| Chủ đề phía trước :: Chủ đề kế tiếp |
| Tác giả |
Nội dung bài viết |
nguyenthuhanh82 Trứng cá hồi - Икра лососёвая


Tuổi: 43 Tham gia từ: 25 May 2005 Bài viết: 458 Đến từ: Hà Nội
|
Gửi: 21-Jul-2005 10:38 am Tiêu đề: LIÊN BANG NGA
|
|
|
ĐỊA LÝ
Vị trí: Bắc Á (phần phía tây rặng Urals đôi khi được gộp vào châu Âu)
Biên giới: toàn bộ 20.139 km, Azerbaijan 284 km, Belarus 959 km, Trung quốc (đông nam) 3.605 km, Trung quốc (nam) 40 km, Estonia 290 km, Phần lan 1.313 km, Georgea 723 km, Kazakhstan 6.846 km, Bắc Hàn 19 km, Latvia 217 km, Lithuania (Kaliningrad Oblast) 227 km, Mongolia 3.441 km, Na uy 167 km, Ba lan (Kaliningrad Oblast) 432 km, Ukraine 1.576 km.
Bờ biển: 37.653 km.
Địa thế: đồng bằng rộng lớn với đồi thấp ở phía tây rặng Urals; rừng tùng bách và lãnh nguyên bạt ngàn ở Siberia; vùng cao và núi non dọc các miền biên giới phía nam.
Núi cao nhất: El'brus (5.642 m, cao nhất Âu châu)
Các sông chính: Ob, Amur
Tài nguyên thiên nhiên: nhiều tài nguyên thiên nhiên với các mỏ lớn gồm dầu, khí đốt và than đá; nhiều khoáng sản chiến lược, gỗ.
Ghi chú: thời tiết khắc nghiệt, địa thế và đường xa là cản trở cho việc khai thác.
Đất sử dụng: - Ct thời vụ: 8%.Ghi chú: đất nông nghiệp chiếm 13% toàn bộ diện tích đất.
Môi trường: - Các vấn đề hiện nay: ô nhiễm không khí do công nghiệp nặng, khói thải từ các nhà máy điện dùng than, và sự vận chuyển trong các thành phố lớn; sông ngòi trong đất liền và các vùng biển duyên hải bị ô nhiễm do công nghiệp và nông nghiệp; nạn phá rừng; đất xói mòn; đất ô nhiễm do dùng hoá chất nông nghiệp không đúng cách; rải rác vài vùng bị nhiễm phóng xạ nặng.
- Nguy cơ thiên tai: sương tuyết vĩnh cửu bao phủ phần lớn Siberia là một cản trở lớn cho sự phát triển. Ghi chú: là quốc gia lớn nhất thế giới về diện tích, nhưng vị trí lại không thuận lợi đối với những tuyến đường biển lớn trên thế giới; diện tích lớn nhưng lại thiếu đất đai và thời tiết phù hợp (hoặc quá lạnh hoặc quá khô) cho nông nghiệp.
DÂN CƯ
Mức tăng trưởng dân số: -0,5%.Sinh suất: 10/1000 dân. Tử suất: 15/1000 dân.Tử
suất trẻ dưới 1 tuổi: 23/1000 trẻ. Mức sinh sản: 1,3 con/phụ nữ. Tuổi thọ toàn dân: 65 năm. Tỷ lệ biết đọc - viết: từ 10 tuổi trở lên có thể đọc viết (1989). - Toàn dân: 98%.
- Nam giới: 99%. - Nữ giới: 97%.
CHÍNH QUYỀN
Khu vực hành chính: 21 nước cộng hoà tự trị, 49 phân khu (oblast). Độc lập: 24 tháng Tám 1991 (trước đó thuộc Liên bang Xô viết). Ngày lễ: Ngày Độc lập, 12 tháng Sáu (1990). Quyền đầu phiếu: từ 18 tuổi, phổ thông.
Hành pháp: - Đứng đầu nhà nước: tổng thống. - Đứng đầu chính phủ: Thủ tướng.
- Nội các: Hội đồng bộ trưởng, do tổng thống bổ nhiệm.
Lập pháp: Quốc hội lưỡng viện.
Tư pháp: Toà án hiến pháp, Toà án tối cao (hình sự, dân sự và hành chính), Toà án cao cấp (kinh tế)
GIAO THÔNG
Đường xe lửa: 158.000 km, gồm 86.800 km cho dịch vụ chuyên chở công cộng (48.900 km với đầu máy diesel, 37,900 km đường xe điện); 71.300 km dành cho công nghiệp (30 tháng Sáu 1993).
Đường bộ: - Toàn bộ: 893.000 km. - Trải nhựa: 677.000 km.
Thuỷ đạo nội địa: 100.000 km.
Cảng: biển: St. Petersburg, Kaliningrad, Murmansk, Arkangel'sk, Novorossiysk, Vladivostok, Nakhodka, Magadan, Tiksi, Vanino, Petropavlovsk, etc; nội địa: Astrakhan, Kazan', Khabarovsk, Samara, Moscow, Rostov, Volgograd.
Phi trường: 75.
Viễn thông: Nga đang liên doanh với nước ngoài để đẩy nhanh tốc độ hiện đại hoá hệ thống viễn thông; dịch vụ viễn thông giới hạn là một bất lợi lớn cho nền kinh tế, nhất là trên phương tiện giao dịch quốc tế; 24.400.000 máy ĐT (20.900.000 ở vùng đô thị và 3.500.000 ở vùng quê; 15.400.000 ở nhà riêng), 164 máy ĐT/1000 dân, số đơn đăng ký lắp đặt máy ĐT năm 1992 không được giải quyết là 11.000.000); dịch vụ quốc tế với một hệ thống không đủ dùng gồm vệ tinh, hữu tuyến, các trạm tiếp âm vi ba và cáp biển cũ kỹ; tổng đài Moscow thực hiện hầu hết các dịch vụ viễn thông quốc tế; đài phát sóng: 1.050 AM/FM/SW (phủ sóng trên 98,6% lãnh thổ), 7.183 TV; các trạm vệ tinh mặt đất: INTELSAT, EUTELSAT (Moscow), INMARSAT, Orbita, Intersputnik.
KINH TẾ
Tổng quát: Liên bang Nga, một quốc gia rộng lớn giàu tài nguyên thiên nhiên, dân số có trình độ giáo dục cao, và cơ sở công nghiệp đa dạng, tiếp tục trải qua những khó khăn lớn khi chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung cũ sang nền kinh tế thị trường hiện đại. Chính phủ của tổng thống Yel'tsin đã bước vào nền kinh tế thị trường bằng cách giải phóng hầu hết giá cả, cắt giảm mạnh chi tiêu quốc phòng, thống nhất tỷ giá hối đoái, và đưa vào một chương trình tư hữu hoá đầy tham vọng. Nhưng nhiều trật tự cũ vẫn tồn tại và tổng Yel'tsin gặp phải sự chống đối mạnh mẽ dành cho những biện pháp sâu rộng hơn như cắt giảm bao cấp đối với những ngành công nghiệp xưa cũ. GDP giảm 12% năm 1993 so với 19% năm 1992. Sản lượng công nghiệp năm 1993 giảm 16%. Sản xuất nông nghiệp giảm 6%. Thất nghiệp leo thang từ 1993 nhưng vẫn thấp theo tiêu chuẩn Tây phương: khoảng 1,4% lực lượng lao động (578.000 đầu năm 1993 tới khoảng 1 triệu vào cuối năm). Bộ trưởng lao động Nga nói rằng con số thực có lẽ gần 4 triệu. Theo các thống kê chính phủ, mức lương trung bình thực vẫn cố định. Tuy nhiên, một phần lớn dân số, nhất người già và dân cư vùng xa xôi, cảm thấy phúc lợi của mình đang giảm đều. Sự chênh lệch giữa lợi tức của người giàu và người nghèo tiếp tục gia tăng, phản ánh thu nhập cao của các giám đốc xí nghiệp và những người làm trong khu vực tư nhân mới phát triển. Chính phủ cố thu hẹp khoảng cách lợi tức bằng cách tăng lương cho công nhân quốc doanh, chủ yếu là giáo viên và chuyên gia y tế. Các dữ liệu của chính phủ có lẽ đã hơi cường điệu tình hình khó khăn, vì có nhiều người Nga bổ sung lợi tức của mình bằng cách làm đêm ngoài giờ hoặc buôn bán trao đổi hàng hoá và dịch vụ, những hoạt động kinh tế thường không được đưa vào báo cáo. Tính đến cuối năm 1993, khoảng 35% xí nghiệp vừa và lớn của nhà nước đã được bán đấu giá, trong khi số nông trại tư nhân tăng thêm 86.000, đạt tổng số 170.000, kết quả là 6% đất nông nghiệp đã được tư hữu hoá. Ổn định tài chính vẫn là một thách thức đối với chính phủ. Mức lạm phát 27% đầu năm 1993 giảm xuống 13% vào cuối năm 1993 sau bao biện pháp khắc khổ gồm cả bỏ trợ cấp bánh mì, hoãn trả lương, tăng lãi suất, từng bước huỷ bỏ tín dụng ưu đãi của Ngân hàng Trung ương dành cho các doanh nghiệp và khu vực. Mậu dịch năm 1993 với các nước ngoài khối Xô viết cũ thặng dư 16 tỷ USD, so với 6 tỷ năm 1992. Moscow đã chặn đứng được sự xuống dốc của xuất khẩu, hậu quả do đoạn giao với các bạn hàng trước đây, sản lượng giảm, và nổ lực thất thường khi hoà nhập vào mạng giá cả thế giới. Doanh thu do ngoại thương - từ dầu, khí đốt, và các nguyên vật liệu khác tăng nhẹ. Vào giữa năm 1993, nợ nước ngoài của Nga là 81,5 tỷ USD. Tiền chuyển ra ngoại quốc vẫn còn là một vấn đề nghiêm trọng với hàng tỷ dollar tài sản do những người Nga đang ngụ cư ở nước ngoài làm chủ. Tài sản nhà nước, với độ tuổi gấp đôi tài sản của phương Tây, tiếp tục xuống cấp do bảo quản kém và ít xây dựng mới. Nước Nga cần nhiều năm nữa để có thể khai thác đúng mức nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân lực của mình.
