểu. Hóa ra là một anh chàng đào ngũ của đơn vị bên. Không phải lính dù, mà là đào ngũ!
- Thế rồi chúng tôi dẫn anh ta về đơn vị đó – thế là xong, yên tĩnh đến sáng. Sáng hôm sau khi chúng tôi ngủ dậy, thì cũng như mọi khi anh nuôi chuẩn bị thức ăn và phân phát cho mọi người. Nhưng chúng tôi vẫn không làm gì, chỉ ngồi một chỗ. Bỗng có lệnh “Các khẩu đội, lên xe”. Chúng tôi có xe hơi để chở người, máy kéo và rơ moóc để chở đạn. Chúng tôi lên xe và đi đến sân bay ở đầu kia thành phố. Tức là thế này, Zgiutomir có một thị trấn lân cận tên là Guivo – doanh trại của chúng tôi ở đó, còn nơi này thì ở tận đầu kia của thành phố - ở đó là sân bay phía tây. Chúng tôi rải quân ra ở sân bay này. Ở các chỗ trống trải cứ cách khoảng 40 – 50 m thì lại có lính, còn ở chỗ có rừng thì cứ 10 m một. Để chống đổ bộ. Quả thật là chúng tôi thì không thấy, nhưng đêm trước đã có rồi. Chúng bắn pháo hiệu để chỉ đường cho máy bay. Vào ngay đêm đầu tiên thì bạn tôi - Pasha Chernhiako đã bị thương. Ai đó đi trong rừng, cậu ta hét “Đứng lại, ai đó”, rồi thì nghe tiếng súng nổ, cậu ta bắn. Thế là cậu ấy bị thương. Đấy là đêm 26 tháng 6 chúng tôi có người bị thương. Còn sau đó à? Có một hôm họ rút tất cả chúng tôi ra. Ban đêm lên xe rồi đi đâu đó ra ngoài thành phố. Tôi cũng không nhớ, đi bao xa nữa, có lẽ là khoảng 15 – 20 cây số. Dọc đường nhựa thì đi theo đội hình chiến đấu, trinh sát dọc đường, các trạm quan sát, pháo thì ở đâu đó phía sau. Nghe nói: xe tăng Đức đã xông vào …
- A.D. Các anh với những vũ khí ấy đi chống tăng ư?
- Thế đấy, với những vũ khí cuả chúng tôi. Tất nhiên là không hay lắm khi dùng những vũ khí ấy đi chống tăng. Nhưng dù sao thì chúng tôi cũng triển khai đội hình chiến đấu. Cũng có ý nghĩ phòng hờ, có thể thế, hay là ra khỏi thành phố cứu lấy pháo. Chúng tôi đóng vài ngày phòng ngự như thế. Quả thật là từ phía tây đã nghe tiếng súng. Chúng tôi được lệnh “Lên xe!”. Thế là chúng tôi rời khỏi chỗ đó, vào thành phố ra ga và chất các thứ lên tàu rồi đi. Đi đâu ấy à? Đang có các trận chiến ở gần ngoại ô thành phố với những chiếc xe tăng đã vào được gần thành phố, vậy mà chúng tôi thì lại chất vũ khí lên tàu và đi.Chúng tôi được lệnh đi tàu thật nhanh đến vùng biên giới cũ – đó là cách thành phố Novograd-Volưnsk khoảng 120 – 130 km. Chúng tôi phải chiến đấu ở đó. Chúng tôi đang chuẩn bị chất hàng lên tàu thì bị ném bom. Thật kinh khủng. Không chất được gì lên cả - các toa xe lửa cháy, nhà ga cháy, tất cả đều cháy. Chúng tôi chạy xa nhà ga ra, vào chiến hào, mạnh ai nấy trốn. Hết ném bom thì mới tập hợp đội hình. Rất ít người bị thương – mỗi khẩu đội chỉ có 1-2 người. Tóm lại là rất may mắn. Có nghĩa là không có chất hàng gì hết, ai lên xe nấy và đi. Trung đội trưởng hạ lệnh cho bộ phận trinh sát, tức là chúng tôi ấy, đi lên trước đội hình theo con đường mà ông ấy chỉ ra trên bản đồ. Hóa ra là đi theo hướng tới Kiev. Đấy là quyết định riêng của chỉ huy, vì bây giờ mà đi đến Novograd-Volưnsk cũng vô ích thôi, đang đánh nhau ở sát bên chỗ đóng quân, thế thì chúng tôi đến Novograd-Volưnsk để đầu hàng quân Đức chắc? Có lẽ là chẳng có mệnh lệnh nào từ trên cả, còn chỉ huy pháo binh ở trong doanh trại thì không sao liên lạc với Ban tham mưu quân khu được.
- A.D. Đấy đã là ngày nào rồi?
- Đấy là vào khoảng ngày 30, đúng rồi. Chúng tôi đi ra khỏi thành phố, sắp thành hàng lối. Xe hơi đi trước, rồi đén máy kéo và vũ khí, máy kéo và đạn dược.
- A.D Thế các anh có những máy kéo loại gì?
- Ban đầu thì chúng tôi có những chiếc máy kéo “Voroshilovetx”, chúng có từ thời chiến tranh Phần lan đấy. Có khi là các anh cũng thấy những chiếc máy kéo ấy rồi. Máy kéo, sau ca bin nó thì có thùng xe, nơi mà khẩu đội ngồi, sau đó thì là vũ khí. Nhưng sau khi bắt đầu chiến tranh thì người ta thu mất của chúng tôi những chiếc máy kéo loại ấy. Mà họ đưa cho chúng tôi loại máy kéo nông nghiệp được động viên – loại máy kéo của Nhà máy máy kéo Cheliabinsk. Chúng cũng đủ mạnh để kéo nhưng thứ vũ khí mà ở trạng thái hành quân thì nặng 18 tấn. Khẩu đội có 2 loại vũ khí, tất cả có 6 khẩu pháo thôi, cứ mỗi khẩu đội có 3 máy kéo. Cái máy kéo thứ nhất kéo pháo, cái thứ hai kéo xe, trên xe là nòng pháo ở tư thế hành quân.
- A.D. Thế bình thường thì nòng pháo kéo như thế nào?
- Nòng pháo kéo về phía trước. Một cái xe đẩy đẩy đến chỗ càng pháo, trên đó thì có đường ray, rồi thì nòng lăn theo ray. Một cái máy kéo thì kéo càng pháo, cái thứ 2 thì chở nòng. Còn cái thứ ba thì kéo rơ moóc, ví dụ đạn dược hay là gì đó nữa. Vận tốc hành quân khoảng 15 km một giờ. Thế rồi thì chúng tôi làm hỏng những chiếc Voroshilovetx vì kéo đi nhanh quá. Vũ khí thì nặng, mà phần kéo thì yếu. Trên đường đi Kiev ban ngày chúng tôi thường xuyên bị ném bom, chủ yếu là bọn tiêm kích. Đầu tiên thì chúng bắn, rồi sau đó thì ném bom. Những quả bom cũng nhỏ thôi, nhưng mà chúng ném nhiều. Chúng tôi đi mất mấy ngày. Dọc đường toàn là những bức tranh đáng sợ. Những đơn vị bị chia xẻ, các anh bộ đội đi riêng lẻ - các vị chỉ huy riêng rẽ - 1-2 người, rồi cả dân chúng nữa dọc theo quốc lộ. Các nhân viên nông trang thì đem máy kéo của mình kéo các máy liên hợp gặt đạp đem đi đâu đó về phía đông ra xa khỏi kẻ thù (người Đức). Những cảnh tượng đó làm chúng tôi rất buồn. Chúng tôi rất đau, không cho ai tới gần các rơ moóc vì đó là dạn dược của chúng tôi và thuốc súng. Chúng tôi canh giữ. Khi máy bay bay tới và bắt đầu ném bom thì chúng tôi chạy tới cứu các máy kéo, không để ý tới máy bay nữa. Người lái máy kéo không nghe thấy gì, chúng tôi đập vào cửa ca bin, anh ta dừng lại và chúng tôi mau chóng chạy ra xa – chúng tôi có đạn dược. Nếu bom rơi trúng vào chỗ chúng tôi và nổ thì mạnh khủng khiếp. Sau đó chúng tôi ngoảnh nhìn lại – mảnh bom và đạn rơi vào chỗ vũ khí, làm đổ tung tóe một số, có lẽ là do vỏ ngoài của máy kéo bị nghiêng có màu vàng rất rõ. Thế là chúng tôi đã có kinh nghiệm, bây giờ mà ném bom là chúng tôi dừng máy kéo lại và nằm dưới rơ mo óc. Những viên đạn đại bác che chở thật tuyệt vời. Thế rồi có một hôm tôi ngồi xoay lưng lại phía trái ca bin, bên phải tôi là anh chàng trinh sát Kosinsky. Một quả bom nổ bên trái chiếc máy kéo của chúng tôi, và một mảnh bom rơi vào mũ bảo hiểm của tôi. Nhiều mảnh bom khác bay đến, làm bị thương đồng chí lái xe ngồi bên phải, và làm hỏng chiếc máy kéo. Mảnh bom trúng vào mũ, làm gẫy miếng kim loại, trong mũ là miếng nhựa đội ở trên đầu ấy, thế là mảnh bom đi vào miếng nhựa, làm cong queo, nhưng may mà nó đi tiếng. Nhưng vì cái mù bị cong nên làm tôi bị thương một ít. Tất nhiên là tôi bị chóng mặt rồi ngất đi, máu chảy ra, các bạn tôi sợ hãi, anh lái máy kéo bị thương. Nhưng tất cả cũng qua, các bạn băng bó cho chúng tôi (tất cả đều có túi cứu thương). Người cứ lâng lâng. Nếu anh bị lấy búa bổ vào đấu thì chắc là anh sẽ có cảm giác tương tự đấy. Mảnh bom! Đấy là ngày 5 tháng 7. Sau đó thì chúng tôi chỉ hành quân ban đêm... Đêm thì ngắn, khoảng 4 tiếng, thế là hết. Vì thế mãi đến hôm sinh nhật tôi, ngày 9 tháng 7 chúng tôi mới đến Kiev. Chúng tôi ở đây là chiếc áy kéo và cái rơ mo óc, vì tiểu đoàn đi trước trong khi chúng tôi chữa máy kéo sau trận bom.
Chúng tôi đến Kiev và để xe vào khu để xe ngoài rìa thành phố. Đến đó là thấy nhẹ nhàng hơn, vì ở đó có thợ sửa xe, dụng cụ và mọi thứ cần thiết. Không thấy tiểu đoàn đâu, mà cũng chẳng hiểu tiểu đoàn đi đâu, chẳng thấy ai cả. Chúng tôi ở đó hơn một ngày, đói khát, tôi thì có cái đầu đầy băng, anh lái máy kéo thì bị thương. Thế rồi đến hôm sau thì một chiếc xe của tiểu đoàn xuất hiện và đưa chúng tôi đến Borispol. Chúng tôi đóng trong rừng. Canh gác khắp nơi, tuần tra khu vực, ngụy trang mọi thứ, vì người Đức ném bom Kiev. Ban đêm thì người Đức đã sử dụng lính dù chỉ dẫn để ném bom đơn vị bên cạnh. Chúng tôi cũng sợ bị ném bom, vì thế rất nhiều người làm nhiệm vụ tuần tra. Tôi phải nói thêm là chúng tôi được bổ sung quân số từ các làng Ucraina, dân hộ khẩn vùng đó. Họ không khéo léo lắm – đã kha khá tuổi rồi, cỡ chừng 35 – 40. Một phần trong số đó đã đào ngũ khi chúng tôi hành quân từ Zgitomir đến Kiev. Vì họ được gọi nhập ngũ từ các làng gần dọc đường tới Kiev.
Chúng tôi đóng ở Borispol vài ngày rồi lại được điều tới Kiev. Chúng tôi chiếm lĩnh vị trí bên bờ trái cạnh cấu (bắc qua sông Dnepr). Cánh trinh sát chúng tôi thì có điểm quan sát cách cầu khoảng 70 – 80 m. Nhiệm vụ của cánh trinh sát và cả tiểu đoàn nói chung là bắn vào người Đức, khi họ tới phía tây Kiev. Bắn về phía đó, và nếu người Đức dùng xe tăng Đức đánh xung kích thì bắn về phía đầu xa của cầu, đầu gần thành phố ấy. Thế là chúng tôi phòng thủ ở đó gần một tháng. Người Đức ném bom cầu, thì chúng tôi cũng được một ít bom. Sau đó chúng tôi được điều đến Brovar.
- A.D. Thế anh có bắn không?
- Có bắn, nhưng ít. Chúng tôi không bắn cầu. Vì ở đó khắp nơi là cả đám không chỉ quân Đức, mà cả cánh lính xung kích của ta, có thể trúng quân ta mất. Thế rồi từ Brovar chúng tôi được đưa đi sang phía Đông. Chúng tôi dỡ hàng ở gần Kharkov, sau đó lại chất hàng lên và đi tới Liman Đỏ, rồi đóng quân ở Belaya Kalitva gần một tháng. Sau đó thì rút lui qua vùng Bắc Kavkaz. Chúng tôi ở Mozdok cùng khá lâu. Ban đầu thì phòng thủ. Đó là mùa thu năm 41. Người Đức lúc đó tiến rất nhanh chóng. Chúng tôi ở đó suốt cả mùa đông, rồi sang năm sau thì người ta lại điều chúng tôi đi xe lửa qua Makhachkal, Bacu, Derbent, rồi vòng theo đường xe lửa Zakavkaz sang phía tây. Rồi chúng tôi chuẩn bị trận địa ở Shankhor, vì lúc đó người Thổ chắc là sẽ tiến công ăn theo thành công của người Đức. Tình cảnh hay thật: chúng tôi ở đó, người Đức thì sau lưng chúng tôi trong núi, còn chúng tôi thì chờ người Thổ tấn công. Nhưng người Thổ không tiến công, có lẽ là do họ thông minh hơn. Thế là người ta lại rút chúng tôi đến Makhachkal. Đúng ra thì đến Makhachkal chúng tôi phải lên tàu đi sang phía tây chiến đấu, thế nhưng đến lúc đó thì đường sá đã bị cắt đứt, thế có nghĩa là không thể sang phía tây nào nữa. Chúng tôi ở đó, thỉnh thoảng bị ném bom, nhưng không nguy hiểm. Lúc đó các đơn vị vẫn còn đang rút lui từ Kavkaz. Cảnh tượng cũng y như ở gần Kiev: máy kéo dọc đường, kéo máy móc, người ta đưa các đàn gia súc lớn đi. Tất cả đi ngang qua chúng tôi. Nhưng hồi đó công tác hậu cần dở lắm – bánh mì đầy trấu. Cắn một miếng là nó kéo căng cả miệng . Người dân cho chúng tôi rất nhiều cá. Các nông dân của các nông trang rất tiếc phải bỏ lại cừu. Cừu nằm trên những chiếc xe ấy, con thì gẫy chân, hay sao đó. Thế là họ để lại cho chúng tôi những con cừu đó. Vậy là chúng tôi ăn đồ ăn quá béo. Bắt đầu có bệnh dịch lỵ. Chúng tôi để lại rất nhiều người trong các bệnh viện. Những người còn lại thì lên phà. Đó là một chiếc phà rất lớn, cả tiểu đoàn với xe cộ lên cũng vừa, thiếu mỗi đạn. Người ta chất đạn lên một cái phà riêng và với ca nô tuần hành họ đã chở chúng tôi qua biển đến Guriev. Chúng tôi đi trên biển hai tuần. Lương thực, nước uống đều cạn. Xung quanh thì đầy nước mà không uống được. Đầu tiên mỗi người được phát một bình nước, sau đó thì từng ca, uống ướt họng thôi. Rồi cũng đến Guriev. Chúng tôi ở Guriev cũng gần tháng – chờ đoàn tàu lưu động. Chúng tôi lên tàu đi Matxkva, rồi đi qua Matxkva sang phía đông. Đi đến Upha, chờ ở Upha, rồi người ta lại chở chúng tôi đi cách Upha khoảng 60 km, chắc là Ga Ilino. Ở đó thì chúng tôi dỡ hàng xuống, rồi phải quay lại. Khi chúng tôi còn ở mặt trận Kavkaz thì người ta thu mũ ca lô của cánh lính trinh sát chúng tôi và phát cho chúng tôi những cái mũ như mũ của lính biên phòng các vùng nóng. Mũ có lỗ cho thoáng khí. Trung đội trinh sát của chúng tôi trông khác tất cả các cánh lính khác. Thế rồi thì ở mặt trận Kavkaz, rồi thì Makhachkal, rồi qua biển, rồi ở Guriev – ngoài lương thực ra thì chẳng được tiếp tế gì nữa. Mà làm thì đủ thứ việc – chất hàng lên, khuân hàng xuống. Chưa kể cánh lính trinh sát khi trực chiến còn phải bò nữa. Thế là quần áo rách hết, chúng tôi cứ vậy mà dỡ súng đạn ra khỏi các toa tàu. Găng tay chẳng có, mà lúc đó thì trời rất lạnh – gần đến mùng 7 tháng 11 mà. Nhiệt độ âm 20 độ C. Áo khoác ngoài của chúng tôi đã xơ xác hết. Ở đó là một làng khá lớn, theo tiêu chuẩn Nga – khoảng 400 – 500 hộ. Chúng tôi chiếm trường học. Lúc đó mọi việc học hành dừng lại hết và chúng tôi ở đó. Không thể trực gác được, vì ủng và áo khoác rách hết cả. Thế là người thì lấy chăn, người thì lấy vải nào đó nữa chế thành mũ, tay áo. Rồi chúng tôi gặp dân làng. Ở đó đến năm 44. Mùa đông, lúc gần năm mới thì chúng tôi được lệnh lên đường. Nhưng lúc đó thì tuyết phủ đầy làng, có chỗ đống tuyết cao đến 5 m. Chúng tôi không lên đường được, vì không thể nhúc nhắc khỏi chỗ được.
Các trinh sát Ukin B.A. và Larin P.I. đang luyện tập năm 1942 ( ảnh của cá nhân)
Nói tóm lại là chúng tôi bị tuyết giữ lại, chúng tôi không thể đi khỏi đó được đến tận mùng 1 tháng 5. Kỷ niêm mùng 1 tháng 5 xong thì chúng tôi lên đường. Lúc đó (năm 44) thì quân ta đã giải vòng vây Leningrad, và các mặt trận đã tiến đến gần biên giới. Chúng tôi được đưa tới Mặt trận Leningrad. Đó là ga Levasovo, gần Leningrad, làng Pesôchnưi. Chúng tôi đóng quân ở làng này và chuẩn bị chiến đấu. Chỗ đó cách Leningrad khoảng 25 – 27 km. Ở đó có thị trấn Kirieki cuả Phần Lan, chúng tôi bày quân trước thị trấn này. Bộ binh đã đóng ở đó hơn một năm, hai bên đã không bắn nhau nữa. Chúng tôi thì rất ngạc nhiên: sao lại không bắn nhau? Tôi thì bắn rất tốt. Đại đội trưởng giao hai khẩu súng bắn tỉa cho tôi và một cậu nữa mà bây giờ tôi đã quên họ cậu ấy rồi. Chúng tôi đi lên phía trước như những người thợ săn tự do ấy. Chúng tôi ở phía trước cánh bộ binh, bắn tỉa. Dĩ nhiên là cũng đi đến cả Đài quan sát của chúng tôi nữa. Từ chỗ đó chúng tôi quan sát mọi thứ, biết cả trật tự chiến đấu: cái gì ở đâu của quân Phần Lan. Công sự, vật cản ở đâu, chúng tôi đã biết hết mọi thứ. Đi tới chỗ cánh lính bộ binh, vừa mới bắn thì người Phần Lan đã bắn trả cả tràng súng cối Минометов vào chỗ chúng tôi. Cánh lính bộ binh tí nữa thì nện cho chúng tôi: “Biến khỏi đây đi. Chúng tớ đang hòa bình, yên ổn” . Đến nỗi họ lấy cả lều trại trải ra bên cạnh công sự và nằm phơi nắng. Mùa hè, ấm áp mà, họ lại không bắn nhau. Cuối cùng thì chúng tôi không tới đó nữa. Hơi đâu mà xơi đấm của cánh lính bộ binh!
Tôi quên nói rằng năm 43 tôi trở thành tiểu đội trưởng. Sau đó quân đội của chúng ta cũng bắt đầu tới thêm. Không gian đầy thêm người, chật chội hơn. Người Phần Lan bổ sung thêm quân, chúng tôi quan sát thấy họ tập trung về dải phân cách với chúng tôi. Họ cũng làm thêm các công sự mới. Họ đào cái gì đó nữa, chắc là đào công sự. Nhìn qua cái ống nhòm có độ khuếch đại 10 lần có thể thấy rất rõ. Đến ngày 10 tháng 6 thì chúng tôi bắt đầu tấn công. Bắt đầu bắn vào các hỏa điểm, дзотам ở phía trước người Phần Lan từ ngày mùng 9 tháng 6. Đúng là ngày của lính pháo binh – phá hỏng hoàn toàn trật tự chiến đấu của kẻ địch. Máy bay cũng xử lý dải phân cách đó. Dường như tất cả đều tốt đẹp. Chúng tôi đã phá hủy các mục tiêu định trước. Một khẩu pháo thậm chí còn để trực diện đường giới tuyến, vì có một hỏa điểm hỏa lực rất mạnh, kiểu gì chúng tôi cũng phải tiêu diệt nó. Từ chỗ chúng tôi đến đó là khoảng 2 đến 2,5 km. Từ khẩu pháo thứ 10 chúng tôi tiêu diệt hỏa điểm bằng cách bắn thẳng. Đạn nặng đến 300 kg kia mà. Cũng cần phải nói là suốt cuộc chiến tranh không khi nào tôi đứng gần các khẩu pháo của mình lúc bắn cả. Tôi luôn luôn ở tiền tuyến phía trước. Nơi đặt pháo đối với chúng tôi là hậu phương. Thường thì chúng tôi luôn ở gần chỗ lửa đạn, ở “hậu phương” thì có bộ phận cấp dưỡng, rồi chúng tôi cử một cậu trinh sát đem phích nước đi lấy đồ ăn, chúng tôi ăn ngay ở “tiền tuyến”
- A.D. Thế khoảng cách từ chỗ tiền tuyến đến chỗ để pháo là bao xa?
- Khó mà nói chính xác được, thường thì khoảng 2 đến 2,5 km. Cũng có khi xa hơn. Tùy theo tình hình cụ thể. Ví dụ không thể đặt pháo ở những chỗ lầy lội. Dĩ nhiên là người ta cố gắng tới gần tiền tuyến hơn. Chúng tôi cũng không đến sát tiền tuyến được, vì cả người Phần Lan lẫn người Đức đều thực hiện trinh sát bằng đạn và có thể bắn tới. Cuối cùng thì hôm sau, hôm mùng 10 thì bắt đầu tiến công, máy bay lại ném bom ác đến nỗi làm bay cả khẩu đội súng cối gần đài quan sát của chúng tôi. Nhưng chúng tôi thì không bị sao.
Rồi sau đó thì quân ta bắt đầu tiến công vào sâu theo hướng Mannergeim. Thường thì chúng tôi luôn bị tụt lại so với bộ binh, vì đường sá thì không nhiều và rộng, mà quân thì đi dài dọc, chiếm hết cả đường. Này thì bộ binh, này thì pháo binh, rồi các xe chở nhiên liệu, chở đạn, các loại Kachiusa với lại Andriusa – tất cả đều dọc đường cả. Nhiều khi chúng tôi phải vượt lên thực hiện nhiệm vụ, nhưng mà không làm nổi. Nhưng chỉ huy trưởng của chúng tôi là người tháo vát, xứng đáng. Anh ấy bèn mặc áo buốc ca bên ngoài, đội mũ nhà binh, trông oách như một ông tướng. Rồi cầm gậy, ra ngoài đường và bắt đầu chỉ huy – ra lệnh nhường đường cho chúng tôi. Nhưng kiểu gì thì chúng tôi vẫn bị tụt lại so với những anh đi đầu. Mà nói chung thì cùng không cần thiết phải theo kịp. Rồi đến khi họ đã đến tận đường Mannergeim, đi xa khoảng 50 – 60 km, lúc đó thì mới cần đến chúng tôi. Trung đoàn đang tiến về đó, còn tôi được giao nhiệm vụ hỗ trợ cho tiểu đoàn chủ công xung kích, mà bây giờ tôi không còn nhớ số mấy nữa, nhưng chúng tôi cần phải liên hệ với nhau. Thế là tôi cùng với đại đội pháo binh cùng với đồng chí chỉ huy trinh sát lên xe đi tới cái ô vuông trên bản đồ, nơi mà cái tiểu đoàn kia đang phải đóng ở đó. Nhưng chúng tôi không tìm thấy tiểu đoàn đó, họ đã nhổ neo đi đâu đó mà không để lại địa chỉ là họ sẽ tới đâu. Chúng tôi thấy một số xe con Willis hay Emk, dấu hiệu cho thấy gần đó có ban chỉ huy nào đó, nhưng khi lại gần thì hóa ra không phải tiểu đoàn đó. Hai ngày chúng tôi tìm kiếm khổ sở, mà cuối cùng vẫn không tìm thấy cái tiểu đoàn mà chúng tôi phải nghe lệnh ấy. Đến ngày 20 tháng 6 thì quân ta đã chọc thủng phòng tuyến Mannergeim gần biển và rồi quân ta đã chiếm được Vưborg. Sáng sớm chúng tôi lên xe đi về phía trước, thẳng tới phòng tuyến Mannergeim. Đường trải nhựa, vẫn còn rất tốt. Chúng tôi qua làng Humola. Thường thì chúng tôi đi như thế này: trung đội trưởng, trong trường hợp này là đồng chí chỉ huy trinh sát ngồi bên phải lái xe, tôi ngồi phía bên trái quay lưng lại ca bin, - ra lệnh hoặc báo cáo những gì chúng tôi nhìn thấy. Ở đâu đó có tiếng súng bắn, mà khi cứ réo ù cả tai thì khó mà biết được tiếng súng ở xa hay gần. Mà cũng chẳng rõ là ở hướng nào, tóm lại là định hướng rất tồi. Chúng tôi vào làng Kumo thì tiếng súng im. Chúng tôi thấy, phía bên phải xe là quân ta, còn đằng kia là người Phần Lan. Và rồi cuộc đấu súng bắt đầu. Chúng tôi lăn từ trên xe xuống như bi, ở đó có một ngôi nhà đã bị phá hủy, mái chổng lên, còn bên trong thì chắc là bị xe tăng bắn hay là bị nổ gì đó. Đấy là sáng sớm vào khoảng 6 -7 giờ sáng, mặt trời đã lên. Thế rồi lính Phần Lan bắt đầu bắn vào xe của chúng tôi. Nhưng không ai việc gì, tôi chỉ bị một viên đạn làm xây xát. Mà ngay cạnh đó có xác một người lính Phần Lan với túi cứu thương. Chúng tôi tìm thấy trong đó băng dán, dán vào rồi kéo mù xuống che – mọi chuyện lại bình thường. Chúng tôi ở đó khoảng chừng nửa giờ, phòng thủ thành hình tròn nhưng không bắn. Còn lính Phần Lan thì bắn vào xe, làm thủng bình xăng, nửa thùng bị chảy ra, kính bị vờ hết, cabin bị xuyên thủng nhiều chỗ. Nhưng trong xe chúng tôi có hòm ống nhòm, còn 2 chiếc khác thì ở đơn vị. Có 4 cái ống nhòm trong đơn vị. Đạn xuyên thủng hòm, nhưng không làm hư hại các khí cụ quang học của chúng tôi., mà cũng không đụng đến chúng tôi. Sau đó thì dường như đã yên trở lại. Mà chúng tôi đã đói từ mấy ngày, từ khi lên xe ra đi chưa được ăn uống gì. Mà cái nhà đó dường như có hầm thực phẩm: “Này các cậu, lấy khoai tây đi!”. Lấy khoai tây, người thì lấy vào áo bông, người thì lấy vào áo khoác. Rồi chúng tôi quay trở lại. Lấy bánh xà phòng bịt các lỗ của bình xăng cho khỏi lắc – vẫn còn một ít xăng trong đó. Lái xe của chúng tôi thì rất khéo.
- A.D. Thế các anh có đẩy lùi lính Phần Lan ra không?
- Đẩy ra. Chúng tôi quay xe lại. Liên lạc với ban tham mưu, họ bảo cứ ra ngã tư và chờ họ. Ở đó có một đường đi về phía đường nhựa Vưborg, còn một đường dẫn qua phòng tuyến Mannergeim, có một làng nhỏ ở đó. Nhưng chỗ ấy có phòng thủ: hỏa điểm, ụ súng, dây thép gai xung quanh. Cây cối phía trước chúng tôi đã bị đốn, chẳng còn gì ngoài những mảnh vỡ. Chúng tôi quay lại chỗ gần ngã tư, làng Humo. Khi ra ngã tư thì thấy trên đường chúng tôi đi thì hầu nnhư chẳng có ai, còn trên đường kia thì đầy đủ mọi thứ binh chủng. Xe tăng thì đi ven đường, còn giữa đường là xe với pháo. Đầy đường.
Chúng tôi đi tới ngã tư, dừng lại, gọt khoai tây, rồi lấy cái xô nhỏ của đồng chí lái xe múc nước và luộc khoai. Khi khoai sắp chín thì những bộ phận đi đầu của cánh quân đã cùng ban chỉ huy đang đi tới. Cần phải nói là chỗ chúng tôi có một anh chàng trung sĩ rất đảm đang, chúng tôi lấy anh ta từ bên bộ binh. Anh ta làm anh nuôi bên chỗ chúng tôi, một anh chàng đảm đang quê ở Kiev, Sasha Strenchenko, “nào đưa đĩa đây”, anh ta múc cho tôi đầu tiên, chỉ huy mà. Nhưng vừa mới múc ra thù máy bay đến. Máy bay không phải từ phía mặt trận, mà là từ phía hậu phương. Ba chiếc máy bay bay đến, bổ nhào, “Báo động!”. Tôi nhìn thì thấy có vẻ như là máy bay quân ta, giống lắm. Nhưng hóa ra không phải, đó là máy bay Phần Lan. Bổ nhào ngay trên đầu chúng tôi rồi bắt đầu bắn. Tôi để khoai tây với cái thìa lại, thế là một loạt đạn trúng ngay vào chỗ khoai tây! Tất cả khoai tây bay ra tứ phía…chà, tiếc thật. Chúng tôi chạy trú bom, nằm xuống đâu bây giờ? Dưới cái xe, ba chúng tôi chui vào dưới xe, đạn bay ngang qua, bom bay. Bom nổ vào bộ phận trí thức pháo binh của chúng tôi. Ban tham mưu, trung đội tô pô, công binh, … tất cả tụ lại ở ngã tư đó. Họ bom chúng tôi kỹ lưỡng. Tôi nằm dưới xe, bên phải bánh xe. Một quả bom nổ gần ngay bánh xe, đĩa bánh có lỗ. Nổ, rồi lửa phực lên, luồn qua đĩa ấy làm bỏng bên phải. Rồi một mảnh bom bắn vào sau gáy tôi. Sờ vào, ối trời, máu. Tôi thoáng nghĩ: “Chắc mình bị chết rồi. À, mà có lẽ vẫn chưa, mình vẫn còn sống?”. Rồi tiếng ồn qua đi: tiếng rên, mấy cái xe của chúng tôi bị cháy. Nhưng cái xe chúng tôi ngồi thì không sao. Tôi tập hợp đội hình, mà không được. Trung đội của tôi mất 16 người, còn tất cả những người khác đều bị thương. Ngay sau khi ném bom là kẻ địch pháo kích – đạn bắt đầu nổ trên đường, xe cháy. Những dàn Kachiusa vừa đứng ở đây – Kachiusa cháy. Lửa lan khắp nơi. Đạn bắt đầu nổ, một ít rơi vào các khẩu đội của chúng tôi đang trải dài trên đường. Nói chung là lộn xộn, nhiều người bị giết. Trên đường là tiếng kêu la, rên rỉ. Tôi đang ngồi trên một hòn đá thì một quả “Andriusa” M-31 bay đến. Nó bay từ chiếc xe cháy nào đó, trúng vào hòn đá rồi bay đi, không đụng đến tôi. Một số đạn khác thì rơi thẳng xuống, phần phản lực thì cháy, chúng quay vòng vòng, nhưng không bay đi được. Chúng tôi rất hoảng khi thuốc nổ cháy. Ngọn lửa phủ ra 5, 7 m từ chỗ cháy. Tôi bắt đầu gọi điểm danh quân của mình – chẳng ai đáp lời cả. Lúc đó lại máy bay bay đến, lại ném bom, lại vào chỗ chúng tôi. Tôi với trung đội trưởng lăn xuống đất. Đầu tiên thì máy bay chỉ bắn. Một loạt đạn trúng vào trung đội trưởng – đạn trúng vào lưng, vai, bụng – khoảng 5 viên trúng vào anh ấy. Tôi chỉ nghe thấy người anh ấy giật lên khi trúng đạn, lúc ấy anh ấy vẫn còn sống. Còn tôi ở ngay bên cạnh thì lại không sao - tôi đúng là người may mắn. Máy bay bay đi, và tôi bắt đầu băng bó cho anh ấy, nghe tiếng anh ấy rên, tức là vẫn còn sống. Có một viên đạn vào bụng - lỗ rất nhỏ, hầu như không thấy, chỉ có một chút máu bên ngoài, thế mà chỗ đạn ra thì rách tươm. Tôi lấy dao găm ra, lính trinh sát thì lúc nào cũng có dao găm mà, rạch áo khoác của anh ấy ra, cởi áo sơ mi ra, băng lại. Dùng hết túi cứu thưong của mình tôi phải lấy túi cứu thương của anh ấy trong túi sau ra băng. Trong khi đang băng thì lại một bầy máy bay bay đến. Rồi bầy thứ ba nữa chứ, mà tất cả đều bắn vào chỗ chúng tôi! Tôi băng rồi nẵm xuống bên trái anh ấy. Đầu thì gần xe, đạn không thể xuyên qua xe được. Một quả bom nổ phía bên phải anh ấy, rất gần, chỉ cách khoảng 1m - 1.5 m. Bom nổ quẳng anh ấy lên người tôi. Khi đã yên yên và máy bay đã bay đi tôi đến bên anh ấy, thì thấy một mảnh bom đã cắt mất hàm của anh ấy, lưỡi thè ra. Anh ấy cố gắng chống tay phải nhỏm đậy (anh ấy đang nằm sấp), tôi thấy tay phải của anh ấy đã rời ra khỏi tay áo. Anh ấy bị trúng rất nhiều mảnh bom, tôi thấy anh ấy cố gắng nhỏm dậy, thở khò khè, muốn nói gì đó. Tôi nghe, nhưng anh ấy ngã xuống rồi ra đi. Tôi để anh ấy lại đó rồi chạy sang bên tới chỗ những người khác đang la hét. Tôi băng bó cho 9 người. Lúc đó tôi nhìn thấy anh huấn luyện viên vệ sinh của khẩu đội, Ivan Zgiutnhik đang đưng run rẩy. “Ivan, băng đi!”. Tôi còn văng tục nữa, bình thường thì tôi không chửi tục, nhưng lúc đó buộc phải “Băng đi, đứng trơ ra thế à!”. Cậu ta vẫn còn run vì sợ. Xung quanh toàn là người chết. Xe cháy, mùi thịt người nồng nặc. Lính bộ binh, pháo binh trên đường đều thiệt hại nặng. Tôi không biết chính xác nhưng có lẽ phải hơn trăm người bị chết ở chỗ đó. Chúng tôi chôn cất nửa trung đội điều khiển. Trung đội trưởng đã hy sinh, và tôi trở thành người chỉ huy trung đội. Tôi tập hợp bộ đội lại, còn lại 14 người trong đội hình. “Ai bị thương?” “Tôi, tôi, tôi…” Trong đội hình, nhưng bị thương. Nói chung là lúc đó tiểu đoàn mất khả năng chiến đấu. Người ta không điều chúng tôi đi đâu cả, mặt trận gần như đã vượt qua phòng tuyến Mannergeim, gần Vưborg. Vào lúc đó máy bay U-2, hay Po-2, như chúng tôi gọi, loại máy bay ném bom nhỏ bay tới, thả truyền đơn. Chúc mừng. Sáng ngày 20 quân ta chiếm được Vưborg