Xuất khẩu: dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ, khí đốt, gỗ và sản phẩm gỗ, kim loại, hoá chất, đủ loại hàng công nghiệp dân dụng và quân sự.
Nhập khẩu: máy và thiết bị, hoá chất, hàng tiêu dùng, thịt, đường, sản phẩm kim loại bán thành phẩm
Bạn hàng: Âu châu, Bắc Mỹ, Nhật, các nước Thế giới thứ ba, Cuba
Công nghiệp: đủ loại công nghiệp khai mỏ và chế biến cung ứng than đá, dầu, khí đốt, hoá chất, kim loại, mọi dạng chế tạo máy móc từ máy xay xát tới máy bay công nghệ cao và tàu không gian; đóng tàu, thiết bị vận chuyển đường bộ và hoả xa; thiết bị viễn thông; máy nông nghiệp, máy kéo và thiết bị xây dựng; thiết bị phát điện và truyền dẫn điện; dụng cụ khoa học và y tế; hàng tiêu dùng có độ bền.
Nông nghiệp: ngũ cốc, củ cải đường, hạt hướng dương, thịt, sữa, rau quả; do vị trí ở miền bắc nên không trồng được chanh, bông vải, trà, và các hoa màu khác thuộc khí hậu ấm.
Một số chính sách thương mại mới của Liên bang Nga
- Chính phủ Nga tiếp tục nâng mức thuế xuất khẩu dầu mỏ từ 41,6 USD/tấn lên 69,9 USD/tấn. Mức thuế mới này áp dụng từ 1/8/2004. Đây là mức thuế quy định cho dầu mỏ xuất khẩu cao nhất từ trước đến nay. Chính phủ Nga định kỳ điều chỉnh mức thuế này căn cứ theo động thái giá dầu trên thị trường thế giới. Dự trữ ngoại tệ của LB Nga gần đây tăng mạnh, và hiện đạt trên 90 tỷ USD, cũng một phần nhờ thu loại thuế này.
- Từ 01/08/2004 Hải quan Nga áp dụng mức giá indicative (để tham khảo cho việc xác định trị giá hải quan) đối với cà phê rang nhập khẩu là 3,5 USD/kg. Hiệp hội các nhà chế biến cà phê Nga đang kháng nghị quyết định này và cho rằng mức giá này cao hơn thực tế từ 1,5 đến 2 lần và sẽ làm giảm khoảng 70% nhập khẩu công khai, chính ngạch cà phê vào Nga (các nhà nhập khẩu sẽ chuyển sang nhập lậu).
- Ngày 04/08/2004 Tổng thống Putin ký sắc lệnh phê duyệt Danh mục các xí nghiệp mang tính chiến lược đối với nước Nga. Danh mục này bao gồm 518 xí nghiệp quốc doanh và 546 xí nghiệp cổ phần trong đó Nhà nước có cổ phiếu và tham gia quản lý để đảm bảo lợi ích chiến lược quốc gia về an ninh, quốc phòng, y tế, văn hóa, giáo dục.
Trong số các xí nghiệp quốc doanh thuộc Danh mục này có thể kể đến Trung tâm khoa học-sản xuất vũ trụ quốc gia mang tên Khrunhichev M.V., Nhà máy “Salut” Matxcơva, Tập đoàn kinh doanh vũ khí “Rosoboronexport”, Hãng “Mosfilm”, Công ty vận tải quốc gia “Russia”, Công ty phát thanh và truyền hình toàn Nga, Tập đoàn chế tạo máy bay “MIG”.Trong số các công ty cổ phần thuộc Danh mục trên có thể nêu một số như sau: Hãng hàng không “Aeroflot”, Công ty cổ phần hàng không “Sukhôi”, Tổ hợp hàng không “Ilushin” sản xuất máy bay IL, Công ty “ALROSA”, Tập đoàn “Transneft”, Tập đoàn “GASPROM”, Tập đoàn dầu khí “Rosneft”, Tập đoàn tên lửa vũ trụ “Energia” mang tên Korolov, Công ty đường sắt Nga, Hệ thống năng lượng thống nhất toàn Nga “EES”, Kênh 1 Đài truyền hình Nga, Tổ hợp chế tạo máy bay Tupolev (sản xuất máy bay TU).
Liên bang Nga - Một đối tác truyền thống đầy tiềm năng
Liên bang Nga, phục hồi sau khủng hoảng
Sau khi Liên Xô (cũ) bị đổ vỡ, nước Nga bước vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX với một nền kinh tế ốm yếu và bước vào giai đoạn tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế -tài chính đã chạm đáy vào năm 1998. Bắt đầu từ năm 1999, đặc biệt là năm 2000, tình hình đã thay đổi kể từ khi ông V.Putin trở thành Tổng thống mới của nước Nga.
Tốc độ tăng GDP năm 1999 đã đạt 4,8% , lần tăng trưởng thứ hai sau hàng chục năm bị sút giảm (sau khi tăng 0,8% vào năm 1997). Năm 2000 đạt 6% . Nền kinh tế Nga bắt đầu phục hồi tốc độ tăng trưởng với những thành tích làm yên lòng người dân và gây bất ngờ cho các nhà đầu tư nước ngoài. Năm 2001, trong khi tăng trưởng kinh tế nhiều nước và toàn cầu bị sút giảm mạnh, thì kinh tế Nga vẫn tăng 5,5%, với quy mô đạt mức 300 tỷ USD, bình quân đầu người đạt 2078 USD, cao gấp 5 lần VN. Lượng vốn đầu tư tăng khá, trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt khoảng 5,2 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2000. Kim ngạch xuất khẩu của Nga năm 2000 đạt 104,8 tỷ USD, tăng khá cao so với các năm trước; bình quân đầu người đạt 726 USD, cao g p 3,6 lần mức bình quân của VN. Tuy nhiên, tổng kim ngạch xu t khẩu của Nga mới chiếm 1,7% thế giới, còn thấp xa so với nhiều nước (Mỹ, Ðức, Nhật Bản, Pháp, Anh, Canada, Trung Quốc, Italia, Hà Lan, Hồng Kông, Bỉ, Hàn Quốc, Xingapo, Ðài Loan, Tây Ban Nha).
Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2000 là 49,1 tỷ USD. Ðáng lưu ý, xuất siêu năm 2000 lên đến 55,7 tỷ USD, lớn thứ 2 thế giới chỉ sau Nhật Bản, đứng cao hơn nhiều nước, trong khi nhiều nước khác nhập siêu lớn (Mỹ, Anh, Tây Ban Nha,. ..).
Một kết quả tích cực khác là ngân sách Nhà nước đã đạt mức thặng dư khá. Tổng thu đạt 1.127,6 tỷ Rúp, tổng chi 954,1 tỷ Rúp, bội thu 173,5 tỷ Rúp, bằng 15,4% tổng thu. Dự trữ vàng và ngoại tệ đạt 50 tỷ USD, cao g p đôi mức cuối năm 2000. Nhờ vậy, Nga đã đủ khả năng thanh toán các khoản nợ nước ngoài và giữ ổn định tỷ giá đồng Rúp...