(Còn tiếp)
Phỏng vấn Artem Drabkin
Trở về đầu trang
Nina is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Yahoo Messenger
[ IP : Logged ]
danngoc
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 50
Tham gia từ: 30 Apr 2005
Bài viết: 1336
Đến từ: Việt Nam

GửiGửi: 17-Jul-2005 2:09 pm    Tiêu đề:  Re: NHỜ DỊCH TIẾNG NGA
Trả lời kèm trích dẫn

Bác Nina ơi, còn phần 2 và 3 nữa đấy!

Cám ơn bác trước nhé.
Trở về đầu trang
danngoc is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Gửi email
[ IP : Logged ]
danngoc
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 50
Tham gia từ: 30 Apr 2005
Bài viết: 1336
Đến từ: Việt Nam

GửiGửi: 08-May-2006 1:21 pm    Tiêu đề:  Nhờ dịch sang tiếng Việt
Trả lời kèm trích dẫn

Cậu tanlangtu, katysha và chiângsan đâu rồi?


"On April, 5th of 1945 the USSR denounced Neutrality Pact with Japan.

On April, 15th Stalin met with General Il'ichev, the Chief of GRU [Military intelligence].

He asked:
"We know about 17 Japanese fortified regions [in Manchuria]. What can you say about them?"

Il'ichev:
On the west [of Manchuria] the Japanese have 4 fortified regions, on the north, along the Amur - 5, on the east - 8. All they were made as a base for aggression but now all they are re-built for a defence only. Each fortified region contains up to 7 strongholds, each of them contains a lot of weapon emplacements. They are placed on commanding eminence and cover each other with crossing fire. Their flanks usually are rested against an impassable terrain - swamps and mountains.

Stalin:
"Does it mean that it is impossible to outflank them?"

Il'ichev:
"It is impossible to outflank them with significant forces."

Stalin:
"How are they made? Is our artillery able to crush them?"

Il'ichev:
"They contains powerful firm fire fortifications which consisted of artillery and machine gun pillboxes, armored hoods, armored observation posts, wooden-ground fortifications, tank ditches, trenches and barbed wire lines. The buildings for personnel, ammo and food storages, stationary electric power stations, systems of water supply and ventilation are placed deeply underground. The improved net of underground communications connects all the bunkers in a united closed complex.

The situation on Sakhalin and the Kuriles is the same."

On April, 20th the Japanese Supreme Soviet Council for Ruling The War gathered.

Sudzuki, the Prime Minister, spoke that Japan had to do everything what possible to prevent the war against USSR. He spoke about diplomatic efforts.

Umedzu, the Chief of General Staff:
"I have no panic mood. If to speak about military questions we have no to despond and to think that everything was lost. In the north our hopes are related with the firmness of the defence of the Quantung Army. It is impassable due to its deep echelonment and the relief in main strategic directions. General Iamada, the commander of the Quantung Army, is sure in the firmness of his troops. For a few months powerful minefields will cover the Grand Khingan and the probable crossing points on the Amur and Sungari...

Now Iamada has 930,000 men. His army has 5,500 guns and mortars, 970 tanks, 1,600 planes. I suppose it is not a small force."

Toioda, the Chief of Naval General Staff, added:
"We have 23 combat ships on border rivers."

Sudzuki:
"I suppose those forces (to be or will be) reinforced. Am I right? "

Umedzu:
"Yes. But we have no enough weapon for new units, so we'll take the weapon from the troops in the mother country."

Anami, the Military Minister, added:
"We have two special units in Manchuria - the Detachment #100 of Vakamatsu and the Detachment #731 of Isiia - which have biological weapons. Both the units are subordinated to the Quantung Army. Iamada supposes that even only the Detachment #731 is able to supply his troops by enough amount of biological weapons...."

Sudzuki:
"Anami, we have to increase our amount of biological weapons. May be, we have to increase the amount of Isiia's unit and we have to do it quickly, in the nearest 1.5-2 months..."

Ionai, the Naval Minister:
"... On the Kuril Islands and Sakhalin we suppose to use the same tactics that we had used so successfully against the Americans and Brits..."

Khara, the Chairman of the Secret Council:
"... I understand it would be a suicide to fight against theUSSR now. We ought to apply our efforts to the fortifying of our bastions on the north [against the USSR] and on active diplomatic efforts in Europe..."

April, 29th.
Anami told Sudzuki about forming of new divisions in the mother country and in Manchuria and Korea.... In the mainland 8 divisions and 7 separate brigades were forming. They were preparing as an operational reserve of the Quantung Army and had to stay in constant increased alertness.

May, 3rd.
Allen Dalles got permission to negotiate with the Japanese.

In parallel with the contacts with Dalles the Japanese tried to increase the strength of their forces.

Especial attention was drawn to the preparations for a biological war with the hope that the biological weapons would permit Japan to win the combats in the mainland. On May, 5th Isiia ordered his subordinates: "The war between the USSR and Japan is inevitable. We have to increase our production. We have to wait for the day X when the biological war starts"

On May, 6th Iamada ordered his troops:
"If our troops are forced to retreat in the region of the Grand Khingan at the beginning of the war against theUSSR, all the rivers, reservoirs, and wells on the lost territory have to be infected by a biological weapons, and all the crops and cattle have to be eliminated"

May, 11th.

Stalin met with Vasilevskii:
"...What is your impression about the Quantung Army?"

Vasilevskii:
"The Quantung Army is the best, most faithful to the Emperor, the most battle-worthy troops. In Japan it is considered to be a large honor to serve in that Army"

Stalin:
"What's about its arms?"

Vasilevskii:
"In the mainland the Japanese Command has two thirds of their tanks and planes and more than a half of their artillery. The troops are mainly dispersed in the fortified regions."

May, 28th

Been in Moscow Harry Hopkins asked Stalin about the confirmation of Yalta's Soviet engagement to begin the war against Japan. Stalin answered that the Soviet troops would be ready by the August, 8th in theaccordance with Yalta's agreements.

At the end of the May the Japanese got a new plan of future military actions.

Iamada's conception was based on the idea that the morale of the Soviet troops would be decreased by difficult conditions of combats in the most parts of Manchuria. He had hopes that the rate of the actions of the Russians would be, as slow as the Allied rate in the Pacific and in the South-Eastern Asia. Morally he was ready to use biological weapons.

(A or The) threat from the north forced the Japanese to control the preparations of the Quantung Army to the war against the USSR. At the end of May Anami, the Military Minister, (personally or himself had) arrived to the headquarters of the Quantung Army. (The Russian version: В конце мая Анами, военный министр, лично прибыл в штаб Квантунской армии.) He was related to this formation for all his military career. General Iamada got that army, which was in good condition, 6 years ago from General Umedzu.

Anami prepared to that trip very carefully. He spoke with several generals of his ministry, who had served in the mainland in that elite formation, also he met with General Umedzu.

The Quantung Army staying in Manchuria was composed from a few formations. It contained the 1st and 3rd Fronts, the 4th Separate Army, the 2nd Air Army and the Sungari River Flotilla.

The 3rd (Western-Manchurian) Front of General Usiroku had the 30th and 44th Armies and was deployed to the west from the Vanemiao-Chanchun-Mukden line. Two infantry divisions were deployed close to Mongol border. Six infantry divisions, three infantry and one tank brigades were deployed in Mukden area.
It was considered a reserve in the case of the Soviet advance from the region of Vladivostok.

The 4th (Northern-Manchurian) Separate Army of General Mikio, which had three infantry divisions, 1 infantry and 3 mixed brigades was deployed on a huge territory in the triangle of Sakhalian-Hailar-Harbin. The main hopes were set on the rivers of Argun and Amur and on the very bad terrain. The headquarters of the army were situated in Tsitsikar.

The 1st (Eastern-Manchurian) Front of General Kita was the most powerful and covered Mudantszian and Hunchun directions. It had the 3rd and 5th Armies. The 3rd Army had four infantry divisions, one separate mixed brigade and several support units. The 5th Army had three infantry divisions and several support units. Three infantry divisions were set as a reserve of the Frontcommander.

The 34th Separate Army of General Sanity was deployed in the Northern Korea. It had two infantry divisions, one separate brigade and several support units. The 34th Army was a strategic reserve of the Commander of the Quantung Army. The units of the 34th Army were deployed around the Korean ports and were ready for been transferred to the mainland.

The direct reserve of the commander of the Quantung Army was one infantry division, one separate infantry and one separate tank brigades. Also the troops of Manchou-Go, of pro-Japanese ruler of Innner Mongolia De Van and of the [Japanese] Suiiuan Army Group were subordinated to the commander of the Quantung Army. Those troops commonly had eight infantry and seven cavalry divisions, fourteen separate infantry and cavalry brigades.