Như vậy, sau 10 năm dao động, nền kinh tế Nga đã có xu thế phát triển tốt, bắt đầu được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Mỹ đã chính thức công nhận Nga là quốc gia kinh tế thị trường. Các chuyên gia còn cho rằng kinh tế Nga đã trở thành điểm nóng thứ 3 trong kinh tế toàn cầu sau Trung Quốc, Än Ðộ. Dự đoán tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới r t khả quan: năm 2002 tăng trên 4,4%, năm 2003 tăng 4,9%, năm 2005 tăng trên 5,6%. Ðây là dự đoán có cơ sở bởi tài nguyên rất phong phú, có trữ lượng lớn và có ưu thế về khoa học kỹ thuật.
Quan hệ đầu tư, thương mại và du lich Nga - Việt
Liên bang Nga nói riêng và Liên Xô (cũ) nói chung có quan hệ với VN từ nhiều năm trước. Cách mạnh Tháng Mười Nga và cuộc chiến thắng phát xít trong Ðại chiến thế giới thứ hai đã giúp cho VN giành thắng lợi trong cách mạng Tháng Tám năm 1945, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, giành lại hoà bình trên nửa nước và sự giúp đỡ to lớn sau đó đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước.
Liên Xô nói chung và Liên bang Nga nói riêng đã là nơi viện trợ, đầu tư lớn nhất và cũng là thị trường xuất, nhập khẩu lớn nhất của VN. Liên Xô và Liên bang Nga cũng là nơi đào tạo hàng triệu kỹ sư, tiến sỹ, công nhân kỹ thuật cho VN và hiện có khá nhiều cộng đồng người VN sinh sống và làm việc tại đây.
Việt Nam đối mới, mở cửa đúng vào lúc Liên Xô gặp khó khăn và bị đổ vỡ. Liên bang Nga tách ra nhưng gặp khó khăn triền miên, nên đầu tư và buôn bán với VN bị sút giảm đột ngột.
Như vậy, nếu từ 1997 trở về trước, đầu tư trực tiếp của Liên bang Nga vào VN, tổng số dự án thì nhiều, nhưng do chủ yếu là những dự án nhỏ, nên tổng lượng vốn đăng ký mới còn ít. Năm 1998, mặc dù chỉ với 4 dự án nhưng tổng số vốn đã tăng lên gấp bội. Những năm sau đó, cả về số dự án, cả về số vốn nói chung còn ít.
So với tổng số đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào VN tính từ 1988 đến tháng 10/2002 (4.215 dự án, 42.688,9 triệu USD vốn đăng ký, 20.138,1 triệu USD vốn pháp định), thì Liên bang Nga chiếm 1,8% số dự án, chiếm 3,8% tổng số vốn đăng ký, chiếm 4,8% vốn pháp định và có quy mô vốn đăng ký bình quân 1 dự án cao hơn gấp đôi mức bình quân chung. Liên bang Nga đứng thứ 9 trong các nước và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào VN. Nếu tính cả các dự án Vietsovpetro thì số dự án và tổng số vốn đăng ký và số vốn pháp định còn cao hơn nữa.
Trong các dự án đầu tư trực tiếp của Nga vào VN, nổi bật nhất là Xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt - Xô (Vietsovpetro) - nơi được đánh giá là một trong 10 công ty dầu khí trên thế giới có doanh lợi cao nhất, sớm thu hồi được vốn đầu tư.
Như vậy, quan hệ thương mại giữa Liên bang Nga và Việt Nam có 3 điểm đáng lưu ý.
Thứ nhất, quy mô xuất khẩu và nhập khẩu giữa 2 nước đều còn rất nhỏ cả về kim ngạch, cả về tỷ trọng so với tổng kim ngạch của VN.
Thứ hai, tỷ trọng trong tổng số nhìn chung giảm không những so với trước năm 1990 mà còn giảm so với cả năm 1992, 1993.
Thứ ba, nhập khẩu luôn luôn lớn hơn xuất khẩu, có nghĩa là trong quan hệ thương mại với Liên bang Nga, VN luôn luôn ở thế nhập siêu; nhập siêu ngày một lớn cả về kim ngạch, cả về tỷ lệ.
Nếu so sánh với các nước và vùng lãnh thổ có quan hệ buôn bán với VN, thì năm 2001:
Xuất khẩu sang Nga đứng thứ 20 (sau Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Singapore, Australia, Ðài Loan, Ðức, Anh, Pháp, Hàn Quốc, Irắc, Philippines, Hà Lan, Bỉ, Malaysia, Thái Lan, Hồng Kông, Indonesia, Italia).
Nhập khẩu từ Liên bang Nga đứng thứ 11 (sau Singapore, Nhật Bản, Ðài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Hồng Kông, Malaysia, Mỹ, Ðức).
Như vậy, quy mô và thứ bậc trong quan hệ thương mại giữa Nga và VN đã bị sút giảm mạnh so với trước kia; mấy năm nay đã tăng, nhưng tăng chậm. Quy mô này thấp xa so với quan hệ trong những năm trước kia, thấp xa so với tiềm năng và thế mạnh của 2 nước vốn có nhiều thuận lợi về con người, thị hiếu, giá cả và có truyền thống quan hệ trong nhiều năm...
Trong điều kiện hiện nay, việc tìm nguồn vốn đầu tư và thị trường tiêu thụ là 2 việc lớn về kinh tế của nước ta. Cùng với việc đẩy mạnh quan hệ với các đối tác hiện có cũng như tìm kiếm những đối tác mới, thì việc "nối lại" với các đối tác truyền thống, trong đó có Nga là rất quan trọng. Hơn nữa, Liên bang Nga đang trên đà phục hồi tăng trưởng làm tăng nhu cầu nhập khẩu và đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài; quan hệ giữa 2 nước sau những chuyến thăm hữu nghị, ký kết giữa những người đứng đầu Nhà nước cũng như các bộ, ngành, doanh nghiệp... đã mở ra việc khôi phục và phát triển quan hệ đầu tư, thương mại Nga - Việt.
GDP của Nga 4 tháng đầu năm 2004 có nhịp độ tăng trưởng rất cao - gần 8%. Liên bang (L Nga đang cố gắng khống chế lạm phát ở mức 10%, nhờ đó tăng thu nhập thực tế của dân chúng ở mức tăng tương ứng. Giá cả hàng hóa nói chung trong tháng 4/2004 giảm 0,7% so với mức tháng 3/2004, nhưng giá hàng nông sản thực phẩm lại tăng 0,8%, trong đó giá hàng rau quả tăng 1%. LB Nga cũng đang có kế hoạch giảm thuế VAT thêm 5% trong năm 2004, tức giảm từ 18% hiện nay xuống còn 13%.
Dự trữ ngoại tệ của LB Nga đầu tháng5/2004 đã lên tới gần 85 tỷ USD, chủ yếu nhờ yếu tố giá dầu mỏ tăng mạnh và Nga tăng cường mức khai thác và bán dầu ra thị trường thế giới. Riêng việc điều chỉnh mức đánh thuế dầu thô xuất khẩu đã mang lại cho ngân sách Nga gần 100 triệu USD hàng tháng.
LB Nga tiếp tục xuất siêu trong quý I/2004 ở mức 18,8 tỷ USD so với 15,3 tỷ USD cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu của Nga trong 3 tháng đầu năm đạt 37,5 tỷ USD tăng 20,8% so với cùng kỳ năm 2003; nhập khẩu quý I/2004 đạt 18,8 tỷ USD tăng 18,6%.
Với việc 10 nước thành viên Trung và Đông Âu gia nhập EU, LB Nga vừa gặp một số thuận lợi, nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với một số thách thức kinh tế và mậu dịch. Cụ thể là thuế nhập khẩu của 10 nước thành viên mới của EU đối với Nga sẽ giảm từ 9% xuống 4%, có lợi cho xuất khẩu của Nga. Mặt khác, do chưa phải là thành viên WTO nên Nga chưa có được sự đảm bảo về mức độ bồi hoàn với những loại thuế sẽ tăng sau này.
Thoả thuận với EU về những biện pháp đặc biệt cho giai đoạn quá độ, theo đó EU nới lỏng các biện pháp chống phá giá đối với các mặt hàng xuất khẩu từ Nga như nitrat amônia, kali, dây cáp thép. Ngoài ra EU cũng tuyên bố bãi bỏ hạn chế đối với nhập khẩu năng lượng điện và nhiên liệu tự nhiên từ LB Nga và tăng hạn ngạch thép từ Nga cho năm 2004 lên 438 ngàn tấn, như vậy tổng hạn ngạch thép từ Nga vào EU năm 2004 là 1,2 triệu tấn.
LB Nga đang hy vọng sẽ đạt được thỏa thuận tăng hạn ngạch bán lúa mỳ sang EU để lấy lại mức xuất khẩu lúa mỳ năm 2002 là gần 2 triệu tấn/năm.
Về chính sách thuế, hải quan, tiền tệ, quản lý XNK trong vòng hơn 2 tuần qua (kể từ báo cáo cuối tháng 4 lại nay) chưa có thay đổi gì đáng kể, vì toàn bộ bộ máy Chính phủ Nga đã chờ Tổng thống Putin nhậm chức, giải thể Chính phủ về mặt hình thức, chỉ định lại Thủ tướng và lập lại nội các mới. Ngày 12 tháng 5, Đuma Quốc gia đã bỏ phiếu chấp thuận Ông Fradkov M.E làm Thủ tướng.
Chọn cách kinh doanh tại Nga
Theo số liệu của Tổng cục hải quan Việt Nam, hiện nay Việt Nam đang nhập siêu trong trao đổi thương mại với Nga. Năm 2002, Việt Nam nhập khẩu 500 triệu USD trong khi xuất khẩu sang thị trường Nga chỉ là 187 triệu USD. Tuy nhiên, con số này chưa phản ánh chính xác thị trường vì chưa tính tới xuất khẩu tiểu ngạch của Việt Nam sang Nga.
Ngày 23-6, tại TP Hồ Chí Minh, các tham tán thương mại đã gặp gỡ nhiều doanh nghiệp tại địa phương và các tỉnh phía nam. Trong dịp này, nhiều doanh nghiệp đã bày tỏ quan tâm tới thông tin về thị trường Nga. Theo đánh giá từ Bộ Thương mại, các năm gần đây quan hệ cấp cao giữa hai nhà nước đã được tăng cường, quan hệ thương mại Việt - Nga đã có những bước phát triển mới. Song có thể thấy rằng các doanh nghiệp Nga thành công nhiều hơn trong việc chiếm lĩnh thị trường Việt Nam, chưa kể tới các dự án đầu tư.
Doanh nghiệp Việt Nam cần thông tin gì?
Riêng trong lĩnh vực Thương mại, có nhiều mặt hàng đã có tốc độ tăng trưởng đáng kể và có vị trí tương đối lớn trong toàn bộ kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam như phân bón, sắt thép, ô-tô. Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam chưa thâm nhập được nhiều vào thị trường Liên bang Nga, đặc biệt trong các mặt hàng mũi nhọn xuất khẩu truyền thống của Việt Nam như hàng may mặc, giày dép, cao-su, cà-phê, rau quả và thủ công mỹ nghệ...
Hiện các doanh nghiệp Việt Nam đang xuất khẩu sang Nga khoảng 50,8 triệu USD hàng dệt may, 212.000 tấn gạo, 25.000 tấn dầu ăn, 16 triệu USD mỳ ăn liền, 4.000 tấn hạt tiêu, 7.500 tấn cao-su, 12 triệu USD giày dép, 8,5 triệu USD hàng rau quả, ngoài ra là chè và hàng nhựa. Tuy nhiên, theo Bộ Thương mại, muốn xuất hàng vào Nga, các doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm đến nhiều thông tin cần thiết. Thí dụ như các hàng tiêu dùng nhập khẩu vào Nga muốn lưu thông phải có giấy chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng Nhà nước Liên bang Nga. Với hàng thực phẩm phải có giấy chứng nhận vệ sinh dịch tễ do Cục vệ sinh dịch tễ Liên bang Nga cấp.
Về các loại thuế, hàng nhập khẩu muốn được lưu thông hợp pháp trên thị trường Liên bang Nga phải hoàn chỉnh các thủ tục hải quan sau khi đã nộp xong thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô-tô con, đồ uống có cồn, các loại xì gà và thuốc lá và các loại phí hải quan. Trong quá trình bán lẻ phải nộp thuế bán hàng 5%. Phí hải quan phải trả tại Nga bằng đồng rúp trên 0,1% trị giá hàng nhập khẩu cùng với 0,05% bằng ngoại tệ theo tỷ giá công bố của ngân hàng. Dịch vụ phí hải quan cho công ty làm dịch vụ do các bên thỏa thuận song theo thông lệ không thấp hơn 300 USD cho một tờ khai. Thuế giá trị gia tăng tính chung cho các mặt hàng nhập khẩu ở mức 20% trị giá nhập khẩu trừ một số mặt hàng thực phẩm như thịt và các sản phẩm từ thịt, sữa và các sản phẩm từ sữa, trứng và sản phẩm trứng, dầu thực vật, bơ thực vật, đường, muối, ngũ cốc, bột mỳ và các sản phẩm từ mỳ, cá và các sản phẩm từ cá (trừ một số loại) rau. Hàng dành cho trẻ em thì được tính 10% hoặc miễn thuế do chính phủ ban hành.
Về thuế nhập khẩu, các mặt hàng như thịt và sản phẩm thịt, hàng thủy sản và thủy sản chế biến, cây cảnh và hoa, rau quả và rau quả chế biến, nguyên liệu hàng mây tre lá, mỡ và bơ động thực vật, cà-phê, chè, gạo, sản phẩm từ các loại bột, hạt có dầu, dược liệu, các loại nước chấm, tương, súp, mì ăn liền, thuốc lá, các loại khoáng chất, muối, lưu huỳnh, xi-măng, thuốc chữa bệnh, cao-su, gỗ và sản phẩm gỗ, hàng cói, tơ tằm nguyên liệu, thảm, hoa và quả nhân tạo hoặc làm bằng thủ công, hàng từ đá, thạch cao, hàng gốm sứ, hàng thủy tinh, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng thủ công nghiệp của Việt Nam sẽ được hưởng chế độ ưu đãi bằng 75% biểu thuế.
Khó khăn trong thanh toán chưa gỡ được
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Chí Tâm, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Nga, vấn đề thanh toán qua ngân hàng tại Nga vẫn là một khó khăn. Hệ thống ngân hàng của Nga sau khủng hoảng hồi những năm 1998 vẫn có những khó khăn trong việc cho mở L/C. Tại Nga, các doanh nghiệp lớn không nhiều, chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhưng các doanh nghiệp loại này không thể đáp ứng được các yêu cầu và điều kiện của các ngân hàng Nga, nhất là các ngân hàng có uy tín vốn có các điều kiện ngặt nghèo về bảo lãnh và thế chấp. Mặc dù Ủy ban liên chính phủ Nga - Việt đã đặt ra vấn đề này và đã lập ra một bộ phận bàn về vấn đề thanh toán nhưng chưa có lối ra. Bản thân Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB) đã mở thử một khoản tín dụng trị giá 20 triệu USD cho Ngân hàng Nga vay với lãi suất ưu đãi dành cho các doanh nghiệp Nga muốn nhập khẩu hàng Việt Nam. Nhưng theo ông Tâm thì hai năm qua, chưa có một đồng USD nào trong số tiền này được giải ngân cũng vì các doanh nghiệp lớn thì không vay, còn doanh nghiệp nhỏ muốn vay thì đáp ứng không đủ các điều kiện. Hiện các cơ quan hữu trách đã đặt vấn đề để số tín dụng này cho các doanh nghiệp Việt Nam nhưng thành lập tại Nga có thể vay. Nhưng sau khi xem xét kỹ các doanh nghiệp này cũng từ chối vay vì thấy nhiều bất cập. Ông Tâm nói: "Chúng tôi rất mong có một ngân hàng Việt Nam sang mở chi nhánh tại Nga hay liên doanh với một ngân hàng Nga để tạo thuận lợi cho thanh toán cho các doanh nghiệp Việt Nam. Ðây cũng là một điều tốt vì hiện nay các ngân hàng ở Nga đều có thị trường rộng và có tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, mới đây mới có vài ngân hàng Việt Nam sang xem xét thị trường và chưa có quyết định nào về việc này. VCB thì tiếp tục mở văn phòng đại diện tại Nga". Ông Tâm cho biết, tại Nga hiện đang tồn tại các mô hình kinh doanh sau đây mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể xem xét để làm theo. Một là công ty ở bên ngoài mở một công ty con ở Nga và công ty con này có nhiệm vụ mua hàng, bán hàng, thanh toán và gửi tiền về nước cho công ty mẹ. Hai là mở kho ngoại quan để đưa hàng đến chân thị trường và chờ có yêu cầu thì thực hiện mua bán. Ba là đưa nguyên phụ liệu vào thị trường, liên doanh với người Nga hay mở cơ sở sản xuất và tiêu thụ tại chỗ. Tuy nhiên, nếu làm theo cách này cần phải quan tâm tới chi phí quảng cáo rất lớn. Một cơ sở mỳ ăn liền Việt Nam tại Nga mỗi năm phải bỏ ra cả triệu USD cho chi phí quảng cáo. Còn nếu liên doanh với người Nga, ban đầu có thể có lãi nhưng sau đó dễ dẫn tới kiện cáo vì chia chác không sòng phẳng. Chính vì vậy mà các doanh nghiệp Việt Nam cần cân nhắc kỹ các mô hình làm ăn để chọn ra mô hình thích hợp nhất với mình tại thị trường Nga. Ông Tâm cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam muốn đưa hàng vào Nga cũng nên quan tâm tới các sản phẩm và hàng hóa Trung Quốc vì đó là loại hàng hóa cạnh tranh cao. Và một vấn đề khác là có thể đầu tư vào hàng dệt may vì đây là thị trường phi quota trong khi ngành công nghiệp dệt may tại chỗ đã suy yếu. Các doanh nghiệp Việt Nam có thể khai thác các nhà xưởng cũ của Nga, tuy nhiên khi sử dụng lao động thì phải cân nhắc vì lao động ở đây đòi lương khá cao.