The Quantung Army could be reinforced with the reserves from the Northern China, where more than two Japanese Armies (eight divisions, 115,000 men) had been deployed in the region of Pekin.

Also the troops of the 17th (Korean) Front of General Kodzuki could be considered as a possible reserve of the Quantung Army. The 17th Front had seven infantry divisions and two separate mixed brigades (97,000 men) forming the 58th Army with the headquarters situated in Seoul.

In the case of military actions the command of the Quantung Army supposed to use the armed detachments, formed from Japanese colonists. Those detachments contained 100,000 men and were dispersed all over the Manchurian territory.

During the revision Iamada with a great pride declared his one million-men army continued to grow,as a result of the efforts of the command. As the compensation of the technical superiority of the Soviet troops, the Japanese prepared for wide usage of special forces - ground "kamikaze"-soldiers - whose mission was to destroy Soviet commanders and equipment.

The Military Minister was satisfied by Iamada's report about the situation with the largest [Japanese] ground forces formation. He was sure that the Soviets would be repulsed in Manchuria and one more long campaign in huge Asian space would begun.

On May, 28th the Japanese Supreme Council for Ruling The War gathered. Anami reported about his trip to the Quantung Army. His conclusions about the readiness of it were optimistic and were completely approved by the other members of the Supreme Council.
General Umedzu was ordered to apply the experience of the Quantung Army in the using of preparing of ground "kamikaze" units to the 5th Front of General Higuti. The 5th Front contained the 27th Army on (the) Kuril Islands, the 88th Separate Infantry Division on Sakhalin and two separate infantry divisions on Hokkaido.

Also Anami reminded that the Quantung Army had 54 tons bacteriums of plague, anthrax, typhus, cholera, as strike weapon of a large war. It would show the increasing might of the Japanese Army.

Sudzuki asked when the Soviets are going to attack.

Anami answered that theUSSR, having only 40 divisions, mainly rifle ones, along the Soviet-Manchurian border, has no supremacy over the Quantung Army. Moreover, the Soviets would have large casualties during the attacks against the fortified regions. So a breakthrough of the large Soviet forces deep in Manchuria is impossible. The Soviets need more than three months to increase twice their forces in Far East. Anami made his conclusion: "The advance of the USSR is possible not earlier than at the middle of September, after the end of monsoon rains in Manchuria. The Soviet ground forces can be supported not more than 2,000 planes."

The other members of the Council agreed with Anami. Sidzuki said in closing:
"We have to hurry to increase the transfer of our troops to Manchuria. We have to finish forming the group of troops, which are necessary according to our plan of a war against the USSR, not later than at the beginning of (the) September."

On May, 30th Emperor's Stavka ordered Iamada to prepare for defence.

It also ordered Okamura, the commander of the Expeditional forces in China, "to transfer immediately four divisions and supporting units into Manchuria; to transfer in Central and Northern China and in Manchuria from Hunan, Guansi and Tsiansi some units of the guards of railroads and roads."

On June, 5th Umedzu met with Iamada, the commander of the Quantung Army, and Okamura, the commander of the Expeditional forces in China, in Dalian, where they defined more exactly the actions according to the order of May, 30th and defined the actions to prepare the troops to the fights against the USSR and USA in China, Manchuria and Korea. Those actions intended the cooperation between the Quantung Army, the 17th Front in Korea and the troops in China.

Following to the order of the Stavka the Japanese troops in China were regrouping. Only covering forces were left against the Chinese Gomindan forces and against the territories of the Chinese Communists. The main forces concentrated along the main communications having the task to move to the coastal regions of the Eastern and South-Eastern China and to defend against US landings. The largest groups of troops were organized in Northern China as a possible reinforcement of the Quantung Army and the 17t Front in Korea in the case of the war against the USSR.

On June, 10th Umedzu returned in Tokyo and spoke with Anami. Anami said:
"The main efforts of my Ministry and of General Staff are concentrated on the mainland, on the Quantung Army. But we also have to remember about (the) Kuril Islands and about Sakhalin."

Emperor's Stavka gradually changed its military priorities. China was not too important more as a target for capturing. The Japanese troops were preparing to the fights in the mother country, on the mainland and on the isles.

From the middle of the May the Japanese aerial and agents intelligence informed about a large amount of the Soviet troops redeploying to the Far East. As an opposite action on June, 16th the Japanese began to transfer to Manchuria simultaneously four infantry divisions from the 43rd Army from China.

On June, 22nd the Japanese Supreme Council for Ruling The War gathered again.

Sudzuki opened it. He said that the situation is very difficult.
Okinawa was lost. The war approaches to the mother land. But the situation is the most dangerous from the north. If the USSR joins the war the situation becomes unpredictable. Japan is not able to fight on two fronts.

The Supreme Council decided to organize the 30th Army in Manchuria and to form it from Japanese colonists. The 30th Army had to become a part of the 3rd Front.

At the beginning of (the) July Allen Dalles informed the Swedish banker Jakobsen that the separate negotiations would begun as soon as possible because in the case of the joining of the USSR to the war all the separate negotiations would be stopped. Jakobsen passed those words of Dalles to the Japanese. It was the first info for the Japanese that the USSR would join the war soon.

On July, 7th General Umedzu, the Chief of General Staff, spoke with Togo, Foreign Affairs Minister.

Umedzu:
"Togo, what did the Americans say about the USSR?"

Togo:
"They said that the USSR is going to join the war soon."

Umedzu:
"If to speak about the war against the Soviets, I can calm you. The war will begin after a half of a year or even later."

Togo:
"What is the base of your optimism?"

Umedzu:
"Togo, the Soviets have to decide the problem of the Quantung Army. Million of its soldiers occupies 17 well-fortified fortified regions. And more. The positions of General Iamada are covered with the 400-km Grand Khingan, the rivers of Argun, Amur and Ussuri and with the Chanbaishan Mountains. If the conditions of ammo supply for the Quantung Army are good, it can resist the Red Army for two years."

Togo:
"But the Russians will transfer against us their best troops which crushed Germany."

Umedzu:
"It is not so easy, Togo. The Western Russia is connected with Far East only by a single railroad whose carrying capacity is limited."

Togo:
"I agree, Umedzu. But we have to continue the reinforcement of the troops of Iamada to avoid any surprises."

Umedzu:
"All the efforts of General Staff are related with those urgent problems, Togo."

On July, 18th the USSR had rejected Japanese offer to receive the Japanese delegation, which wanted to ask the USSR to become an intermediary between the warring groups in negotiations.

On August, 1st Togo and Umedzu met again.

Togo:
"Umedzu, you don't want to agree that the Soviets are close to join the war?"

Umedzu:
"Togo, you are a diplomat. I am a military. Speaking about the military questions I disagree with your anxiety. They are still not ready to advance. Their main forces, which had crushed Wehrmacht still are on the West. The Russians were not able to get a supremacy for the last two months. A supremacy is the main factor for any advance."

Togo:
"Umedzu, do you really suppose that the USSR is able to gather enough troops only to the middle, or to the end of (the) September?"

Umedzu:
"Togo, it is important not only to concentrate enough forces, but also to use them effectively in a following advance. Where to place the main forces, where to direct the main blow? The rate of the following advance will depend from a terrain also. In Manchuria the situation is better for the Quantung Army in all the directions. It is possible to say that the positions of the Quantung Army are surely protected by high mountains, primeval forests, and impassable swamps."

At the beginning of the August the main forces of the 5th Air Army were redeployed to the Northern China and Korea and were subordinated to the command of the Quantung Army.

On August, 8th the Japanese ambassador in Moscow got a notification to arrive to Molotov at the evening.

All the day of August, 8th the leaders of Japan waited the news from Moscow. They had the single question: "What is going to be with the position of the USSR to Japan?". Nobody believed in the soon beginning of war.

In the region of Vladivostok and along the Amur river a typhoon with a cloud-burst had begun at the evening of August, 8th. The wide streams of muddy water gushed out from the hills in valleys, washing out the roads and being the reason of the flood of the rivers. Darkness fell on everything.

Umedzu had got the weather report from the mainland and called by telephone to Togo:
"Togo, you have to see how it is difficult to estimate all the factors. There is a typhoon in Manchuria. The roads are washed out with a cloud-burst. It is impossible to speak about any advance of the Soviet troops. I foresaw it."

Togo:
"I suppose, Umedzu, you mix your wishes with reality. The Soviets can break your suggestions and attack the Quantung Army in spite of a bad weather with all their might. I do not believea bad weather can stop them."

Umedzu:
"A weather affects on any type of troops. Planes can't fly, tanks can't attack during a storm. And you, Togo, are a follower of Potsdam Declaration. You hope on the shameful capitulation of the Great Empire."

Togo:
"Umedzu, I am waiting a telegram from Moscow. I have bad presentiments. We can fall in an abyss."

At the evening of August, 8th the Japanese ambassador in Moscow Sato was informed by Molotov that the USSR had declared a war to Japan from August, 9th.

Togo called Sudzuki by phone and offered to gather the Japanese Supreme Council for Ruling The War, as the USSR had declared the war. The question was to agree with Potsdam Declaration.

Sudzuki himself called to each member of the Council and informed that the USSR had declared the war.

The Supreme Council for Ruling The War gathered on August, 9th soon after the atomic bombing of Nagasaki. But no one spoke about Hiroshima.

Sudzuki began the first:
"I have decided that the only thing to do is to agree with Potsdam Declaration and to stop any military actions as soon as possible."
The militaries were against.

Umedzu said:
"Today the information from Moscow was the most significant. According to our calculations the USSR has no supremacy over our forces, so I suppose we have to reject Potsdam Declaration and to continue fights for better conditions of peace. I continue to believe in the firmness of the Quantung Army."

Anami, the Military Minister:
"Japan will not survive without the minerals and industry of Manchuria. Now Manchuria gives us 1,500,000 tons of synthetic fuel, it is a half of our national fuel production. The eight fuel plants in Girin, Fusun and Sypin have to be covered from air attacks. More than twenty largest Manchurian plants produce air and armor equipment, artillery and rifle equipment, explosives and poison-gas. Based on that huge military arsenal, the Quantung Army is able to withstand against any enemy".

August, 11th.

The Supreme Council for Ruling The War gathered.

The situation was extremely bad, the news from Manchuria were bad.

Togo, a follower of capitulation, asked Anami, a follower of the fight to the end:
"Anami, you declare that the Japanese army has real forces for successful long resistance. But answer why do our largest formation - the Quantung Army - is retreating everywhere from the beginning of the military actions? Earlier for many times we heard your categorical declarations that the 17 fortified region along the Manchurian border were an impassable bastion against the Soviets."

Anami:
"Togo, the most significant is not the ratio of troops but the tactics. Who could suppose that the Soviets would begin their advance in the period of monsoon rains, two-three weeks before the time that was estimated by us?"

Togo:
"According to my data on August, 9th the Quantung Army had more than one million men, 1,200 tanks, about 7,000 guns and mortars, 2,000 planes. It was a huge military force from any point of view. Is it possible that the USSR had transferred more troops from Europe, which are advancing so successfully in Manchuria now?"

Anami:
"I am not ready to report right now about the real ratio of the forces on the mainland. Most likely, we made a mistake in the abilities of the USSR. They practically had no forces in Mongolia but now whole tank formations are advancing against the rand Khingan."

Togo:
"If the defence of Iamada stopped the Russians, it was easier for us to discuss our diplomatic actions. But the Quantung Army is losing on a battlefield. Our aircraft doesn't operate. What do you offer to do for the Japanese government?"

Umedzu:
"Togo, you speak like you are a neutral spectator. The inability of the Quantung Army to hold their border positions can be fatal to the fate of the Empire"

Sudzuki:
"Umedzu, as I remember your inspections on the mainland also calmed the government. What will be with the Empire if the Soviets will crush Iamada's troops and invade on the mother land?..."
Trở về đầu trang
danngoc is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Gửi email
[ IP : Logged ]
admin
Vodka Nga - Русская Водка
Vodka Nga - Русская Водка



Tham gia từ: 08 Dec 2004
Bài viết: 654
Đến từ: Hà Nội

GửiGửi: 22-May-2006 12:13 am    Tiêu đề:  Re: NHỜ DỊCH TIẾNG NGA
Trả lời kèm trích dẫn

Admin đã đọc qua đoạn tiếng Anh ở trên và thấy rất thú vị. Danngoc gửi cho tôi phần tiếng Anh cần dịch (bằng file Word) qua email của tôi đi: totuhung@gmail.com. Tôi cũng muốn bổ sung thêm vốn từ vựng Anh ngữ về quân sự.
Trở về đầu trang
admin is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Gửi email Tới website của người gửi Yahoo Messenger
[ IP : Logged ]
Nina
Kvas Nga - Квас
Kvas Nga - Квас



Tham gia từ: 10 May 2005
Bài viết: 3618

GửiGửi: 08-Jun-2006 7:59 pm    Tiêu đề:  Larin Pavel Ivanovich - Phần 2
Trả lời kèm trích dẫn

Cho các bác hiệu đính nhé - em tra từ mệt quá Very Happy. Đùa chứ ... bác nào biết từ nào thì chỉ giúp cái nhé.

To danngoc - còn cái nào cần dịch không? Very Happy
=================
Larin Pavel Ivanovich - Phần 2

Chúng tôi dừng lại một hay là hai ngày gì đó, rồi triển khai đội hình ở đâu đó gần phòng tuyến Mannergeim. Chúng tôi đặt đài quan sát ở một chỗ сопке trống trải. Chẳng bao lâu sau quân Phần Lan bắt đầu bắn pháo, họ bắn rất khéo, rồi bộ binh của họ xông lên. Quân ta thì im lặng, còn chúng tôi thì quan sát. Trời đất ạ, họ mặc váy! Tôi lấy ống nhòm – tiểu đoàn nữ của Phần Lan tấn công. Bộ binh của chúng ta để họ tới gần đến khoảng cách của tầm ném lựu đạn. Rồi họ đánh, và tôi không nhớ là có người Phần Lan nào thoát khỏi không. Tất cả nằm ở đó!
Từ đài quan sát này có thể nhìn rõ mọi thứ, nhưng chẳng đào được – toàn là đá, phẳng như được mài. Nói chung là chúng tôi khuân những hòn đá kích thước 25 – 30 cm lại làm thành một бруствер. Pháo của đối phương lại bắn. Chẳng có chỗ nào nấp cả. Chúng tôi nằm xuống – hai cậu lính trinh sát của tôi, hai nhân viên topo, và tôi, cao cấp nhất trong số họ. Chúng tôi nằm giữa những hòn đá và chờ xem có quả mìn nào rơi vào chỗ chúng tôi chăng, thế là xong đấy. Nhưng mìn thì chỉ bay ngang qua. Mảnh va vào đá rất nhiều, nhưng không chạm phải chúng tôi. Tôi thấy các bạn tôi mặt mũi nhợt nhạt vì lo lắng. Pháo bắn xong, thì người Phần Lan lại xông lên, rồi cuộc tấn công bị bẻ gẫy, - chúng tôi không hề hấn gì. Sau đó tì tiểu đoàn bắt đầu bắn một ít.
- A.D. Thế ở đó có các đội trinh sát không?
- Có chứ. Mỗi khẩu đội có một trung đội điều khiển, còn trong mỗi trung đội điều khiển thì có một bộ phận trinh sát. Còn trong tay tôi lúc đó là bộ phận trinh sát của tiểu đoàn. Năm 1943, khi tôi được bổ nhiệm làm trung đội trưởng thì tôi là một trong số trinh sát xuất sắc nhất, thành thạo nhất. Từ trước chiến tranh, khi tôi mới nhập ngũ, thì các tiểu đội (подразделения) trinh sát được thành lập từ những người có trình độ trung học phổ thông. Cấp trên tính rằng những anh lính ấy sẽ phải khổ luyện, nhưng sẽ thông thạo mọi chuyện, và sau nửa năm thì các anh lính này sẽ thi để trở thành thiếu úy. Quả là chúng tôi đã phải cày ra trò, và các thầy đã dạy chúng tôi chuẩn bị số liệu rất đầy đủ. Công việc đó làm mất gần nửa tiếng. Cần cả thước lôgarit, rồi phải biêt tính khoảng cách, góc положения, точки наводки по буссоли, có tính tới các lôgarit và dữ liệu khí tượng – vận tốc và hướng gió ở các độ cao khác nhau. Rồi phải tính đến khối lượng đạn, trên đó có bao nhiêu dấu cộng hay trừ… Chúng tôi đã biết tất cả những điều đó. Nhưng trong chiến tranh thì có thêm nhiều lính mới, họ thì không biết những điều này.
Sau đó thì tiểu đoàn đóng quân ở đâu đó gần vùng Vưborg. Người Phần Lan đã bị đẩy ra khỏi đây. Gần thành phố có một con kênh chảy ngang qua, kênh Sammin. Quân Phần Lan ở bờ này, chúng tôi ở bờ kia. Tôi cùng với đồng chí đội trưởng trinh sát đi tìm chỗ đặt đài quan sát. Chúng tôi thấy một ngôi nhà bốn tầng. Chúng tôi leo lên. Đấy là một ngôi nhà dùng để ở, nhưng đã chẳng còn ai trong đó. Chúng tôi trèo lên các gác xép, lấy dao găm khoét lỗ, giống như lỗ châu mai амбразуры trên mái. Hóa ra là chúng tôi gần hơn tất cả. Chỉ cần động đậy một tý là đối phương có thể tiêu diệt chúng tôi ngay dưới mái nhà. Không được, chúng tôi phải chuẩn bị đài chỉ huy cho tiểu đoàn trưởng, chứ không chỉ là đài quan sát. Sau đó chúng tôi leo lên cái tháp trong pháo đài Phần Lan, nhưng không có chúng tôi thì trong cái tháp đó cũng đầy lính trinh sát rồi. Độc ống nhòm không cũng có sáu cái. Mà cái mái tháp cứ y như là cái mũ trụ của hiệp sĩ thời trung cổ. Lại không ổn rồi, vì ở đây sẽ là chỗ của chỉ huy trưởng, mà chỗ này thì chẳng được bảo vệ chút nào. Lại đi tìm tiếp. Cuối cùng chúng tôi tìm được một chỗ cao – chỗ máy nâng. Chúng tôi leo lên đó xem xét: thật tuyệt. Nhìn rõ mọi thứ xung quanh,mà xung quanh chỗ đó lại là các bức tường bê tông cốt thép. Một chỗ tuyệt vời, mà lại có chỗ trốn khi cần nữa chứ. Mà chúng tôi lại là những người đến đầu tiên – chưa có ai cả. Một lúc sau thì có thêm mấy người chỗ chúng tôi nữa, kể cả lái xe là tám người. Chúng tôi sắp xếp đài quan sát, đặt người canh gác ở cổng – như thường lệ cần làm. Chúng tôi bắt đầu xem xét và gặp một cánh cửa đóng kín. Chúng tôi đem móc sắt đến và mở cửa. Ối trời ạ! Trong đó là cả một kho bom, có nhẽ là hai chục, hay ba chục quả ấy, mỗi quả khoảng 200 kg. Lại còn dây đẫn đi đâu đó nữa chứ. Thế là chúng tôi đưa xe ra xa hơn, và đóng cánh cửa ấy lại. Lại kéo đống của cải từ xe lên trên, sang phía đối diện máy nâng – xa mấy quả bom ấy ra. Chúng mà nổ thì máy nâng chẳng sao đâu, bê tông mà, mà cũng chẳng động đến chúng tôi ở trên cao.
Chúng tôi ở đó ba hay bốn ngày gì đó. Quan sát kín đáo. Tháng bảy đã bắt đầu. Chúng tôi ngủ như khi ở nhà: ấm áp, tiện nghi: căng lều, thế là có mái che không sợ ướt. Ở đó có hai phòng nhỏ, chắc có lẽ là văn phòng, có cửa sổ nhỏ, mỗi chiều khoảng nửa mét, nhìn ra vịnh. Và chúng tôi cũng quan sát về hướng đó. Tường thì bằng bê tông cốt thép, tất cả đều ổn.
Thế rồi vào một trong những ngày ấy, khi tôi đang ở phía dưới thì nghe có tiếng gõ cổng! Tôi nói với cậu canh gác: nhìn xem có chuyện gì ở đó: “Ô! Đồng chí trung sĩ, có các tướng đến!” Chúng tôi mở cổng: một vị tướng đi vào, sau ông ta là một bầy đại tá, chắc cũng tới hai chục người. Ông tướng hỏi: “Thế đấy, cái gì ở chỗ các anh đấy?” Tôi báo cáo, rằng ở đây là đài quan sát và đài chỉ huy phía trên máy nâng. Ở đây không còn ai, ngoài đơn vị của tôi. Người canh gác, xe cộ - đều là thuộc quyền chỉ huy của tôi cả. “Thế à, cậu dẫn chúng tôi đi”. Tôi dẫn họ đi theo cầu thang bộ. Ông tướng và các đại tá bắt đầu thở phì phò – họ mệt mà, có mấy người trong số họ thì hơi béo, mà họ đã nhiều tuổi rồi. Cũng có vài người còn trẻ. Tôi dẫn họ lên trên: “Xin các cấp trên đừng có lộ mặt. Đối phương đang ở kia, ngay sau bức tường kia, đừng để lộ”. Tôi yêu cầu họ như thế, vì dù sao cũng là các chỉ huy cao cấp mà. Tiểu đoàn trưởng của chúng tôi chỉ mới được phong hàm trung tá cách đây không lâu thôi. Còn ở đây thì toàn các đại tá. Một đại tá nhìn vào ống nhòm: “Anh kể xem cái gì ở chỗ nào bên kia”. Tôi kể rằng cách chỗ chúng tôi không xa có mấy hòn đảo, mà quân Phần Lan vẫn chưa bị đẩy khỏi đó, phía vịnh có một nhà ga nào đó, có những chỗ thấy được đội ngũ của đối phương, thấy cả đường sá. Ở đó thì tầm nhìn rất tốt. Tất cả như tên lòng bàn tay. Còn lúc đó là lúc đang im tiếng súng, gần như không ai bắn cả. Thế rồi ông tướng đi lùi ra: “Này cậu chỉ huy pháo binh, nhìn đi”. Anh ta cũng nhìn, và ông tướng nói với anh ta: “Nào, sờ thử chỗ đó xem!” Thế là mấy dàn Kachiusa cho vài loạt sang bên kia kênh, ông tướng quan sát qua ống nhòm: “Giỏi, bắn tốt đấy, đủ rồi”. Còn tôi thì nhìn: một đại tá tò mò quá ra hỏi chỗ tường. Thế là chúng tôi bị lộ. Lúc đó đã là sau buổi trưa rồi. Khi mà các cấp trên đã đi khỏi, tôi nói với đám lính: “Này các cậu, cẩn thận nhé, chúng ta sẽ phải trả giá đấy”. Mà y như rằng. Khoảng 1 giờ đêmthì nghe tiếng pháo, đạn bắt đầu nổ. Họ bắn vào máy nâng. Tôi cúi xuống, xách súng và xuống dưới. Tôi đuổi tất cả lính xuống, mình thì đi sau. Vừa mới đến cửa căn phòng cần vào thì một quả đạn bắn trúng tường và nổ. Hóa ra tuy là tường bê tông nhưng mà mỏng dính, có 10-12 cm thôi. Viên đạn vừa rơi vào thì tạo ra một cái lỗ đường kính tới mét rưỡi – hai mét. Nổ xong thì tôi đi qua khói đi tiếp. Mà từ chỗ chúng tôi đến cầu thang phải đi qua mấy cái tháp силосные башни, cao, đường kính khoảng 6m, mà qua chỗ đó có cầu: những phiến gỗ được đóng lại доски, сбитые реденько палочками … Đi khe khẽ thôi chúng cũng lắc lư. Các đồng đội tôi chạy qua những cái cầu ấy, còn cậu lính gác ở chỗ ống nhòm cũng chạy đi rồi. Tôi phát hiện ra điều đó ở dưới. Cũng may mà cậu ta chạy đi, không thì chắc đã hy sinh rồi. Tôi đi xuống dưới, điểm danh, thì thấy một cậu không có ủng. “Chân có bị thương không?” - “Không, không sao ạ”. Có mấy cậu chạy chân đất, không có cả vũ khí nữa. Đợt ném bom đã qua đi, nhưng chúng tôi không biết làm gì tiếp, vì người Đức có thói quen thế này: bắn một đợt, rồi im, rồi sau khoảng 15 phút thì lại bắn, rồi lại nửa tiếng sau nữa. Bỗng chúng tôi nghe thấy một tiếng kêu gì đó, chả hiểu là tiếng gì. Mở cổng ra thì thấy một chiến hạm. Các thủy thủ đang chất củi lên tàu, và khi bắn thì một viên đạn rơi vào tàu (hơi nước), từ đó hơi thoát ra, kêu ầm ĩ … клокочет с водой. Chúng tôi chạy đến chỗ các thủy thủ cạnh tàu, cũng nhiều người bị thương.
Sau đó chúng tôi chẳng ở lâu trên chỗ máy nâng nữa. Họ lại tiếp tục ném bom, chúng tôi chẳng thèm lên đó nữa, dỡ ống nhòm và dần dần dỡ tất cả của nả còn lại và để gần xe, che chắn kín đáo để không bị đa văng vào làm hỏng. Ngày 9 tháng 7, đúng ngày tôi tròn 20 tuổi, thì tiểu đoàn trưởng đến chỗ chúng tôi và trao tặng cho tôi huy chương “Sao đỏ”. Ngày hôm sau thì người ta rút chúng tôi khỏi chỗ đó và chuyển chúng tôi đến chỗ khác, cách đường mặt trận là 12 – 15 km, phía sau Vưborg, trên những quả đồi. Chúng tôi đặt đài quan sát trên một trong các điểm cao ấy. Khi chúng tôi còn ở trên máy nâng thì các cậu ấy lục lọi khắp nơi, và tìm ra một cái máy đong lúa mì, trong đó còn khá nhiều bột Chúng tôi gom được gần 2 bao, một phần thì đem đến chỗ ban chỉ huy, tham mưu, một phần cho cánh lính thông tin liên lạc, còn một phần để trong thùng xe của chúng tôi. Thế rồi sáng sáng, khi mà còn yên tĩnh và có thể đốt lửa thì anh chàng trung sĩ Strelchenko rán bánh xèo. Nhưng mà như thế chẳng được bao lâu.
Tóm lại là chúng tôi không còn chiến đấu ở chỗ đó nữa. Hòa bình đã lập lại, chúng tôi lại sống theo khẩu phần bao cấp. Chỗ cuối cùng chúng tôi để của nả của mình, đài quan sát; trước đó là một vùng trung lập – cánh đồng khoai tây. Đã tới lúc đào khoai tây lên được rồi, mà lúc đó đang là lúc ngừng bắn với người Phần Lan – không bắn nữa. Thì chúng tôi cũng không bắn: “Đồng chí trung sĩ, chúng tôi đi đây, chúng tôi đào khoai tây nhé?” “Cậu nói gì thế!?” “Này, xung quanh chúng ta là cánh bộ binh, họ cũng đào khoai tây, mà chúng tôi thì cũng muốn”. “Nào – cậu này, cậu này nữa – các chiến sĩ tình nguyện nhé. Chạy tới chỗ này, chỗ kia. Vũ khí đem theo nhé! Cẩn thận kẻo chạm trán kẻ địch đấy nhé”. Họ đi và nhìn thấy: cả lính Phần Lan lẫn bộ binh của quân ta đều đào khoai tây. Tôi đã dặn họ là nếu có chuyện gì thì chạy về nhà, tức là chỗ đài quan sát ấy. Họ quay về: “Đồng chí trung sĩ, chúng tôi chạm trán kẻ địch. Anh nói cứ y như là tiên tri ấy”. Thôi kệ kẻ địch, chúng tôi cũng không cần quá nhiều khoai tây. Chẳng bao lâu nữa thì hòa bình, máy bay cùng với các máy bay tiêm kích bay đến Hensinki và ngược lại. Ở đây chiến tranh đã kết thúc. Nhưng chúng tôi vẫn còn tiếp tục đào công sự, xây dựng укрепления ở biên giới với Phần Lan. Chuyện đó cũng hay nhưng dài lắm. Tôi rút ngắn ở đây.