Hệ thống thuế quan
Thuế suất nhập khẩu
Từ năm 1995, thuế nhập khẩu của Nga dao động từ 5 đến 30%, với mức thuế suất trung bình là 11,5 đến 15 %. Ngoài ra, thuế Giá trị gia tăng ( VAT) được áp dụng đối với hầu hết tất cả sản phẩm nhập khẩu, và thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng đối với một số sản phẩm nhất định. Thuế VAT, tính trên giá nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu, hiện tại trung bình là 20%. Một số sản phẩm nhập khẩu và mặt hàng cho trẻ em ( như tã lót..) chịu thuế suất VAT 10%. Năm 2000, Chính phủ Nga đã phê chuẩn việc sửa đổi hệ thống thuế quan, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2001.
Theo luật thống nhất thuế quan mới, mức thuế suất tập trung vào 4 nhóm hàng chính (nguyên liệu thô, bán thành phẩm, thực phẩm và thành phẩm) , với thuế suất từ 5 đến 20% đối với hầu hết tất cả các mục hàng đánh thuế. Cuộc cải tổ đã cho thấy xu hướng giảm thuế suất nhập khẩu, mà theo Chính phủ Nga công bố là từ mức trung bình 11,4% xuống 10,7%.
Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, việc thống nhất thuế lại dẫn đến thuế suất tăng đối với một số mặt hàng như đường thô ( 30%), thịt gia cầm và ô tô ( 25%).Chính phủ Nga cũng hy vọng, việc thống nhất thuế quan sẽ loại bỏ gian lận thương mại và cải thiện việc thu thuế.
Thuế nhập khẩu đã giảm vai trò là nguồn thu ngân sách trong những năm gần đây . Tuy nhiên, chúng vẫn giữ tầm quan trọng khi chiếm tới 5,9% tổng thu ngân sách trong năm 2000.Trong suốt năm 2000, Chính phủ vẫn tiếp tục kiểm soát chặt chẽ sản xuất rượu, trong đó có việc hạn chế nhập khẩu rượu, đánh thuế xuất khẩu, dán tem và tăng thuế tiêu thụ đặc biệt. Những biện pháp kiểm soát này đã góp phần tăng thu ngân sách cho Chính phủ Nga.
Mặc dù việc thống nhất thuế quan đã giảm thuế suất rượu từ 25 xuống 20%, những loại rượu chưng cất khác vẫn ở mức 2 euro/1 lít. Riêng ethyl alcohol là 4 euro/ 1 lít. Ngoài ra, thuế suất đối với mặt hàng rượu vẫn dao động từ 40% đối với rượu bourbon lên tới 200% đối với rượu vodka nhập khẩu.Để biết thông tin chi tiết, có thể tham khảo trang web của Tổng cục Hải quan Nga : www.custom-house.ru
Định giá hải quan
Giá trị hải quan thông thường là giá CIF. Phí hải quan là 0,15 % giá này. Phí hải quan được thanh toán bằng ngoại tệ mạnh hoặc đồng rúp tại tỷ giá tại thời điểm đó. Theo luật hải quan, quá trình làm thủ tục hải quan không được chậm hơn 1 tháng. Nếu hàng hoá bị Hải quan Nga không cho thông quan thì luật quy định, chúng sẽ được gửi trả lại nước xuất xứ.
Bộ chứng từ xuất nhập khẩu
Nhà nhập khẩu phải hoàn thành việc khai báo hải quan đối với bất kỳ mặt hàng nhập khẩu nào. Nhà nhập khẩu cũng phải trình giấy chứng nhận xuất xứ và giấy chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm tại cơ quan Hải quan.
Nhà xuất khẩu cũng phải điền vào tờ khai hải quan xuất khẩu và nếu cần cũng phải trình giấy phép xuất khẩu thích hợp. Ngoài ra, quy định kiểm soát tiền tệ cũng yêu cầu một Giấy đảm bảo đối với cả việc xuất khẩu và nhập khẩu để đảm bảo rằng ngoại tệ mạnh sẽ quay trở về nước. Các quy định trên cũng để đảm bảo rằng ngoại tệ mạnh trong nhập khẩu được thanh toán đúng với hàng hoá đã nhập và được định giá chính xác.
Tạm nhập
Các công ty nước ngoài được Chính phủ Nga tín nhiệm được miễn thuế hải quan đối với một số mặt hàng tạm nhập. Điều này áp dụng đối với những hàng hoá nhập khẩu vì để sử dụng trong công ty và thời gian tạm nhập chỉ kéo dài 1 năm. Các công ty khác không được tín nhiệm của Chính phủ bị đánh thuế 3%/ tháng tổng chi phí . ( Trong trường hợp này, việc định giá dựa trên giá của sản phẩm cộng với tất cả thuế nhập khẩu)
HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN CỦA NGA
Giấy phép nhập khẩu
Thông thường, giấy phép nhập khẩu do Bộ Phát triển Kinh tế và Thương mại Nga và những cơ quan chi nhánh cấp và do Tổng cục hải quan kiểm soát. Giấy phép đối với vũ khí, phương tiện tự vệ do Bộ Nội vụ Nga cấp.Những mặt hàng sau cần giấy phép:
- Ethyl alcohol
- rượu Vodka
- TV 14, 21 và 25-inch
- Vũ khí chiến đấu
- Phương tiện tự vệ
- Chất nổ
- Thiết bị quân sự và mật mã
- Nguyên liệu phóng xạ và chất thải
- Chất độc và ma tuý
- Kim loại quý
- Hợp kim
- Đá
-Thảm
- Sản phẩm thuốc lá
- Thuốc men
Để biết được việc cấp giấy phép đối với từng mục hàng cụ thể, nhà nhập khẩu phải liên hệ với Phòng cấp giấy phép của Bộ Phát triển Kinh tế và thương mại.
Về giấy phép nhập khẩu rượu cất, điều 21 Luật Liên bang được thông qua tháng giêng năm 1999 đã quy định thêm là nhà nhập khẩu phải có tối thiểu 125.000 lít rượu cất hàng năm mới được cấp giấy phép. Tháng 9/1999, Tổng cục hải quan Nga cũng ban bố một sắc lệnh hạn chế các cửa khẩu nhập thịt gia cầm vận chuyển tới Nga từ bất kỳ nước nào không có đường bộ trực tiếp với Nga. Sắc lệnh này đã được thực thi vào tháng 2/2000. Như vậy, nước xuất khẩu nào không có biên giới đất liền với Nga phải sử dụng 30 cảng biển đã quy định.
Dán nhãn
Quy định dán nhãn mới dối với sản phẩm không phải là thực phẩm chính thức có hiệu lực ngày 1/7/1998.
Các công ty cũng nên kiểm tra lại những quy định này trước khi vận chuyển hàng hoá. Có thể tìm hiểu thông tin tại Uỷ ban tiêu chuẩn quốc gia Nga - Gosstandart ( http://www.gost.ru/sls/gost.nsf)
Tiêu chuẩn
Chính phủ Nga không công nhận nhiều tiêu chuẩn quốc tế như hệ thống ISO-9000. Thay vào đó, nhiều hàng hoá nhập khẩu có mục đích bán hoặc sử dụng tại thị trường Nga phải có giấy chứng nhận tuân thủ tiêu chuẩn do Uỷ ban tiêu chuẩn quốc gia Nga cấp (Gosstandart). Gosstandart tiến hành kiểm tra và chứng nhận những sản phẩm theo tiêu chuẩn của Chính phủ Nga. Những cơ quan khác cũng tham gia vào việc chứng nhận, trong đó có Bộ Nông nghiệp ( đối với thực phẩm ), Bộ Y tế ( đối với thiết bị y tế và dược phẩm), Uỷ ban Viễn thông Quốc gia ( đối với thiết bị viễn thông và dịch vụ viễn thông) và Bộ Khai thác mỏ và thanh tra công nghiệp ( đối với những thiết bị trong ngành khai thác mỏ, dầu lửa và gas).