Tháng mười hai đã đến. Đầu tháng mười hai chúng tôi được chuyển ra biên giới. Sau đó thì lại rút chúng tôi ra và lại chất háng lên xe. Chúng tôi lên tàu đi đâu đó về phía nam. Đi qua Minsk, và tới gần Varsava thì xuống tàu, vài ngày đi trong rừng. Rồi sau đó И дальше на плацдарм. Там было два плацдарма Демблинский, от города Демблин, и Магнушевский, от города Магнушев. Мы попали на второй. Магнушевский плацдарм, ở đó có con sông Visla, còn gần đó là sông Filitsa. Chúng tôi đặt đài quan sát tại một điểm cao cạnh con sông này. Mà ở điểm cao ấy mới lắm đài quan sát của quân ta chứ! Cả cánh lính thông tin lẫn cánh lính pháo binh, còn xung quanh chỗ đồng trống thì là một xâu vũ khí, gần như cứ cách 5 m lại có một cái. Độ cao thì tốt thôi, nhưng cạnh đó là rừng, làm sao mà quan sát? Chúng tôi nhờ bên công binh kéo mấy cây thông gần đó xuống, thế là họ tới, dùng đủ cách để vít ngọn ba cây thông gần nhau, lấy gậy, đinh các kiểu nối lại, thế là thành đài, và chúng tôi vác ống nhòm leo lên đó. Nhưng vẫn chẳng rõ ràng gì hơn, trước mặt là rừng mà. Thế là các anh công binh lại leo lên, chặt bớt ngọn cây, vậy là chúng tôi có đài quan sát. Hai người có thể đứng đó được, nhưng nguy hiểm, vì đối phương thường nổ súng vào những điểm cao mà, thế là tôi để một cậu trinh sát ở trên đó với điện thoại, còn lính thông tin ở dưới. Chúng tôi lấy dây buộc anh ta vào thân cây, để nếu có bị thương thì cậu ttrinh sát cũng không bị ngã. Nếu bị thương thì chúng tôi sẽ đưa ra, chứ nếu mà ngã thì nguy hiểm lắm. Độ cao cũng gần 20 m mà. Leo lên cũng khó, mà leo xuống cũng khó. Chúng tôi làm một cái luỹ chắn công sự dưới đài quan sát. Ở đó đất cá, khoảng 20 cm phía trên thì lạnh đông cứng lại, rất khó đào, còn dưới nữa thì cát bở. Lũy chắn chúng tôi làm như thế này: в яме сруб поставили, đào xuống, rồi để đến 5 lớp thân cây lên. Đúng là pháo đài! Phải làm như thế vì đối phương bắn mìn минометов rất nhiều, chúng tôi gọi đó là vĩ cầm – những khẩu súng Đức 6 nòng. Mìn của họ mỗi quả chắc nặng khoảng 50 kg mỗi quả, cứ nổ một cái là tạo ra một cái phễu đường kính 5 m. Chúng tôi thì ngồi trong lũy, mìn có rơi vào lũy cũng chẳng sao. Nhưng người ngỗi trên cây thì làm gì được, nếu mìn nổ anh ta sẽ nghĩ rằng: “Bây giờ mảnh sẽ văng vào lưng, vào chân người đứng trên cây thôi”. Tôi thường xuyên thay đổi nhân viên thông tin. Ở trên cao vừa nguy hiểm vừa lạnh vì gió thổi. Chúng tôi ở đó khoảng 10 – 12 ngày. Tôi nghĩ, có lẽ số tôi may mắn: Chẳng ai đứng quan sát bị thương cả. Ở trong lũy chắn vừa lạnh, vừa ẩm – nhiệt độ khoảng âm 12 -14 ºC, đã là tháng giêng năm 45 rồi. Giá mà ở phía sau một chút thì còn có thể căng lều, đốt lửa. Còn chúng tôi thì đang ở ngay tiền tuyến, đâu có làm thế được. Mà khi anh nuôi đem đồ ăn đến cho chúng tôi thì mọi thứ đã nguội cả, có khi đóng băng luôn. Lúc đó chúng tôi có một cái lò chiến lợi phẩm của Đức, tròn, có móc. Chúng tôi chọn những cái nồi bán nguyệt (nửa tròn), để chừng 4 cái vào lò – cũng khá ấm. Cần phải có một cái ống cho lò – chúng tôi đục một cái lỗ nghiêng, nhét gậy vào đó. Tuy là gậy cũng cháy, nhưng không phải ngay lập tức. Chúng tôi thay gậy, để cho cái lỗ thông không bị tro lấp và nấu ăn ở đó. À, mà cái lũy chắn ấy thì lại quay cửa về phía địch. Tôi chỉ đạo xây dựng, nhưng rồi một lát sau thì trung đoàn trưởng đến, anh này còn trẻ và thiếu kinh nghiệm nhưng lại muốn chứng tỏ mình là chỉ huy. “Không xây lũy như thế, quay lại phía này!” –“Báo cáo đồng chí trung úy, tôi biết đâu là phía trước. Theo bản đồ của tôi thì quân Đức đang ở chỗ này đây”. Tôi đã ở trong quân ngũ 6 năm, suốt thời gian đó ở trong trinh sát. Tôi định vị với bản đồ tốt, và có thể làm mọi việc cần thiết khi đó. Còn anh ta thì mới ra trường, nhưng anh ta là chỉ huy. Thế là cứ bắt quay bằng được: “Tôi không thể quay được”. “Tôi sẽ bắn anh ngay bây giờ! Anh có nghe lệnh không đấy?” Anh ta rút súng lục ra, dọa bắn vào mũi. Thế là chúng tôi quay cửa. Thành ra lũy thì chắc chắn, nhưng bố trí tồi. Có lần một cái xe tự hành самоходка của Đức đến bắn đài quan sát, chúng tôi đã sợ là nó sẽ xông vào cái cửa ấy. Nhưng chuyện đó đã không xảy ra. Thì trong chiến tranh vẫn có những thằng ngốc mà.
Rồi thì đến lúc tấn công – pháo bắn chuẩn bị. Mấy cậu lính thông tin đang sửa chữa đường dây chạy cả vào chỗ chúng tôi. Một cậu đứng ngay cửa, thế rồi có một quả mìn nổ ngay trên đầu cậu ấy.Cậu ta buông súng, mà súng lại không khóa chốt an toàn, thế là khi súng va phải đất thì cướp cò bắn phải tay cậu ta. Về sau suýt nữa cậu ta phải ra tòa án binh – người ta nghĩ rằng cậu này tự bắn vào tay mình. Cũng may là chúng tôi đã làm chứng. Người ta nghe theo chúng tôi, vì tôi là người có uy tín mà. Các cậu lính liên lạc của đơn vị khác cũng dựng một cái lũy cạnh chỗ chúng tôi. Họ đào một cái hào nho nhỏ, коммутатор у них стоит, hai người gác cửa, phủ cả hai tấm bạt lên cửa cho đỡ lạnh. Nhưng cái lũy thì lại sơ sài - có một lớp один накат và cây gỗ đường kính khoảng 15 cm, còn trên đó thì họ ném các cành cây và các mảnh gỗ to lên đấy – trông thì như là lũy ba lớp, nhưng thật ra chỉ có một ít cành và đất. Một quả mìn đã làm thủng lũy và rơi vào một chiến sĩ đang nằm cạnh máy điện thoại, mìn cắm thẳng vào bụng cậu ta nhưng không nổ. Sau khi chiếm được Varsava thì Bộ Chỉ huy tối cao đã khen thưởng chúng tôi. Sau đó thì chúng tôi được lệnh chuyển đến chỗ thành phố Radom cách Varsava về phía nam khoảng 60 km, ở có cũng tập trung pháo binh cũng kiểu như pháo binh của chúng ta. Hỏa tuyến tiến rất nhanh – mỗi ngày khoảng 25 – 30 km. Nhưng chúng tôi ở đó chẳng có việc gì làm cả. Thì cũng tham gia vào các đợt bắn chuẩn bị của pháo binh, nhưng không bắn vào các hỏa điểm, mà bắn rải thảm. Bắn vào các nút đường, vào những chiếc cầu ấy mà. Có lần các chiến sĩ trinh sát của chúng tôi đã tìm ra vị trí của một số khẩu đội bắn mìn 6 nòng. Thế là chúng tôi được lệnh bắn một cái như thế. Chúng tôi đã bắn tan tành, cả cái lũy gần đó cũng chẳng còn
- Thế các bác có trinh sát âm thanh không?
- Không, đó là звукометрическая разведка trinh sát đo đạc bằng âm thanh. Đó là một bộ phận riêng, nhưng chúng tôi không có.
Chúng tôi đóng ở Radome gần một tuần, mới dựng xong lũy thì có lệnh hành quân về phía trước. Ai đi ư? Tất nhiên là chúng tôi, những người lính trinh sát. Chúng tôi đi Poznan. Chúng tôi đi hai ngày – đã bị tụt lại so với hỏa tuyến tới 300 km. Hỏa tuyến đi rất nhanh, có vài đơn vị đã đến gần Oder rồi. Khi tới gần Poznan chúng tôi dừng lại ở đồn Nekv, trong ngôi nhà của một địa chủ. Chúng tôi có 3-4 người ở đó, còn lại thì đi tiếp tới Poznan, tới chỗ ban chỉ huy. Ở Poznan có một pháo đài cổ, nó đã ở đó mấy thế kỷ rồi. Quân SS và quân của Vlasov cố thủ ở đó. Chúng tôi thì có nhiệm vụ phá hủy pháo đài này. Nhìn chung thì pháo đài cũng giống như cremlin của Moskva, ở các góc tường có các tháp canh. Bên trong là trại lính, kho, hầm ngầm, vv… Tường pháo đài thì bằng gạch, dày khủng khiếp, tới 10 – 12 m. Chúng tôi không kiếm được chỗ nào đặt đài quan sát gần pháo đài cả, ở đó toàn là những ngôi nhà không cao. Chúng tôi đến chỗ nhà hát, thấy cửa khóa kín. Chúng tôi phá cửa vào, bên trong chẳng có ai cả, thế là chúng tôi leo lên trên và đặt đài quan sát ở đó. Chúng tôi lắp đặt kính quan sát, điện thoại; còn máy bộ đàm thì ở phía dưới. Thế rồi chúng tôi đóng tại nhà hát này. Chúng tôi chiếm một phòng rộng khoảng 20 mét vuông, dọn dẹp sạch sẽ - vì quân Đức lúc trước đóng ở đó, mà nhà hát thì không có toa lét. Hôi kinh khủng. Chúng tôi phải xách nước vào kỳ cọ. Cách đó không xa, ở gần đường sắt là một kho lạnh, cũng khá cao, thế là chúng tôi bố trí hai đài quan sát trên đó. Trong kho đầy thịt lợn, thế là chúng tôi ăn mỡ lợn thỏa thuê. Nào là luộc, nào là rán. Suốt cả cuộc chiến tranh chưa lúc nào chúng tôi được như thế cả. Chúng tôi tổ chức liên hoan, lấy rượu và sâm panh từ tiệm ăn ra. Tôi chẳng uống rượu bao giờ, những khi phát 100 gr vodka trước khi vào trận tôi toàn cho lại anh em cả, còn sâm panh thì tôi uống lần đầu tiên ở chỗ nhà hát đó. Chúng tôi lấy vải bạt phủ lên bàn – trông cũng lịch sự chán. Không có chỗ ngồi, chúng tôi phủ bạt và áo khoác lên các hòm rượu Chiến sĩ liên lạc trực ban cũng nhấm nháp chút chút. Giữa lúc đó thì tiểu đoàn trưởng đến: “Ồ, phòng tốt quá, các cậu giỏi thật! Đã sắp xếp xong cả rồi”. Tôi thì đã sợ rằng nếu tiểu đoàn trưởng thấy những hòm rượu, sẽ mắng: “À, các cậu uống rượu say rồi đập phá đấy hả”. Nhưng tiểu đoàn trưởng chỉ nói là ban chỉ huy tiểu đoàn sẽ đóng ở đó và chúng tôi phải chuyển sang phòng khác.
Chúng tôi bắn vào pháo đài, phá hủy các bức tường, tháp, tạo ra các đường tiến cho bộ binh. Tất cả các tháp canh ở góc tường đều bị chúng tôi phá hủy. Chỉ có mỗi tiểu đoàn pháo binh siêu nặng dự bị của chúng tôi là đơn vị bắn. Quân SS và quân của Vlasov thì cố thủ trong pháo đài, còn đơn vị tấn công lã các chiến sĩ quân đoàn cận vệ số 8 của Vasily Ivanovich Truikov.
Vào một ngày trong thời gian đó thì tiểu đoàn trưởng cũng tới đây và gọi điện đến khẩu đội: “Này hãy gọi cậu này đến cạo mặt cho tôi”. Thế là anh chàng thợ cạo David từ chỗ khẩu đội đến chỗ chúng tôi, tôi quên mất họ của anh ta rồi. Anh ta không biết đường, người ta chỉ đường cho anh ta trên bản đồ, và chắc là anh ta bị lạc ở đâu đó và đến muộn. Tiểu đoàn trưởng chửi um: “Cấp trên gọi tôi lên họp, vậy mà cậu dám đến muộn, tôi điều cậu đến tiểu đội kỷ luật!”. Lúc đó chúng tôi đã có tiểu đoàn trưởng mới là Mikhailovsky Pavel Bogdanovich, đen như một người di gan, chửi tục thì phải biết. Anh ấy cạo râu, rồi lên xe đi họp. Có thể là anh ta đến muộn mà cũng có thể là không, nhưng anh ấy không về một mình, mà về với một ông tướng và một đoàn tùy tùng. Ông tướng ấy là trưởng Bộ phận trực chiến của Quân đoàn 8. Chúng tôi đưa họ đến một phòng sạch – căn phòng lớn trên tầng ba. Đầy cả người: ông tướng này, tùy tùng này, xe hơi Shevrole với lại súng? Súng trường tự động ấy. Tiểu đoàn trưởng dẫn ông tướng đến chỗ chúng tôi và nói rằng đây là sở chỉ huy của anh ta, còn chúng tôi là cấp dưới đứng bên tường trong căn phòng đó. Tất cả đều đi vào đó. Thế rồi trước khi đi thì tiểu đoàn trưởng ngửi thấy mùi thịt rán. “Các cậu kiếm được thịt lợn ở đâu vậy?”. – “Chúng tôi lấy ở kho lạnh, thưa đồng chí tiểu đoàn trưởng”. Thế là anh ấy ra lệnh cho cậu thợ cạo: “Này cậu, đã đến muộn thì phải chuộc lỗi nhé, đem thịt lợn về cho tôi. Mà chọn miếng nào ngon ngon nhé”. Thế là cậu David ấy chọn một súc thịt to, tới nhà hát rồi hỏi xem chúng tôi ở đâu. Rồi cậu ta vác súc thịt ấy đi loanh quanh trong nhà hát. Thế nào mà cậu ta lại đụng phải các sếp. Ông tướng và đám tùy tùng, ngài trung tá thủ trưởng của chúng tôi, thiếu tá tham mưu trưởng, chỉ huy trinh sát. Rồi thì lính trinh sát nữa chứ. Có khoảng 2-3 người lính liên lạc, còn trinh sát của chúng tôi thì có 8-10 người. Anh nghĩ xem, cánh cửa bỗng nhiên mở ra và một chiến sĩ bước vào. Mặt thì đỏ gay, mồ hôi nhễ nhại và vác một súc thịt lợn to trên vai đi vào. Anh ta nhìn xem có chuyện gì, xung quanh toàn chân là chân, ủng thì cứ gọi là bóng loáng; người thì đầy, anh ta tự hỏi mình đang ở đâu. Hé mắt nhìn qua súc thịt, chẳng thấy chúng tôi đâu cả. Mà là khách của chúng tôi. Chỉ huy nơi khác. Thế là anh ấy quay lưng lại và đi ra cửa. Còn tôi thì nhìn vị tướng. Trời đất ạ, chuyện gì sẽ xảy ra đây. Dù gì thì chiến sĩ ấy cũng là của chúng tôi. Mà là tên Мародер. Có nghĩa là chúng tôi cũng thế! Nhục thật! Chúng tôi đã được dạy là không được lấy gì ở bất cứ chỗ nào . Chưa ai lấy thậm chí là mảnh giẻ rách ở đâu đó. Thế mà cậu này lại vác một súc thịt lớn. Chúng tôi sẽ bị gì bây giờ? Vị tướng thì vẫn đứng, miệng há hốc, không nói được lời nào. “Chiến sĩ của đơn vị các anh đấy à?” – Tiểu đoàn trưởng: “Không, không phảo đơn vị chúng tôi”. Còn cậu David ấy, rúm ró cả lại, rồi lại còn súc thịt với lại súng carbin nữa? Không ai nhìn thấy rõ quân hàm của cậu ta, nên không thể biết chính xác rằng cậu ta là lính pháo binh. Không ai giữ cậu ta lại cả. Tùy tùng của vị tướng cũng khá đông: nào là đại tá, nào là thiếu tá. Ít nhất thì ngoài phố cũng có gần năm chục khẩu súng. Thế nhưng David trốn đi đâu mất, và người ta cũng cho qua chuyện này…
Gần như ngày nào thì pháo của chúng tôi cũng bắn, đã gần tới Ngày Quân đội Xô viết – 23 tháng hai. Chúng tôi đã xua hết đám lính Đức và lính Vlasov ở trong các chiến hào trước pháo đài. Đối phương chỉ còn ở phía sau tường, rất khó vào đó, đối phương cũng phòng thủ rất quyết liệt. Có lần các chiến ssĩ trinh sát vào được trong đó và bắt được 4 lính SS đem về. Chúng tôi đang đứng nói chuyện trên tầng ba, bỗng thấy có người đang rơi từ trên xuống, anh ta đang nhào lộn trong không khí. Oạch một cái xuống đất. Chuyện gì xảy ra vậy? Các cậu trinh sát dẫn đám lính đến cho trưởng bộ phận trực chiến отдела hỏi cung (đấy là các chiến sĩ trong đơn vị đó kể lại, không phải các chiến sĩ của chúng tôi). Hỏi cung người thứ nhất: đơn vị nào, vv – anh ta im lặng. “Nói đi, không thì chúng tôi quẳng ra ngoài cửa sổ đấy”. Vẫn không trả lời. Thế là các chiến sĩ của ta túm lấy anh ta và quăng ra ngoài cửa sổ. Anh có thể tưởng tượng được họ là những kẻ cuồng tín thế không? Không ai trong số họ trả lời một câu hỏi nào cả. Tất cả bị quăng ra ngoài cửa sổ. Tất nhiên là không ai sống sót.
Còn có một trường hợp như thế này nữa. Một cậu hạ sĩ của quân ta, Kostia Martưnov, một chàng trai rất tốt quê ở Krasnoyarsk. Khi cậu ta trực ban thì luôn luôn nhấp vài ngụm ở thùng rượu. Ngoảnh qua ngoảnh lại đã thấy cậu ta say. Tôi bảo cậu ta: “Này, lấy súng của cậu và đi khỏi đây, nhớ đừng để ai thấy nhé”, rồi phân công một cậu lính thông tin khác gác thay. Thế nhưng mà cái cậu Martưnov ấy, cậu ta lang thang trong nhà hát thế nào lại tìm ra được đường lên phía trên và cậu ta trèo lên mái nhà. Mái nhà ở đấy thì cũng có с загородкой, giống nhú ở những chỗ khác. Ở đó có những bao мешочки брезентовые với cát, khối lượng mỗi bao khoảng mười kg. Cậu ta còn đang say lang thang ở đó thì thấy có xe hơi đi tới: ai vậy nhỉ, liệu có phải kẻ địch không? Cậu ta bèn lấy một bao quăng xuống. Cái bao rơi từ độ cao 18-20 m xuống đất, vỡ tung như là lựu đạn. Một bao, hai bao. Thế là các cậu cầm súng trường ở dưới chạy lên, tìm thấy cậu ta đang say xỉn. Họ hỏi: “Chiến sĩ của các anh đấy à?”. Chạy đi đâu được, trong người cậu ta có thẻ Hồng quân mà. Đành phải nói “Vâng, chiến sĩ của chúng tôi”. Thế là cậu ta bị giáng cấp.
Chúng tôi đi tiếp. Đầu tiên thì đi cùng Quân đoàn 8, Quân đoàn này đi từ Poznan sang phía tây, sau đó thì chúng tôi được lệnh chuyển hướng, và chúng tôi dừng lại ở thôn Germzforph. Không phải làng, mà là thôn thật sự, ở làng thì còn có nhà thờ, ở đây thì không. Ở đó chẳng có ai là người Đức cả. Nhưng có rất nhiều người Nga và người dân Liên Xô, từ nhiều nơi khác, chủ yếu là từ Đôn bass. Còn tôi thì nhập ngũ ở Đô nhets, và bạn bè tôi cũng chủ yếu là người Đô nhets. Hóa ra là đồng hương – chủ yếu là phụ nữ. Họ bị bắt làm việc ở các trại chăn nuôi gia súc. Họ đã được giải phóng, nhưng người ta vẫn chưa cho họ đi khỏi nơi đó, vì không biết mặt trận đang tiến về phía nào và nên đưa những người đi đâu. Họ vắt sữa bò và đem sữa cho các chiến sĩ của chúng tôi, thậm chí có một lần tôi còn uống thẳng từ xô sữa ấy.
Chúng tôi đóng quân trong làng đó khoảng gần tháng. Sau đó chúng tôi được lệnh hành quân tới Quynstegen (?). Tôi vẫn còn giữ được một tấm bản đồ thời gian đó. Ở đó thì thành phố này tên là Quysten. Một thành phố nho nhỏ kiểu như Mozaisk, một pháo đài cổ. Ở đó có sông Oder chảy, rồi sau nữa thì các sông khác đổ vào sông Oder, hình như có cả sông Varta nữa. Thành phố không lớn lắm, có khoảng 20 -30 ngàn dân sinh sống thôi. Nhưng chúng tôi phải vất vả lắm mới chiếm được nó – có rất nhiều trở ngại: sông với lại đường giao thông. Nó như một cái nút trên đường tới Berlin. Chúng tôi đóng ở cách thành phố khoảng 60 km. Trên cái bản đồ này những đường màu xanh là tuyến trước đấy, sâu khoảng 3 km, còn tuyến mặt trận là khoảng 7 km. Плацдарм không lớn lắm, nhưng đầy quân. Ở đó còn có làng Raitvain. Mép làng nằm ở góc này của bản đồ, chỗ tam giác màu đỏ ấy, đó là đài quan sát của chúng tôi ở đó. Còn từ chỗ này thì dốc xuống thoai thoải. Ở chỗ này là đường sắt, ngay cạnh đường sắt cùng độ cao với chúng tôi là Chỉ huy sở của Nguyên soái Giukov. Ở đây là một chỗ khá bằng phẳng, thỉnh thoảng có chỗ cao hơn xung quanh khoảng 3-5m thôi, không hơn. Còn ở đây là đường nhựa, rồi những đường sá khác có trồng cây. Rồi thì làng xóm. Thôn Altuhedan. Chúng tôi bị máy bay bắn ở đó, nhưng không ai việc gì. Ở đây là một điểm cao, đây là đường trước làng ấy. Tiểu đoàn trưởng hôm đó uống cũng kha khá, anh ta quyết định chiếm điểm cao ấy chỉ bằng đơn vị chúng tôi thôi, thế là anh ta điều các trinh sát tới đó. Chúng tôi chẳng bao giờ muốn làm điều đó, nhưng vẫn phải làm. Thế là chúng tôi được nêm mùi đạn пулеметы, đối phương chặn ngay hướng tiến công của chúng tôi, may mà không ai bị sao, và chúng tôi quay lại. Tiểu đoàn phân bố các điểm lửa như thế này, chúng tôi bắn vào thôn vào các điểm tập trung đông lính Đức, vào các nút đường. Sau đó quân Đức rút về các cao điểm Zeelov nổi tiếng. Ở đây là nơi tểu đoàn của chúng tôi đã đi qua một trong số các con đường. Ở đây là thành phố Quystenvalden. Quân Đức tập hợp dọc theo đường phòng tuyến này, còn chúng tôi đã chọc thủng phòng tuyến ấy ở đây. Từ đây là đường thẳng tới Berlin. Trung đoàn bắn vào các vị trí hỏa lực, chủ yếu là bên kia kênh. Sau đó, khi cuộc tấn công đã bắt đầu thì các trật tự chiến đấu thay đổi, từ đây chúng tôi đi theo hướng này sang phía Tây. Ở đây là các vụ trí tiền tiêu của quân Đức dọc theo đường sắt và theo chiều sâu. Còn đây là vị trí tiền tiêu của chúng tôi. Cuộc tiến công nổ ra vào ngày 16 tháng 4 năm 1945. Từ đây chúng tôi tiếp tục tiến theo lịch trình, còn sa đó thì theo đường cái tới Shustenvald và tới Berlin theo trục đường đi về phía Frankfurt-on-Oder. Chúng tôi ở đây, cách đó khoảng 25 km về phía nam là thành phố Frankfurt-on-Oder. Phần lớn binh lính của Mặt trận Belorussia đã tấn công từ đây.
Vào khoảng 4 giờ sáng, hoặc muộn hơn một chút, các đèn pha chiếu sáng được bật lên. Tôi nhớ theo tài liệu sách vở là có 140 đèn pha một triệu nến (1 nến = 1W?). Chiếu sáng trưng cả các vị trí tiền tiêu. Và trận đánh bắt đầu. Chúng tôi bắn sâu vào đây. Đối với quân Đức, việc chúng ta sử dụng đèn pha là hoàn toàn bất ngờ. Tất nhiên là đèn pha đã giúp chúng tôi nhiều.
- A.D. Cũng giúp các bác ư? Bây giờ có nhiều người nói rằng những chiếc đèn pha ấy còn làm mù quân ta nhiều hơn.
- Ồ không đâu. Chúng giúp quân ta nhiều chứ. Dĩ nhiên khi bộ binh tấn công thì là chuyện khác, những chiếc đèn pha này chiếu từ phía sau. Mỗi người lính bị đèn chiếu từ phía sau thì đều giống như chúa Jesu ấy, tức là bị thấy rất rõ ràng. Dĩ nhiên như thế là nguy hiểm và khó khăn, nhưng mặt khác thì đối phương cũng không thể nào bắn vào những người lính bộ binh ấy được khi họ bị những ngọn dèn pha hàng triệu nến chiếu vào mắt. Vì vậy mà quân ta đã vượt qua phòng tuyến của đối phương, chọc thủng phòng tuyến – mọi chuyện bình thường. Có lẽ là các cựu chiến binh – bộ binh thì thấy khác, nhưng tôi là lính pháo binh mà. Cánh quân của chúng tôi tiến đến bao vây Berlin vào đêm 23 rạng ngày 24. Các cánh khác thì còn đến đó từ đêm 21, 22. Chúng tôi chiến đấu dành từng căn nhà, từng phố. Đến nỗi nếu không thể vượt qua phố, pháo bắn cũng không được – toàn nhà với nhà, thì chúng tôi tháo các đạn phản lực định hướng khỏi các “Cachiusa”, để các Cachiusa chúng ở cửa sổ rồi bắn về phía ngôi nhà ngược lại. Chính tôi thấy điều đó. Các trận chiến đường phố là việc còn xa lạ đối với chúng tôi, trước đó chúng tôi luôn luôn ở trong điều kiện tác chiến, nếu không kể cái pháo đài ở Poznan. Các đài quan sát của chúng tôi luôn luôn là nơi nào đó trên cánh đồng, trên đồi, trong rừng, như là ở Varsava. Còn chuyện lầy lội, không được ngủ - là chuyện đáng sợ.
Chúng tôi bắn vào Berlin theo các điếm hỏa lực, vào các nút tập trung chống cự, nơi tập trung rất nhiều quân Đức, không thể chọc thủng được. Bắn vào các cây cầu, những ngôi nhà lớn, nhà ga. Sau đó bắn vào Bộ Chỉ huy của Hitler, vào Nhà Quốc hội Đức, rồi bắn cả vào các cây cầu ở ngoại ô thành phoos, khi quân Đức rút đi. Ngày 27 tháng 4 tôi có vinh dự được chỉ huy tiểu đoàn. Tức là thế này. Lúc đó chúng tôi đã gần Nhà Quốc hội rồi, còn cách khoảng hai cây số, cây số rưỡi gì đó. Nhưng thường thì chúng tôi bắn dựa vào quan trắc dấu hiệu đứt gẫy– một thuật ngữ pháo binh; còn ở đây thì chúng tôi không hề trông thấy kẻ địch, kể cả ở chỗ vị trí hỏa lực cũng như ở chỗ đài quan sát. Đài quan sát của chúng tôi thì ở số 3 phố Shlezingerstrasse. Đó là một ngôi nhà chung cư lớn có cả thang máy, còn phía trên có cái tháp thang máy, anh em chúng tôi đã biến nó thành đài quan sát. Nhưng từ chỗ đó chúng tôi chẳng thấy gì, vì trước chỗ đó là các ngôi nhà đã bị bắn phá, một số chỗ bị sập, đang cháy. Chúng tôi bắn theo diện tích. Rồi đến ngày 27 thì tiểu đoàn trưởng nhận được lệnh đẩy hàng ngũ chiến đấu lên trước. Các đài quan sát thì phải đặt thật gần Nhà Quốc hội Đức, hoặc là gần Sở chỉ huy Không quân, hay là Bộ Tổng tham mưu của Hitler. Tiểu đoàn trưởng cùng với đồng chí chỉ huy pháo binh, trung đội trưởng của tôi, và hai chỉ huy khẩu đội đi tìm chỗ đặt đài quan sát. Bấy giờ là khoảng 6 giờ chiều. Bỗng có chuông điện thoại: “Yêu cầu chỉ huy đến chỗ sở chỉ huy nghe điện thoại”. Người cao cấp nhất ở đây bấy giờ là tôi. Thế là tôi nhấc ống nghe. “Số 18 ra lệnh phát hỏa theo mục tiêu 21”. Mà mục tiêu 21 tức là Nhà Quốc hội Đức. “Tuân lệnh phát hỏa!”. Làm gì tiếp theo bây giờ? Tôi biết rằng chúng tôi có một khẩu đội pháo đang ở vị trí, ở khu vực sân bay Tempilhoph, còn những khẩu đội khác đang di chuyển trên chiến trường. Có một số khẩu đội đang ở vị trí. Tôi truyền lệnh tới đó: “Chuẩn bị bắn theo mục tiêu 21”. Lúc đó tôi có một bản đồ tỷ lệ 10 cm, rất tiện lợi, ở đó vẽ rõ đến từng ngôi nhà trên bản đồ, có cả Nhà Quốc hội Đức lẫn Bộ Tổng tham mưu của Hitler. Trên bản đồ của chúng tôi mọi mục tiêu đã được ký hiệu rành rọt. Tôi truyền lệnh chuẩn bị. Trong lúc các khẩu đội còn đang đứng một chỗ thì các trinh sát pháo binh, hay khẩu đội trưởng với tư cách người thành thạo nhất đã chuẩn bị xong số liệu. Ví dụ, điểm hỏa lực ở đây, tất cả các khoảng cách đã biết, thế thì chúng tôi наводим орудия по точкам наводки это, ví dụ một nhà thờ hay ngôi nhà nào đó, từ đó cách ra sang trái, sang phải theo khoảng cách như thế nào, góc bao nhiêu, hoặc по буссолям, theo kim địa bàn, nhưng như thế thì không chính xác bằng. Tôi gấp rút chuẩn bị số liệu, tôi có планшет, bản đồ, tôi bắt đầu ký hiệu trên bản đồ, cái gì ở đâu, tổng hợp so sánh số liệu của tôi và của những người khác – mọi chuyện đều ổn cả. Chúng tôi đã sẵn sàng. Tôi ra lệnh: “Phát hỏa!” và nghe thấy tiếng “s-s-s-s”, cứ y như là có một đoàn tàu chạy trong không khí ấy – đó là đạn của chúng tôi bay đấy. Đạn nổ ở đâu đó gần đích. Chúng tôi bắn 42 phát đạn vào Nhà Quốc hội Đức. Rồi có lệnh từ đó truyền tới. Tôi nhấc ống nghe, nghe thấy ai đó hét rất ghê: “Ngừng bắn!”