Gosstandart chấp nhận quyết định kiểm tra của Underwriters Laboratories, IECEE (đối với thiết bị điện ) and và IECQ ( đối với linh kiện điện).
Giấy chứng nhận tiêu chuẩn chỉ có hiệu lực trong vòng 3 năm và phải gửi kèm theo chuyến hàng. Có thể chấp nhận bản copy chứng nhận tiêu chuẩn nếu chúng có dấu niêm phong gốc của công ty xuất khẩu nước ngoài nắm giữ giấy chứng nhận xuất xứ. Các nhà bán lẻ cũng bắt buộc phải có giấy chứng nhận của tất cả những sản phẩm nhập khẩu có trong cửa hàng của họ, nếu vi phạm có thể bị phạt tới 10.000 USD.
Chứng nhận
Các nhà xuất khẩu nước ngoài nhận thấy, việc cấp giấy chứng nhận là vấn đề đáng quan tâm tại Nga. Hiện, Chính phủ Nga cũng đang tranh cãi về vấn đề này. Các công ty nước ngoài thường phàn nàn về sự mập mờ của tiêu chuẩn và quá trình chứng nhận và chi phí quá cao của quá trình cấp giấy phép. Chính phủ Nga cũng đang chịu áp lực trong việc thống nhất những tiêu chuẩn của Nga và tiêu chuẩn quốc tế, vì thế Nga mới có thể gia nhập Tổ chức Thương mại quốc tế.
Việc cải tiến hệ thống này có thể sẽ được tiến hành trong những năm tới, xuất phát từ những cuộc đối thoại giữa những doanh nhân quốc tế và Chính phủ Nga và ủy ban khoa học của nước này. Chính phủ Nga cảm thấy cần thiết phải có sự bảo vệ của Chính phủ đối với an toàn của người tiêu dùng. Tuy nhiên, cần có ngân sách và sự kiểm soát chặt chẽ mới có thể đạt được những kết quả mà công chúng Nga chấp nhận và có thể mở cửa đón nhận lợi ích thương mại và nguồn công nghệ mới từ bên ngoài. Ngày 31/7/1998, Luật sửa đổi về chứng nhận sản phẩm dịch vụ của Nga đã chính thức có hiệu lực. Luật cho phép nhà sản xuất chỉ phải nộp giấy chứng nhận tuân thủ đối với một số sản phẩm nhất định (200 sản phẩm). Hiện nay, xấp xỉ 30% trong tổng số 22.000 tiêu chuẩn đã tương thích với tiêu chuẩn quốc tế và nhiều điểu vướng mắc trong tiêu chuẩn và thủ tục cấp chứng nhận đã được loại bỏ.
Tuy nhiên, cơ chế cấp giấy chứng nhận hiện nay vẫn là rào cản đối với sản phẩm nhập khẩu, đặc biệt trong ngành sản xuất thiết viễn thông, thiết bị và nguyên liệu xây dựng, thiết bị lọc dầu và gas.Thời gian cấp chứng nhận có thể kéo dài từ 12 đến 18 tháng. Thậm chí, sau khi trải qua thủ tục dài dòng như thế này, giấy chứng nhận chỉ có hiệu lưc trong vòng 3 năm, chứ không phải trong suốt vòng đời sản phẩm. Việc tự cấp giấy chứng nhận là không thể.
Hỗ trợ xuất khẩu
Hướng dẫn chinh sách công nghiệp của Chính phủ Nga nhấn mạnh và việc khuyến khích xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Thực tế, đã có chương trình tài trợ cho những dự án này ,chủ yếu tập trung vào việc hỗ trợ cho những ngành sản xuất hàng xuất khẩu thay vì tài trợ cho xuất khẩu. Ngoài ra, ngành đường sắt nhà nước cũng cung cấp cước vận tải thấp hơn đối với một số mặt hàng xuất khẩu nhất định ( thép và xi măng). Tháng 12/ 1999, ông Putin đã đề xuất thành lập cơ quan tín dụng xuất khẩu nhưng chưa có hành động nào được tiến hành cho đến cuối năm 2000.
Nga cũng không có tài trợ xuất khẩu nào rõ rệt cho các sản phẩm nông nghiệp mặc dù, trong các cuộc đàm phán gia nhập WTO, Nga tỏ ý sẽ tiến hành tài trợ cho xuất khẩu hàng nông sản trong tương lai.
Các vấn đề luật pháp liên quan đến XNK
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Ngoài việc bảo hộ những tác phẩm đã đăng ký bản quyền và quyền ghi âm, Chính phủ Nga đang có những cố gắng vượt bậc trong việc xây dựng một khung pháp lý đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Từ năm 1992, Nga đã áp dụng luật đối với thương hiệu, patăng, bảo vệ chip bán dẫn, phần mềm máy tính và bản quyền. Nga hiện là thành viên của Công ước Paris, Công ước bản quyền toàn cầu à một số công ước về sở hữu trí tuệ đa phương khác.
Năm 1995, Nga đã ký tham gia cả Công ước Tác phẩm văn học và nghệ thuật và Công ước ảnh ghi âm Geneva. Nga cũng đang trong tiến trình gia nhập WTO và khi trở thành thành viên mới của tổ chức này, Nga cũng phải đáp ứng tất cả những yêu cầu của Hiệp ước liên quanđến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ( Hiệp định TRIPS).
Tuy nhiên, vi phạm bản quyền ở Nga cũng khá phổ biến giống như ở nhiều nước đang phát triển hoặc nước có nền kinh tế chuyển đổi khác.
Hàng rào dịch vụ
Luật Liên bang về '' Ngân hàng và hoạt động của ngân hàng năm 1996'' cho phép các ngân hàng nước ngoài thiết lập chi nhánh tại Nga. Luật này cho phép Ngân hàng Nhà nước Nga áp đặt mức trần khối lượng vốn của nước ngoài trong tổng số vốn ngân hàng tại Nga, hiện tại ở mức 12%. Từ năm 1997, Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các ngân hàng nước ngoài nắm giữ tối thiểu là 10 triệu ECU ( khoảng 11,5 triệu USD) trong vốn và 75% tổng số nhân viên và 50% ban lãnh đạo phải là người quốc tịch Nga. Giám đốc những ngân hàng chi nhánh này cũng phải thành thạo tiếng bản địa.
Trong lĩnh vực bảo hiểm, một luật mới có hiệu lực tháng 10/1999 đã cho phép hầu hết tất cả các ngân hàng bảo hiểm nước ngoài hoạt động tại Nga, nhưng vẫn hạn chế mức vốn và nghiêm cấm hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ. Luật còn có một điều khoản đặc biệt, cho phép 4 công ty nước ngoài không phải chịu những hạn chế này.
Hệ thống thanh toán
Hệ thống ngân hàng Nga
Tính đến đầu năm 2000, hệ thống ngân hàng của Nga đã trải qua một quá trình cải tổ sâu sắc và số vốn tăng 2,8 lần so với cùng kỳ năm trước đó. Trước đó, năm 1995, số lượng ngân hàng đã giảm từ 2.600 xuống còn 1.320. Khi Chính phủ phá giá đồng rúp, tài sản của các ngân hàng Nga giảm từ 88,7 tỷ USD xuống còn 34,4 tỷ USD.Tuy nhiên, việc tư nhân hoá hệ thống ngân hàng vẫn chỉ bằng mức 75 % so với mức trước khi xảy ra khủng hoảng. Nguyên nhân là do vai trò hạn chế của chính phủ trong việc cải tổ cơ cấu ngân hàng Nga sau khủng hoảng.
Các công ty nước ngoài cũng như các nhà nhập khẩu có thể lựa chọn 3 loại ngân hàng ở Nga: chi nhánh của ngân hàng nước ngoài, ngân hàng Nhà nước của Nga hoặc một loại các ngân hàng thương mại tư nhân của Nga.