. Tóc trên đầu tôi dựng đứng cả lên – chắc là chúng tôi bắn vào quân mình rồi. Quân ta đang vây Nhà Quốc hội, chỉ còn cách đó khoảng 300 mét thôi. Chúng tôi thì bắn theo diện tích, ngộ nhỡ có viên đạn nào không bay đến đích thì sao. Sởn gai ốc hết cả người, tôi ra lệnh mà. Đâu có ai ra lệnh cho tôi, ngoài cái anh kia, mà số 18 là ai thế nhỉ? Thậm chí tôi còn không biết họ của anh ta nữa mà. Thế là tôi sẽ phải chịu trách nhiệm. Mà cũng có thể là không, ai mà biết được. Nói tóm lại là tôi hết sức lo lắng. Sau một khoảng thời gian lại nghe thấy lệnh: “Chuẩn bị bắn vào mục tiêu 20”. Tất cả những chuyện đó đều xảy ra trong ngày 27 tháng 4 cả. Sau đó thì đến loạt bắn phá Bộ Tổng tham mưu của Hitler đầu tiên của chúng tôi. Chúng tôi gửi đi 18 phát đạn. Lại được lệnh ngừng bắn. Sau một khoảng thời gian nữa thì nghe thấy – giỏi lắm, các cậu bắn tốt đấy. Chuyển lời cám ơn của các đơn vị tấn công đến anh em nhé– mà lúc đó thì trung đoàn số 151 đang tấn công. Ừ thì tôi chuyển lời cám ơn. Rồi còn trong khi chúng tôi đang bắn vào Bộ Tổng tham mưu của Hitler thì tham mưu trưởng chạy đến chỗ sở chỉ huy của chúng tôi. Trong suốt cả cuộc chiến tranh đấy là lần thứ hai anh ta đến đây. Lần thứ nhất là ở chỗ đèo Kareli, lần thứ hai là lần này đây. Anh ta chạy đến, tôi báo cáo: “Báo cáo đồng chí thiếu tá, chúng tôi đang bắn vào mục tiêu số 20 – Bộ Tổng tham mưu của Hitler”. “Các cậu đã bắn bao nhiêu phát rồi?”. Hai hay là ba gì đó. Mà lúc đó tôi đã vẽ bảng bắn, chuyển lửa như thế nào. Tức là bắn sang trái 20, sang phải 20, столько-то дальномер меньше. Và các khẩu đội cũng thế: chúng tôi tổng hợp, hội ý mà. Cứ hai phút thì bắn một phát. Không thể nhanh hơn được – nòng nóng bỏng lên mất…
- A.D. Không thể bắn nhanh hơn vì nòng súng nóng lên nhanh quá ấy ạ?
- Đúng thế đấy. Lại còn nạp đạn nữa chứ, mất 18-20 giây. Chúng tôi nạp đạn như thế này này: khoảng hai chiến sĩ pháo binh dùng tời nâng đạn lên, nòng thì chúc xuống dưới một chút. Такими, банники называются, снаряд с лотка в ствол. … đạn vào nòng. Потом мешок пороху сюда, специальный, он из таких как бы галет сделан, сшит из зарядов, полный заряд - мешок вот какой здоровый. Sau đó thì một bao thuốc súng đặc biệt, bao thuốc súng ….- bao to đùng. Ở đây thì thường thường người ta nạp không đầy thuốc súng – tùy thuộc vào khoảng cách ấy mà. Закрывается затвор. Sau đó thì đóng … lại. Tất cả mọi người tránh ra, chỉ còn lại người cuối cùng наводчик …Anh ta kéo sợi dây – thế là đạn được bắn đi. Chúng tôi không để nòng súng ở vị trí như hồi ở đèo Kareli, ở đây chúng tôi để nòng súng góc 50 – 60 độ, bởi vì cần phải để đạn rơi tù trên xuống cho trúng.
… Tham mưu trưởng chạy đến, nhìn vào cái bảng của tôi. Aha, đã tổng hợp, so sánh với khẩu đội đnag bắn. Và anh ta bắt đầu ra lệnh, còn tôi thì đứng ra một bên – nhìn. Chúng tôi đã bắn 18 phát, và lại nhận được lệnh ngừng bắn. Và họ còn nói rằng Larin khá lắm, sẽ nhận được huy chương Cờ đỏ. Sau đó mấy ngày thì chúng tôi đã thôi bắn, thôi chiến đấu ở Berlin (mà cuối cùng thì tôi cũng không nhận được huy chương Cờ đỏ), người ta đưa chúng tôi ra khỏi Berlin ngày 3 tháng 5 (ngày mùng 2 là chúng tôi đã ngừng chiến đấu rồi), đã là lúc hòa bình trong thành phố. Sau mỗi lần bắn thì lính pháo binh chúng tôi phải làm báo cáo: bắn bao nhiêu phát, bao nhiêu phát trúng đích, còn lại bao nhiêu, bao nhiêu người chết. Tức là báo cáo chiến đấu, rồi sau đó báo cáo được đi tiếp lên trên, còn chúng tôi thì lưu lại tài liệu. Tôi cùng hai trinh sát được giao nhiệm vụ xem xét các mục tiêu 20 -21 và ghi lại, có bao nhiêu phát trúng, và trúng vào đâu. Mà ngoài Nhà Quốc hội ra chúng tôi còn bắn vào các điểm chống cự nữa, và các điểm này cũng được đánh số. Có các vết lõm, đổ vỡ bên trong tòa nhà, đó là vết đạn của chúng tôi. Trước nhà Quốc hội có chôn hai chiếc xe tự hành Đức, chỉ còn tháp pháo nhô lên khỏi mặt đất. Chỗ trước cửa chính được ký hiệu là điểm 97. Chúng tôi bắn vào đó, bắn vào các khu khác, và người Đức đã phải chịu đựng đáng kể. Mà đạn của chúng tôi mà nổ thì to phải biết nhé. Độc thuốc nổ không đã là 50 kg rồi. Tôi đã quan sát thấy một bức tranh như thế này. Nhưng không phải là khi chiếm nó, mà là ngày hôm sau. Chúng tôi chui vào đó – trời đất ạ, - trong đó không thể nào đi nổi. Bên trong nhà có đến hàng ngàn người. Ở phía kia thì tường đổ, tất cả sập xuống cầu thang, trong đố rất nhiều xác, cả quân ta lẫn quân Đức. Chúng tôi đi vòng quanh nhà, đếm được nhiều phát đạn trúng đích, lập biên bản những phát đạn ấy. Sau đó đi vào Bộ Tổng tham mưu của Hitler ngang qua metro, cũng xem metro của họ được chút ít. Nhưng khi chúng tôi đi sang Bộ Tổng tham mưu của Hitler lúc rạng sáng thì một kẻ cuồng tín nào đó nhằm bắn từ súng máy vào chúng tôi từ trên mái nhà. Đó đã là mùng 3 tháng 5 rồi. Chúng tôi vừa chạy vừa ẩn giữa các tòa nhà qua phố, bắn vào phía này thì chúng tôi chạy sang phía kia. Việc vô hiệu hóa kẻ bắn phá này không phải là việc của chúng tôi. Ngoài chúng tôi ra còn hàng trăm người nữa, ở chỗ nào đó có ai đó bị trúng đạn, thế là ai đó bắn trả lại chàng thiện xạ này, nghe tiếng súng rất rõ. Nhưng chúng tôi chẳng có hơi sức đâu để ý đến việc đó – nhiệm vụ chiến đấu của chúng tôi là phải đi tới đó và đếm những phát đạn. Chúng tôi chạy qua phố và vào trong một tòa nhà. Hóa ra đó là Bưu điện thành phố. Cũng có thể không phải là Bưu điện thành phố mà chỉ là bưu cục thôi, ai mà biết được, nhưng tôi cho rằng đó là Bưu điện thành phố, vì tòa nhà ấy lớn lắm. Chúng tôi chạy vào trong nhà. Trong đó có một người đàn ông đứng tuổi, chắc khoảng 60 tuổi rồi, ông ta mặc đồng phục nhân viên bưu điện. Cùng đi với tôi là trung sĩ Strenchenko, anh ta hồi trước học ở trường Đại học Ngôn ngữ nước ngoài ở Kiev. Anh ta nói tiếng Đức rất trôi chảy, và là phiên dịch của chúng tôi. Tôi thì nghe hiểu, nhưng nói thì kém. Mặc dù cũng có học tiếng Đức đấy. Anh ta hỏi: “Đây là cái gì thế nhỉ?” – người ta trả lời là bưu điện thành phố. Trong khi họ nói chuyện thì tôi nghe thấy những tiếng súng trong nhà ở góc xa. Cái gì đấy nhỉ? “Đó là supô- supô, thưa ngài sĩ quan, supô”. Hóa ra là có một sĩ quan người Đức cùng với gia đình đang ở một góc trong nhà bưu điện. Đó là một sĩ quan cảnh sát, hay là gần như NKVD ởLiên Xô, không phải là sĩ quan quân đội. Chúng tôi xách súng tới đó, mở cửa ra, xông vào thì thấy viên sĩ quan ngồi trên ghế, tay buông thõng, máu chảy từ thái dương. Còn trên giường là một người phụ nữ và hai đứa trẻ, anh ta đã bắn họ rồi ngồi vào ghế và tự bắn vào đầu, lúc đó thì chúng tôi vừa đến. Khẩu súng lục còn ở ngay bên cạnh.
Chúng tôi đi tiếp, ghé vào metro. Hóa ra là có cửa vào đấy, nhưng sau đó là nước. Ga metro đầy nước. Trước đó chúng tôi có nghe nói là metro đã bị nổ. Từ đường tàu điện ngầm có các kênh đi khắp thành phố, nhiều kênh lắm. Khi nổ metro thì nước tràn ra khắp những chỗ kênh đi trên đường tàu điện ngầm. Mà cũng không nhất thiết là người Đức cho nổ metro, cũng có thể là quân ta. Nhưng tôi đã đi xa quá rồi. Cần phải kết thúc với Nhà Quốc hội.
- A.D. Các bác đi xem xét văn phòng…
- Phải rồi. Chúng tôi đi xem ở Bộ Tổng Tham mưu của Hitler. Chúng tôi tìm ra theo bản đồ - đến gần đó và thấy một tòa nhà lớn màu xám hai tầng, các cửa sổ rất lớn. Một phần diện tích (khoảng nửa khu phố) là một vườn hoa, hay là một cái sân gì đó, chúng tôi đi tới đó. Gặp hàng rào, người ta không cho chúng tôi vào. Thế là thế nào nhỉ, quân ta, mà lại không cho quân mình vào. Lúc đó có một sĩ quan đi tới. Tôi nói: “Chúng tôi cần xem có bao nhiêu phát đạn bắn trúng đích – chúng tôi làm báo cáo tổng hợp các kết quả chiến đấu của chúng tôi”. Anh ta hỏi: “Thế các anh là ai?” –“Là chiến sĩ pháo binh siêu nặng, đơn vị chúng tôi đã bắn vào Bộ Tổng Tham mưu của Hitler. Bây giờ chúng tôi có nhiệm vụ xem xem kết quả chiến đấu ra sao”. Vào đúng lúc ấy thì thật không may cho chúng tôi là Nguyên soái Giukov cùng các sĩ quan tùy tùng đang ở đó xem xét Bộ Tổng Tham mưu của Hitler. Thế là các cậu trực gác không cho chúng tôi vào. Vậy là chúng tôi đi vòng vòng xung quanh, đếm: chúng tôi thấy các vết gẫy ở tường, mái bị sập, ở trong sân có những phễu đất. Ở trong sân thì có những mái vòm. Hóa ra đó là cái boong-ke của Hitler. Lúc đó chúng tôi đã biết là Hitler đã tự tử chết rồi, nhưng hắn có phải tự tử ở đó không nhỉ? Chúng tôi ghi chép tất cả rồi về lại chỗ đóng quân thì thấy người ta đi đâu đó vào tầng hầm. Họ đi vào đó, chứ không thấy đi ra. Cái gì thế nhỉ, không lẽ họ đi vào metro à? Không, không phải metro, không giống. Chúng tôi đi cùng với họ, hóa ra là có một lối vào bên kia phố, còn đó là lối ra. Tầng hầm của tòa nhà ấy là một kho rượu. Ở đó rất nhiều loại rượu, стоят штабели, дух такой винный mùi rượu đầy. Trời đất ạ! Chúng tôi thấy các đồng đội của chúng tôi đang uống. Thế thì chúng tôi cũng phải thử một chút chứ. CHúng tôi có đèn pin chiến lợi phẩm, bật lên: có một chiến sĩ đang ngồi xã xượi bên một cái hòm. Chẳng rõ cậu ta có vũ khí hay không, mà rượu thì tràn ra một lớp dày, phải đến vài trăm chai rượu bị vỡ. Chúng tôi dẫm lên chai – bị trượt. Lúc đó có ai đó tới gần штабели , và d-r-r-r, bắn một tràng vào mấy cái hòm rượu – thế là rượu chảy ra…tất cả đều cười. Tôi nói “cho chúng tôi thử với”. Chúng tôi lấy một chai, chả biết rượu gì, vì nhãn toàn là tiếng Đức. Anh chàng trung sĩ bèn cầm lấy chai, đọc, hóa ra đó là sâm-panh. Cái chai đó to lắm. Thế là anh ta đập cái cổ chai vào súng. Chúng tôi chẳng có thời gian, mà cũng chẳng có cái gì để mở chai cả mà. Anh ta nói, anh uống thử đi, đây là rượu sâm-panh, tuyệt lắm. Những người khác thì nói là rượu mạnh, nhưng cái này thì lại chua. Chúng tôi uống thử rồi đi tiếp, qua khỏi khu phố ấy.
Người phỏng vấn: Archôm Drabkin
Biên tập: Igor Solodov
Trở về đầu trang
Nina is offline  Xem thông tin cá nhân của thành viên Gửi tin nhắn Yahoo Messenger
[ IP : Logged ]
Xem các bài viết từ:   
Chủ đề phía trước :: Chủ đề kế tiếp

Gửi bài mới   Trả lời cho chủ đề   printer-friendly view    NuocNga.Net -> Tôi người lính Nga Thời gian: [GMT + 7 Giờ]
Tới trang trước  1, 2
Trang 2 trong tổng số 2 trang

 
Chuyển nhanh tới:  
Bạn không thể gửi chủ đề mới
Bạn không thể trả lời các chủ đề
Bạn không thể sửa đổi bài viết của mình
Bạn không thể xoá bài viết của mình
Bạn không thể tham gia các bình chọn
You cannot attach files in this forum
You cannot download files in this forum

Designed by TekCIZ Co., Ltd
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group