Ngân hàng nước ngoài:
Hầu hết các doanh nghiệp nước ngoài đều thích giao dịch với ngân hàng nước ngoài hơn bởi vì tính ổn đinh và khả năng cung cấp dịch vụ chất lượng cao. Cho đến gần đây, những ngân hàng này chủ yếu tập trung vào thị trường tài chính sinh lợi nhuận cao và không chú trọng đến những hoạt động thương mại của ngân hàng. Tuy nhiên, do nhu cầu lớn từ các doanh nghiệp đã khuyến khích họ đa dạng hoá dich vụ trong những giao dịch ngoại thương và hoạt động thương mại của ngân hàng. Nhiều ngân hàng nước ngoài hiện nay vẫn cung cấp những dịch vụ thương mại đều đặn trong đó có mở tài khoản, chuyển khoản, ngoại hối, cho vay, thanh toán chứng từ, thư tín dụng và tài trợ thương mại. Một số ngân hàng còn thiết lập tài khoản cá nhân cho những người không có quốc tịch Nga và nhân viên của các lãnh sự quán.
Ngân hàng quốc doanh:
Một số tổ chức tài chính nhà nước đang nắm vai trò các ngân hàng thương mại và đem lại danh tiếng và sự ổn định cho ngành ngân hàng. Sberbank là ngân hàng dạng này lớn nhất tại Nga vì đó là ngân hàng tiết kiệm cho công dân Nga. Sau cuộc khủng hoảng tháng 8/1998, ngân hàng đã nhận được những tài khoản cá nhân từ các ngân hàng mà Chính phủ giải thể. Vì vậy, ngân hàng Sberbank có một hệ thống chi nhánh toàn quốc khoảng 50 chi nhánh và hơn 2000 đại lý nắm trong tay hàng triệu tài khoản cá nhân và thương mại. Sberbank đang nhanh chóng mở rộng khoản cho vay thương mại của mình và chứng tỏ là một ngân hàng thương mại thành công tại Nga.
Vneshtorgbank là một ngân hàng quốc doanh hoạt động thành công. Ban đầu được thành lập để tiến hành giao dịch thương mại quốc tế, Ngân hàng này hầu như bị Ngân hàng trung ương Nga kiểm soát. Sau cuộc khủng hoảng, ngân hàng đã tập trung vào các khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Vneshtorgbank đã sống sót qua cuộc khủng hoảng năm 1998 bằng việc tổi thiểu hoá những giao dịch đầu cơ đối với GKO ( một loại chứng khoán ngắn hạn của Liên bang) mà chính vì loại này mà chính phủ đã lâm vào khủng hoảng nợ. Sau cuộc khủng hoảng năm 1998, Ngân hàng đã có trong tay 7.300 doanh nghiệp mới và 7.100 khách hàng bán lẻ mới.
Các ngân hàng thương mại tư nhân của Nga:
Đây là những ngân hàng chuyên cung cấp dịch vụ và là những ngân hàng lớn do các tổ chức tài chính công nghiệp sở hữu. Cuộc khủng hoảng năm 1998 đã có tác động nặng nề đối với những ngân hàng chính của Nga, khiến 15 ngân hàng tư nhân lớn nhất phải đóng cửa và khiến cho những ngân hàng còn lại rơi vào tình trạng suy yếu và cần cơ cấu lại.
Thành phần tích cực nhất trong hệ thống ngân hàng của Nga là nhóm những ngân hàng mới đang ngày càng trở nên lớn mạnh sau năm 1998. Những ngân hàng này sống sót do không đầu cơ vào trái phiếu GKO và bởi vì họ cung cấp những dịch vụ chuyên nghiệp. Những ngân hàng này chuyên về phục vụ khách hàng và tìm ra những giải pháp sáng tạo cho những vướng mắc của doanh nghiệp. Điểm yếu của họ là sự hạn chế trong việc cung cấp những dịch vụ tương đương với những ngân hàng thương mại quốc tế. Ngoài ra, họ thiếu tầm hoạt động trên toàn quốc. 10 ngân hàng hàng đầu này là:
- Ngân hàng Gazprom
-Ngân hàng Dự trữ Quốc gia
- Sobinbank
-Ngân hàng MDM
- Ngân hàng Moscow
- Ngân hàng Mosbusiness
- Mezhprombank
- Avtobank
- Rosbank
- Alfa-Bank.
Kiểm soát ngoại hối
Trong suốt những năm 1990, dòng vốn ngoại tệ chạy ra đã làm suy yếu nền kinh tế Nga. Để đối phó với tình hình, Chính phủ Nga đã tiến hành những biện pháp để chặn dòng vốn và đảm bảo việc chuyển lợi nhuận về nước cho doanh nghiệp nước ngoài.
Nga tiến hành kiểm soát tiền tệ đối với những giao dịch xuất nhập khẩu thông qua hệ thống "passports for deals" ( Giấy đảm bảo). Những giấy đảm bảo này nhằm kiểm soát dòng vốn và kích hoạt tính chuyển đổi của tiền tệ. Hàng hoá xuất khẩu sẽ không được thông quan cho đến khi nhà xuất khẩu trình Giấy bảo đảm. Sau khi giải phóng hàng hoá, ngân hàng có nghĩa vụ kiểm soát thanh toán và đảm bảo rằng việc thanh toán tuân thủ những điều khoản của hợp đồng và tài khoản của nhà xuất khẩu được ghi có.
Thanh toán vốn: Đối với xuất khẩu, luật quy định cần có giấy phép của Ngân hàng Nhà nước Nga ( CBR) khi thanh toán chậm đối với thời hạn thanh toán hơn 90 ngày kể từ ngày xuất khẩu. Giấy phép CBR cũng bắt buộc để phân công trách nhiệm thanh toán của nhà nhập khẩu hay nhà xuất khẩu và việc chuyển nợ cho bên thứ ba. Ngoài ra, giấy phép CBR cũng cần thiết trong việc thanh toán những khoản bồi thường giữa nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu và bên thứ ba. Điều kiện bắt buộc chuyển doanh thu bán hàng: Những cá nhân tiến hành xuất khẩu hàng hoá hoặc dịch vụ phải nộp tất cả nguồn thu ngoại tệ của họ vào một tài khoản chuyển đối tại Nga và sau đó phảo chuyển 75 % sang đồng ruble. Tháng 7/2001, một dự thảo luật mới đã được trình lên Duma nhằm giảm tỷ lệ đổi sang nội tệ của Ngân hàng trung ương từ 75 % xuống còn 50 %. Ngoài ra, còn có kế hoạch giảm xuống còn 23% trong năm 2003 và huỷ bỏ hoàn toàn quy định này trong năm 2004.
Kỹ quỹ đồng rúp đối với nhà nhập khẩu: Các nhà nhập khẩu thanh toán trước bằng ngoại tệ cho hàng hoá nhập khẩu buộc phải ký quỹ một khoản tương tự tại một ngân hàng có thẩm quyền để tiến hành thanh toán trước. Khoản ký quỹ này chỉ được trả lại sau khi nhà nhập khẩu trình bộ chứng từ xác nhận hàng hoá đã vào Nga.
Phương thức thanh toán
Thanh toán trước
Những công ty mới xuất khẩu sang Nga nên yêu cầu thanh toán trước đối với hàng hoá và dịch vụ. Thực tế, đây là quy trình thanh toán đơn giản nhất tại Nga. Các ngân hàng của Nga phát hành thư tín dụng chỉ khi nhà nhập khẩu nước này ký quỹ một tài khoản. Trước cuộc khủng hoảng tài chính năm 1998, các ngân hàng phương Tây chỉ chấp nhận những thư tín dụng như vậy, tuy nhiên ngày nay đã có một số ngân hàng nước ngoài chấp nhận thư tín dụng của nhà nhập khẩu Nga dưới moi trường hợp. Khi một công ty đã thiểt lập quan hệ bền chặt với đối tác Nga, công ty đó có thể mở rộng những khoản tín dụng ngắn hạn nhằm tăng sản lương bán hàng. Tuy nhiên, cần thận trọng khi tiến hành việc này sau khi đã đánh giá cẩn thận mức độ thành công của thương vụ
Đối với một số giao dịch lớn, thanh toán trước từ nhà nhập khẩu Nga là rất cần thiết. Trong những trường hợp này, tín dụng có thể một ngân hàng, một tổ chức tín dụng xuất khẩu, một quỹ nào đó cung cấp. Nếu có thể tiến hành theo phương thức leasing, nhà xuất khẩu có thể yêu cầu thanh toán trước khi giao hàng 3,4 tháng.
Thuê mua (Leasing):
Hiện nay có khoảng 20 ngân hàng của Nga cung cấp dịch vụ factoring. Trong điều kiện thiếu vốn hiện nay của nền kinh tế Nga, leasing đang trở thành một phương thức quan trọng nhất đối với để tài trợ cho xuất khẩu. Tuy nhiên, hiện nay, chỉ có 5% thiết bị nhập khẩu theo phương thức leasing. Những thiết bị trong ngành hàng không, năng lượng, vận tải, dược phẩm, lâm nghiệp, thuỷ sản có chi phí quá cao đối với khách hàng Nga, do đó phương thức leasing trở nên phổ biến.
Hàng đổi hàng và Kỳ phiếu:
Do tính thanh khoản thấp trong nền kinh tế Nga, phần lớn giao dịch được tiến hành trên cơ sở không có tiền mặt. Có thời điểm, những giao dịch hàng đổi hàng ước tính chiếm tới 70 - 80 % của hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, rõ ràng là phương thức này đang nhanh chóng trở nên lỗi thời. Mặc dù giao dịch hàng đổi hàng phức tạp hơn giao dịch tiền mặt, các công ty nước ngoài không nên từ chối phương thức này vì có thể chúng có lợi và giúp công ty giành được thị phần trên thị trường Nga. Đối với giao dịch tiền mặt, các công ty nên cam kết mọi mặt của hợp đồng, như yêu cầu những điều khoản trong hợp đồng phải được thực hiện đúng thời hạn, tuân thủ luật pháp của Nga.
Các công ty Nga hoặc các thể chế chính phủ khi nhập khẩu thường đưa ra veksel ( kỳ phiếu) bằng đồng rúp. Tuy nhiên, các nhà xuất khẩu không nên chấp nhận kỳ phiếu như một phương thức thanh toán trực tiếp. Tuy nhiên, nên dựa vào các ngân hàng Nga hoặc các nhà môi giới veksel như là các nhà trung gian , là những người sẽ chấp nhận rủi ro cuối cùng của kỳ phiếu để đảm bảo rằng họ được thanh toán bằng tiền mặt.
Tài trợ cho nhập khẩu
Nền kinh tế Nga đã có những bước tăng trưởng nhất định sau khi phục hồi từ cuộc khủng hoảng 1998, từ đó kích thích hoạt động cho vay của các tổ chức tài chính, dẫn đến tăng đầu tư trong nước và nước ngoài. Các ngân hàng của Nga gần đây cũng trở nên năng động hơn trong việc tài trợ, cung cấp những dịch vụ như factoring và leasing. Một số ngân hàng đầu tư phương Tây và quỹ liên doanh sau cuộc khủng hoảng 1998 đã nối lại các hoạt động của mình. Ngoài ra, Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Châu âu (EBRD) và một số chương trình tài trợ đa phương và song phương khác đã cung cấp nhiều cơ hội hơn cho các doanh nhân và các nhà đầu tư. Việc sử dụng tài trợ về tài chính vẫn còn hạn chế do nhiều yếu tố như: sự bất cập của luật pháp về thương mại, việc thực thi hợp đồng ngoại thương, quyền sở hữu tài sản, quyền nắm giữ nợ và chứng khoán, những yêu cầu về thực thi hợp đồng.
Hệ thống phân phối bán hàng tại Nga
Các công ty nước ngoài hoạt động ở Nga phải đối đầu với việc phân phối không ổn định, sự cạnh tranh khá gay gắt và không thể dự đoán trước. Mặc dù ngày càng có nhiều các cửa hàng kiểu phương Tây ở một số thành phố lớn, hầu hết việc phân phối được thực hiện thông qua những kênh không chính thức như các kíôt và chợ trời - đặc biệt ngoài Moscow và St. Peterburg. Do đó, việc tận dụng các kênh này chính là chìa khoá thành công của các công ty nước ngoài.
Đối với các công ty Việt Nam thì đã sử dụng kênh phân phối như kiosk và chợ trời từ lâu nay và niều công ty đã phát triển các kênh khác như tiêu thụ qua các siêu thị mới, hệ thống bán lẻ...
Đại lý và các nhà phân phối
Cả những nhà xuất khẩu có kinh nghiệm và không có kinh nghiệm nên duy trì những mối quan hệ cá nhân với các đại lý, phát triển và giữ vững vị trí của họ. Kinh nghiệm cho thấy, một trong những thực tiễn rủi ro nhất là một công ty đại diện đến Nga một hoặc hai lần, chọn một đại lý, mở văn phòng đại diện và sau đó nhanh chóng vận chuyển hàng tới hoặc bán hàng chịu mà không hề có sự bảo đảm thanh toán.
Để thành công, các công ty nước ngoài phải cân nhắc các đại lý phân phối trong khu vực hoặc địa phương. Đối với một số danh mục hàng hoá (hàng thêu ren, thức ăn đóng hộp và đồ uống có cồn), các nhà cung cấp nước ngoài nên chọn lựa một đại lý phân phối nhỏ trong số nhiều đại lý tại Nga. Những đại lý này có thể giúp đỡ những nhà cung cấp nước ngoài bằng việc bày bán sản phẩm của họ trong cửa hàng, xử lý các vấn đề hải quan và chuyên chở và điều hành các chiến dịch quảng cáo.
Hầu hết các nhà phân phối Nga mới hoạt động đều có qui mô nhỏ và hoạt động của họ hạn chế trong vùng Moscow và St. Petersburg hoặc những trung tâm khác của khu vực.
Lập văn phòng đại diện
Hiện nay, đối với mặt hàng thiết bị và hàng tiêu dùng lâu dài, các nhà sản xuất không còn sử dụng những nhà phân phối và thay thế bằng văn phòng đại diện của chính họ tại những thành phố lớn. Sau đó họ bán hàng trực tiếp cho những nhà nhập khẩu Nga, là những người sở hữu hàng hoá ở ngoài Nga (ví dụ như Phần Lan) và nhập khẩu vì lợi ích của mình. Việc này giúp các nhà sản xuất có thể kiểm soát giá cả và phân phối, tránh được các trách nhiệm nộp thuế và hải quan. Điều này giúp giảm bớt những rủi ro của môi trường kinh doanh trong nước.
Trong khi đó, các công ty nước ngoài khác quyết định rằng danh tiếng nhãn hiệu sản phẩm của họ có thể bị ảnh hưởng nếu họ không tuân thủ những quy định hải quan của Nga. Trên thực tế, một số công ty Mỹ đã gặp rắc rối do hoá đơn giả và những sai sót khác do trung gian của họ gây ra. Các công ty chọn hình thức bán hàng trực tiếp có thể sẽ thu được lợi nhuận ít hơn vì chi phí thuê đất và thuế cao hơn. Tuy nhiên, đối với những công ty quyết tâm xây dựng một vị trí mạnh ở Nga, chính sách này có thể được coi như một khoản đầu tư có hậu.
Chiến lựơc thâm nhập thị trường Nga
Quảng cáo và xúc tiến thương mại
Các phương tiện truyền thông như tivi, đài, báo và bảng quảng cáo rất thông dụng ở Nga. Hầu hết các công ty quảng cáo lớn của phương Tây đã có mặt tại Nga. Các công ty quảng cáo của Nga cũng đang phát triển và trình độ nghiệp vụ của họ cũng ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên cho đến nay, các qui định về quảng cáo của Nga vẫn chưa được hoàn chỉnh. Những thay đổi đang được xem xét trong Luật Thuế Doanh nghiệp có thể làm cho chi phí quảng cáo chiếm tới 5% tổng chi phí vào đầu năm 2001.
Ấn phấm quảng cáo
Có nhiều cơ hội để đến với khách hàng thông qua các ấn phẩm có tiếng của Nga. Đất nước này có số lượng lớn các ấn phẩm chuyên sâu về từng lĩnh vực cụ thể, và các tờ báo kinh tế viết bằng tiếng Nga thường có những mục dành cho quảng cáo rất tốt. Nga cũng có một số tờ báo và tạp chí trong những lĩnh vực nói chung và được phát hành trên toàn quốc.
Ở Moscow và St. Peterburg có những tuần báo viết bằng tiếng Anh và tiếng Đức chất lượng cao là những phương tiện hữu hiệu để tiếp cận những cơ quan chính phủ và doanh nghiệp nước ngoài có thu nhập cao.Sau đây là một số ấn phẩm có tiếng của Nga:
- Dengi (Tiền tệ): tuần báo kinh tế, bằng tiếng Nga
- Itogi: tuần báo, tiếng Nga
-Ekspert : tuần báo, tiếng Nga
-Vlast : tuần báo, tiếng Nga
-Profil: tuần báo, tiếng Nga
-Ko _________________ tui là băng giá - ko ai làm tui tan chảy được đâu |
|
| Trở về đầu trang |
|
 |
|
|
Bạn không thể gửi chủ đề mới Bạn không thể trả lời các chủ đề Bạn không thể sửa đổi bài viết của mình Bạn không thể xoá bài viết của mình Bạn không thể tham gia các bình chọn You cannot attach files in this forum You cannot download files in this forum
|
|